Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





Hai nhạc sĩ tiên phong của Tân nhạc Việt

LÊ THƯƠNG & DƯƠNG THIỆU TƯỚC








LÊ THƯƠNG (8/1/1914 - 17/9/1996)


Lê Thương tên thật là Ngô Đình Hộ, sinh ngày 8/1/1914 tại phố Hàm Long, Hà Nội, trong một gia đình bố mẹ là những nghệ sĩ cổ nhạc. Một bài viết khác cho rằng Lê Thương sinh tại Nam Định. Chi tiết về cuộc đời ông rất ít được nhắc tới. Ông sống tại quê ngoại có dòng sông Thương thơ mộng mà ông rất thích thú nên ông lấy nghệ danh “Lê Thương” (Lê là họ ngoại). Ông là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu nhất cho thời kỳ tiền chiến của tân nhạc Việt Nam. Theo hồi ký của Phạm Duy, Lê Thương sinh năm 1913, là nhạc sĩ thế hệ đầu tiên, tiền bối của Phạm Duy, Văn Cao và là một thầy tu nhà dòng hoàn tục.

Năm 1935, Lê Thương hành nghề dạy học ở Hà Nội, sau đó ông chuyển về dạy ở Hải Phòng. Lê Thương cùng Hoàng Quý, Hoàng Phú (Tô Vũ), Phạm Ngữ, Canh Thân tụ họp thành một nhóm ca nhạc sĩ trẻ để bắt đầu sáng tác và hát phụ diễn cho những buổi diễn kịch nói của nhóm kịch Thế Lữ tại Hải Phòng, hay theo ban kịch đi hát tại Hà Nội, Vĩnh Yên. Ông và bạn bè cũng là những hướng đạo sinh và hay tổ chức đi cắm trại hay đi hát tại các tỉnh lân cận bằng xe đạp.

Năm 1941, Lê Thương vào miền Nam. Ban đầu ông ở An Hóa, tỉnh Bến Tre, sau đó ông chuyển về sống tại Sài Gòn. Tuy là một nhạc sĩ tài danh, nhưng nghề chính là dạy học. Ông từng là giáo sư Sử Địa, có một thời gian giảng dạy tại một số trường trung học tư ở Sài Gòn. Ông cũng từng là giáo sư Pháp ngữ tại trường trung học Pétrus Ký vào thập niên 60. Lê Thương cũng từng làm công chức ở Trung tâm Học liệu, Bộ QG Giáo dục và là giảng viên Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ thời VNCH.


Âm nhạc

Lê Thương là một trong những nhạc sĩ Việt Nam tiên phong viết tân nhạc với bài Bản đàn xuân. Ngoài Bản đàn xuân, trong thời kỳ ở miền Bắc, Lê Thương còn sáng tác những tác phẩm khác như Tiếng đàn đêm khuya, Một ngày xanh, Trên sông Dương Tử, Thu trên đảo Kinh Châu...

Từ khi vào miền Nam năm 1941, Lê Thương phổ thơ nhiều bài như Lời kỹ nữ (thơ Xuân Diệu), Lời vũ nữ (thơ Nguyễn Hoàng Tư), Bông hoa rừng (thơ Thế Lữ), Tiếng thùy dương (tức Ngậm ngùi thơ Huy Cận) và Tiếng thu (thơ Lưu Trọng Lư)...


Lê Thương là nhạc sĩ tiên phong của nhiều thể loại âm nhạc.

Thời kỳ kháng chiến, ông có soạn một ca khúc rất nổi tiếng Lòng mẹ Việt Nam hay Bà Tư bán hàng nói về một bà mẹ thành phố có các con tham gia kháng chiến. Và bài hát đó là một trong những lý do Lê Thương bị Pháp bắt giam vào khám Catinat cùng Phạm Duy và Trần Văn Trạch năm 1951.

Lê Thương thuộc những người đầu tiên viết truyện ca và đã để lại những bản truyện ca hay nhất như Nàng Hà Tiên, Lịch sử loài người, Hoa thủy tiên... Đặc biệt hơn cả là bộ ba Hòn vọng phu, được xem như một trong những tác phẩm nổi tiếng của tân nhạc Việt Nam. Văn Cao cũng từng thừa nhận ảnh hưởng bởi Lê Thương với phong cách âm nhạc bắt nguồn từ âm nhạc cổ truyền Việt Nam.

Lê Thương cũng là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên viết nhạc hài hước với những bản Hòa bình 48 (phê phán sự mị dân đội lốt hòa bình), Làng báo Sài Gòn (đả kích báo giới bồi bút, bất tài và ham tiền), Đốt hay không đốt (châm biếm máu Hoạn Thư), Liên Hiệp Quốc... Những bản này được nghệ sĩ Trần Văn Trạch trình diễn nhiều lần vào thập niên 1940.

Lê Thương còn đặt lời cho những bản nhạc ngoại quốc ngắn như Nhớ Lào (nhạc Lào), Bông hoa dại tức Ô Đuồng Chăm Pá (nhạc Lào), Lòng trẻ trai (nhạc Hoa Kỳ), Hoa anh đào tức Sakura (cổ nhạc Nhật Bản), Màn Brúc đánh giặc (dân ca Pháp)...

Một thời gian, Lê Thương có cùng nhạc sĩ Lê Cao Phan phụ trách ban nhạc Măng Non cho trẻ em, phát thanh các truyện cổ tích, khúc dân ca, bài ca nhi đồng. Và cùng Nguyễn Xuân Khoát, Lê Thương được xem như những nhạc sĩ mở đầu của dòng nhạc dành cho thiếu nhi với những bản Tuổi thơ, Cô bán bánh, Con mèo trèo cây cau, Thằng bé Tí Non, Ông Nhang bà Nhang, Truyền kỳ Việt sử, Học sinh hành khúc... Nổi tiếng hơn cả là bài Thằng Cuội thường được trẻ em hát trong mỗi dịp tết Trung Thu, mặc dù nhiều người không biết đó là một ca khúc của nhạc sĩ Lê Thương:

Bóng trăng trắng ngà/ Có cây đa to

Có thằng Cuội già/ Ôm một mối mơ

Lặng yên ta nói Cuội nghe/ Ở cung trăng mãi làm chi

Bóng trăng trắng ngà/ Có cây đa to

Có thằng Cuội già/ Ôm một mối mơ...

Ngoài âm nhạc, Lê Thương còn gia nhập vào ban kịch của Thế Lữ vào những năm thập niên 1930, và ban kịch Sầm Giang của Trần Văn Trạch khi ông sống ở Sài Gòn. Lê Thương đã sáng tác ca khúc cho nhiều kịch bản, và viết nhạc phim cho hãng phim Mỹ Vân.

Lê Thương lập gia đình cùng một phụ nữ học ở Pháp về và họ có 9 người con. Ông cũng có hai người tình, người tình đầu là một cô hát ả đào nổi tiếng ở Hà Nội. Người thứ hai là một vũ nữ tại Chợ Vườn Chuối Sài Gòn.

Sau 1975, ông không tham gia hoạt động văn nghệ. Vào thập niên 1990, ông bị mất hẳn trí nhớ và qua đời ngày 17/9/1996 tại Tp. HCM.

Nhạc Lê Thương và Trường ca Hòn Vọng Phu bất hủ với những âm điệu gần gũi âm giai ngũ cung của dân ca Việt Nam và ảnh hưởng của Chinh phụ ngâm khúc. Trường Ca Hòn Vọng Phu đã làm nổi bật tên tuổi của nhạc sĩ Lê Thương trong lịch sử âm nhạc Việt Nam...


Hòn Vọng Phu 1

được ông viết tại Bến Tre, khoảng năm 1943.

Mở đầu bài hát với tiếng trống trận thúc dục:

Lệnh vua hành quân trống kêu dồn/

Quan với quân lên đường

Đoàn ngựa xe cuối cùng/ Vừa đuổi theo lối sông

Phía cách quan xa trường/ Quan với quân lên đường

Hàng cờ theo trống dồn/ Ngoài sườn non cuối thôn

Phất phơ ngậm ngùi bay...

Hòn Vọng Phu 2 tức Ai xuôi vạn lý

ông sáng tác khoảng năm 1946.

Người hóa đá vẫn chờ mong, giai điệu nhạc thật buồn:

Người vọng phu trong lúc gió mưa

Bế con đã hoài công để đứng chờ

Người chồng đi đã bao năm chưa thấy về

Đá mòn nhưng hồn chưa mòn giấc mơ...

...

Có ai xuôi vạn lý, nhắn đôi câu giúp nàng

Lấy cây hương thật quý, thắp lên thương tiếc chàng...


Hòn Vọng Phu 3 tức Người chinh phu về

viết xong năm 1947.

Cuối cùng người chinh phu trở về, nhưng cuộc trở về đã quá muộn màng, ai oán:

...Nhớ cố hương lưu luyến tấc lòng mau dồn chân

Vết bước đi trên phiến đá mòn còn in dấu

Từ bóng cây ngôi mộ bên đường

Từ mái tranh bên đình trong làng

Nguồn sử xanh âm thầm vẫn sống

Bao mối thương vang động trong lòng.



DƯƠNG THIỆU TƯỚC (1915 - 01/8/1995)


Dương Thiệu Tước sinh năm 1915 tại làng Vân Đình, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông. Ông là con quan Bố chánh Dương Tự Nhu, cháu nội của cụ nghè Dương Khuê. Ở giai đoạn phôi thai của nền tân nhạc Việt, trong khi nhiều người mượn những bài hát phương Tây rồi đặt lời Việt cho dễ hát thì ông lại cả gan viết “lời Tây theo điệu ta”. Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước được ghi nhận là một trong những người đặt nền móng cho nền tân nhạc Việt.

Dương Thiệu Tước đánh đàn guitar hawaienne rất giỏi, ông còn là chủ nhân của một cửa tiệm bán đàn ở phố Hàng Gai, Hà Nội và có mở cả lớp dạy đàn. Trong sinh hoạt hằng tuần với các bạn nhạc sĩ tài tử của mình, ông đã sáng tác mấy bài mang những đầu đề bằng tiếng Pháp, như Joie d’aimer (Thú yêu đương), Souvenance (Hồi niệm), Ton Doux Sourire (Nụ cười êm ái của em)... Lời ca của những bài này do Thẩm Bích (anh ruột của Thẩm Oánh) soạn bằng Pháp ngữ. Ông từng tuyên bố: “Nếu đã có nhà văn Việt Nam viết văn bằng tiếng Pháp, thì nhà soạn nhạc Việt Nam cũng có thể viết được những bản nhạc có âm điệu Tây phương” (Báo Việt Nhạc số 5, ngày 16.10.1948)...


Tiếng hát “lá ngọc cành vàng”

Trước khi gặp nhau, Dương Thiệu Tước và Nguyễn Thị Ngọc Trâm (tên thật của Minh Trang) đều xuất thân từ những gia đình “danh gia vọng tộc”. Cô là con gái của quan Tổng đốc Bình Định Nguyễn Hy (sau này ông còn làm Tổng đốc Thanh Hóa, rồi Thượng thư Bộ Hình). Ngọc Trâm còn là cháu ngoại của công chúa Mỹ Luông (còn gọi là Bà Chúa Nhất) - em ruột vua Thành Thái... Ngọc Trâm chào đời năm 1921 trong một nhà hộ sinh nằm ngay trên Bến Ngự (Huế). Như một định mệnh, 25 năm sau, một bài hát bất hủ mang tên Đêm tàn Bến Ngự của một nhạc sĩ tài hoa ra đời mà tên tuổi của ông sẽ gắn liền với cuộc đời của cô bé Ngọc Trâm sau này - ca sĩ Minh Trang - cũng được cho là một trong những ca sĩ tiên phong của làng ca nhạc Việt.

Thời thiếu nữ, ngoài sắc đẹp trời cho, Ngọc Trâm còn sở hữu một giọng hát thiên phú. Những năm học tiểu học ở trường dòng Jeanne d’Arc, rồi trung học ở Lycée Khải Định (Huế) thập niên 1930, tiếng hát của cô làm cho biết bao thầy cô, bạn bè cùng trường ngây ngất. Dĩ nhiên, đó là những bài hát Pháp, bởi lúc đó chưa có bài hát nào mà bây giờ chúng ta gọi là “nhạc tiền chiến”… Năm 1942, sau khi tốt nghiệp tú tài toàn phần (nên nhớ vào lúc đó rất hiếm phụ nữ đỗ đạt như thế), Ngọc Trâm kết hôn với một giáo sư nổi tiếng của đất thần kinh: giáo sư Ưng Quả (cháu nội của Tuy Lý vương Miên Trinh)… Nhưng chỉ mấy năm hương lửa mặn nồng, giáo sư Ưng Quả qua đời trong giai đoạn chuyển mình của đất nước, chế độ phong kiến cáo chung. Lúc này, giai cấp quan lại, thượng lưu không còn được ưu đãi, cuộc sống của họ trở nên khó khăn… Năm 1948, Ngọc Trâm đưa 2 người con vào Sài Gòn dự thi và trúng tuyển vai trò xướng ngôn viên cho Đài phát thanh Pháp Á. Công việc của cô là dịch những bản tin từ tiếng Pháp sang tiếng Việt và đọc những bản tin đó trên làn sóng. Trong những lần dịch tin, Ngọc Trâm thường nghêu ngao những bài hát Việt mới thịnh hành gần đây như Giọt mưa thu, Con thuyền không bến (Đặng Thế Phong, sáng tác năm 1939), Tiếng xưa (1940), Đêm tàn Bến Ngự (1946 của Dương Thiệu Tước)... Hát chơi vớ vẩn thế thôi, vậy mà tiếng hát ấy đã làm cả đài phát thanh ngẩn ngơ. Một hôm, ông Hoàng Cao Tăng - chủ sự Phòng Văn nghệ chợt đề nghị Ngọc Trâm thử hát trên sóng phát thanh một bài. Sau những đắn đo và cả những lời khuyến khích, tiếng hát của… nữ ca sĩ Minh Trang lần đầu tiên gửi đến quý thính giả Đài Pháp Á qua ca khúc Giọt mưa thu của Đặng Thế Phong. Minh Trang hát hay đến nỗi đài phát thanh quyết định trả “cát sê” ngay, không kể tiền lương...

Cũng cần nói thêm, do ngại ngùng nên Ngọc Trâm không dám hát với tên thật mà ghép tên của hai người con (Bửu Minh và Công Tằng Tôn Nữ Đoan Trang) thành nghệ danh (Đoan Trang sau này trở thành nữ ca sĩ Quỳnh Giao ở hải ngoại).

Từ đó, tiếng hát của nữ ca sĩ Minh Trang theo sóng phát thanh của Đài Pháp Á lan tỏa khắp nơi. Năm 1949, chính Thủ hiến Bắc kỳ Nguyễn Hữu Trí gửi công văn mời đích danh ca sĩ Minh Trang tham dự Hội chợ đấu xảo tại Hà Nội. Đây là dịp để các nhạc sĩ hào hoa xứ Bắc kéo nhau đến chiêm ngưỡng nhan sắc của “giọng hát vàng phương Nam”. Và định mệnh đã xuống tay khi trong số những tài tử ấy có mặt Dương Thiệu Tước. Tuy đã có hai mặt con nhưng Minh Trang lúc ấy vẫn giữ được một vẻ đẹp quý phái “chim sa, cá lặn”.


Duyên nợ ba sinh

Đúng 60 năm sau (2009), ở tuổi chín mươi, bà Minh Trang kể lại với nhà thơ Du Tử Lê rằng: “Mặc cho các bạn Thẩm Oánh, Nguyễn Thiện Tơ, Dzoãn Mẫn… lăng xăng, líu lo, rối rít, ông ấy (Dương Thiệu Tước) im lặng từ đầu đến cuối. Chỉ nhìn thôi. Lâu lâu mới mỉm cười. Sự xa cách, lặng lẽ này khiến tôi càng thêm chú ý. Trước khi gặp gỡ, tôi đã từng hát nhạc của ông ấy nên tôi cũng rất ao ước được gặp mặt con người tài hoa này”. Thế rồi “tình trong như đã, mặt ngoài còn e”...

Khi Minh Trang trở lại Sài Gòn, chỉ ít ngày sau nàng nhận được thư tỏ tình của tác giả Tiếng xưa. Có lẽ vẻ lạnh lùng, ít nói của ông khi cùng các bạn vây quanh Minh Trang là do ông tự mặc cảm mình đã có vợ (19 tuổi, ông lập gia đình với bà Lương Thị Thuần, cũng xuất thân từ một dòng họ khoa bảng. Thời đó việc kết hôn thường được các cụ dàn xếp theo truyền thống “môn đăng hộ đối”. Ông bà đã có 3 con gái và 2 con trai). Thế nhưng khi Minh Trang như cánh chim vút bay xa thì ông không thể dối lòng được nữa, ông thật sự bị “hớp hồn” bởi vẻ đẹp và giọng hát của nàng. Những cánh thư liên tiếp qua lại giữa hai miền. Những ca khúc ông sáng tác trong giai đoạn này do Nhà xuất bản Tinh Hoa (Huế) xuất bản, ông không còn đứng tên đơn lẻ nữa, mà ghi “Nhạc và lời: Dương Thiệu Tước - Minh Trang”.

Đó là những ca khúc bất hủ, tiêu biểu như Ngọc Lan, Bóng chiều xưa, Buồn xa vắng, Khúc nhạc dưới trăng, Ôi quê xưa, Vui xuân, Đêm tàn bến Ngự, Ơn nghĩa sinh thành, Tiếng xưa, Chiều (thơ Hồ Dzếnh)…

Nữ ca sĩ Minh Trang cũng kể lại rằng, trước khi nhận lời cầu hôn của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, chính bà đã bay ra Hà Nội để gặp người vợ trước của ông này và thông báo quyết định của hai người. “Có thể không có một người phụ nữ thứ hai, nhất là ở thời đó, hành xử như tôi. Nhưng đó là tôi, cách của tôi: tự tin và tự trọng!” - bà nói.


Dương Thiệu Tước với bài “Ngọc Lan”

Tại Hưng Yên, xảy ra mối tình đầu giữa chàng và nàng Vi Kim Ngọc, con gái Tổng đốc Vi Văn Định. Gia đình quan Bố chánh Dương Tự Nhu bèn đem trầu cau sang đính ước. Vì chàng chỉ có bằng Diplôme, thi rớt Tú tài, nên nhà gái chê bai, muốn ông đi làm quan, ông không chịu, tiếp tục với âm nhạc, nhà gái bèn từ hôn.

Rồi họ Vi chuyển từ Hưng Yên sang làm Tổng đốc Thái Bình. Xa mặt cách lòng, đúng lúc ấy thì “tiến sĩ Pháp Nguyễn Văn Huyên” có sự gặp gỡ. Và rồi, ngày 14/02/1936 nàng lên xe hoa về nhà chồng. Lúc ấy nàng 20 tuổi còn chàng 21 tuổi. Ông Huyên là Bộ trưởng giáo dục chính phủ P.V.Đồng trong 30 năm. Chàng buồn, bèn đem tâm hồn mình viết thành bản nhạc “Ngọc Lan” bất hủ. Như vậy, chàng yêu Vi Kim Ngọc năm 1934, tan vỡ năm 1935.

Khi chàng chính thức chung sống với Minh Trang ở Sài Gòn, chàng mới đem ca khúc Ngọc Lan ra phổ biến năm 1953. Ngẫu nhiên “Ngọc Lan” cũng được hiểu là sáng tác dành cho bà, vì do tên Ngọc Trâm của bà. Nếu ai có bản gốc của Nhà xuất bản Tinh Hoa (1953) sẽ thấy tất cả những chữ Ngọc Lan trong bài hát đều được viết hoa, để phân biệt đây là tên người chứ không phải là tên loài hoa:


Bài hát: Ngọc Lan (Dương Thiệu Tước)

Ngọc Lan, giòng suối tơ vương, mắt thu hồ dịu ánh vàng.

Ngọc Lan, nhành liễu nghiêng nghiêng,

Tà mấy cánh phong, nắng thơm ngoài song.

Nét thắm tô bóng chiều, giấc xuân yêu kiều,

nền gấm cô liêu.

Gió rung mờ suối biếc, ý thơ phiêu diêu!

Ngón tơ mềm chờ phím ngân trùng, mạch tương lai láng.

Dáng tiên nga giấc mơ nghệ thường lỡ làng.

Ngọc Lan, giọng ướp men thơ, mát êm làn lụa bông là.

Ngọc Lan, trầm ngát thu hương.

Bờ xanh bóng dương phút giây chìm sương.

Bông hoa đời ngàn xưa tới nay.

Rung nhạc đó đây cho đời ngất ngây,

Cho tơ trùng đờn hờ phím loan.

Thê lương mây nước sắt se cung đàn.

Ôi tâm hồn nghệ sĩ chìm trong sương thắm.

Nhớ phút khuê ly, hôn mê tuyết hoa

Ngọc Lan. Mờ mờ trong mây khói,

men nồng u ấp duyên hững hờ

Dần dần vương theo gió,

tơ lòng dâng bao cùng thương nhớ.

Sau năm 1975, bà Minh Trang và các con sang định cư ở Mỹ. Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước ở lại và qua đời vào ngày 01.8.1995 tại Tp.HCM, thọ 80 tuổi. Sau khi chồng chết, bà Minh Trang trả lời báo chí: “Ngọc Lan” là D.T. Tước viết cho bà (Ngọc Trâm) hay Vi Kim Ngọc (mối tình đầu với D.T.Tước)… Bà mất ngày 17.8.2010 tại California (Mỹ), thọ 90 tuổi.


LỜI KẾT


Lê Thương là một trong những nhạc sĩ Việt Nam tiên phong về nhiều lãnh vực:

- Viết tân nhạc với bài Bản đàn xuân

- Nhạc sĩ mở đầu của dòng nhạc dành cho thiếu nhi

- Sáng tác ca khúc cho nhiều kịch bản và viết nhạc phim

- Thành lập nhóm ca nhạc sĩ trẻ, cùng bạn bè

- Là một trong những hướng đạo sinh đầu tiên của phong trào hướng đạo VN

- Viết Trường ca đầu tiên. Đó là Trường ca Hòn Vọng Phu, được xem như một trong những tác phẩm nổi tiếng của tân nhạc Việt Nam.


Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và nhạc sĩ Lê Thương được ghi nhận là những người đặt nền móng cho nền Âm nhạc Cải cách (tức Tân nhạc) Việt, cả hai thuộc thế hệ nhạc sĩ tiên phong của nền tân nhạc đầu tiên.



(Tham khảo: Sách báo – Internet)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 09.9.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004