Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (45)



Tín Ngưỡng Dân Gian Thời Lý







T heo tác giả Ngô Đức Thịnh. Tín ngưỡng mang tính dân tộc, dân gian. Không có tổ chức chặt chẽ như tôn giáo.

Tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào cái "siêu nhiên" hay gọi là "cái thiêng" cái không nhìn thấy.

Niềm tin vào "cái thiêng" thuộc về bản chất con người. Nó ra đời và tồn tại, phát triển cùng với con người và loài người. Nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống Tâm linh của con người. Niềm tin thiêng liêng cùng với đời sống vật chất, đời sống xã hội, tư tưởng, đời sống tình cảm, tồn tại trong mỗi người

Tín ngưỡng bao gồm các huyền thoại, thần tích, truyền thuyết, gắn với sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật dân gian. Trong tín ngưỡng có sự hòa nhập giữa thế giới Thần linh và con người.

Tín ngưỡng dân gian thời Lý

Tín ngưỡng dân gian Việt từ nhiều đời, luôn thấm đẫm trong đời sống Tâm linh thời Lý. Những phong tục ngày càng được mở rộng như thờ cúng tổ tiên, thờ cúng các anh hùng dân tộc, người có công với làng, với nước…

Triều đình nhà Lý đã dựng đền "Đồ đại thành hoàng", đền Đồng Cổ, đền thờ Hai Bà Trưng, đền thờ Phùng Hưng, đền thờ Phạm Cự Lạng ở kinh thành Thăng Long. Nâng lễ thờ Thần Phù Đổng Thiên Vương lên tầm quốc gia.

Triều đình nhà Lý hồn hậu tham gia vào đời sống tín ngưỡng với dân gian qua các tục thờ nguyên thủy "vạn vật hữu linh".

Tín ngưỡng dân gian đa Thần

Người Việt cổ dựa vào tự nhiên để sinh tồn. Việc thờ cúng các vị Thần Tự nhiên (Nhiên Thần) gần gũi với họ. Việt Nam lại là ngã ba đường nơi giao lưu của nhiều tộc người, của nhiều luồng văn minh, trở thành một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng.

Trước sự du nhập của các tôn giáo ngoại lai, người Việt luôn cải biến hòa hợp với tư tưởng, tôn giáo bản địa. Các tôn giáo phát triển, nhưng tín ngưỡng dân gian Việt vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống Tâm linh của người dân.

Một người vừa có thể đến chùa, vừa có thể đến phủ. Miễn là việc ấy mang lại sự thanh thản về Tinh thần.

Tín ngưỡng Phồn thực

Để duy trì và phát triển sự sống, ở những người sinh sống bằng nghề nông cần mùa màng tươi tốt. Con người được sinh sôi nảy nở. Tổ Tiên Việt đã xây dựng được triết lý Âm- Dương. Tín ngưỡng phồn thực là Âm- Dương hòa hợp (phồn nghĩa là nhiều, thực nghĩa là nảy nở). Tín ngưỡng phồn thực người Việt thờ cơ quan sinh dục của cả nam lẫn nữ, thờ hành vi giao phối.

Thờ sinh thực khí là hình thái đơn giản của tín ngưỡng phồn thực. Nó phổ biến ở hầu hết các nền văn hóa nông nghiệp trên thế giới.

Tục thờ sinh thực khí của người Việt cổ, tìm thấy ở trên các cột đá có niên đại hàng ngàn năm trước CN. Nó còn được đưa vào các lễ hội. Lễ hội ở làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh) có tục rước cặp sinh thực khí bằng gỗ vào ngày 6 tháng giêng, sau đó chúng được đốt đi, lấy tro than chia cho mọi người để lấy may.

Tín ngưỡng phồn thực Việt, thờ hành vi giao phối. Thể hiện việc chú trọng đến mối giao cảm của Văn hóa nông nghiệp, trồng cấy, sinh nở, nó đặc biệt phổ biến ở vùng Đông Nam Á. Các hình nam nữ đang giao phối được khắc trên mặt Trống Đồng tìm được ở làng Đào Thịnh (Yên Bái), có niên đại 500 năm TCN.

Hội đền Hùng, vùng đất Tổ lưu truyền điệu múa "tùng dí", thanh niên nam nữ cầm trong tay các vật biểu trưng cho sinh thực khí nam và nữ, cứ mối tiếng trống "tùng" thì họ lại "dí" hai vật đó lại với nhau. Phong tục "giã cối đón dâu" cũng là một biểu hiện cho tín ngưỡng phồn thực. Chày và cối là biểu tượng sinh thực khí nam và nữ. Một số nơi còn vừa giã cối (rỗng) vừa hát giao duyên.

Trống đồng- biểu hiện của tín ngưỡng Phồn thực

Các nhà nghiên cứu khẳng định. Vai trò của tín ngưỡng phồn thực lớn tới mức ngay cả chiếc Trống Đồng, một biểu tượng sức mạnh của quyền lực, cũng là biểu tượng toàn diện của tín ngưỡng phồn thực:

Hình dáng của Trống Đồng phát triển từ cối giã gạo

Cách đánh trống theo lối cầm chày dài mà đâm lên mặt trống mô phỏng động tác giã gạo

Tâm mặt trống là hình Mặt Trời biểu trưng cho sinh thực khí nam xung quanh là hình lá uốn lượn, biểu trưng cho sinh thực khí nữ.

Tín ngưỡng sùng bái Tự nhiên

Điều đặc biệt của tín ngưỡng Việt Nam là một tín ngưỡng đa thần và âm tính (trọng tình cảm, trọng nữ giới). Có giả thuyết cho rằng đó là do ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ thời xưa tại Việt Nam. Các vị thần ở Việt Nam chủ yếu là nữ, do ảnh hưởng của tín ngưỡng phồn thực, nên các vị Thần đó không phải là các cô gái trẻ đẹp như trong một số tôn giáo, tín ngưỡng khác mà là các bà mẹ, các Mẫu.

Thờ Tam phủ, Tứ phủ

Tam phủ là danh từ để chỉ ba vị thánh thần: Bà Trời (hay Mẫu Thượng Thiên), Bà Chúa Thượng (hay Mẫu Thượng Ngàn), Bà Nước (hay Mẫu Thoải). Tứ phủ gồm ba vị Mẫu trên cộng thêm Mẫu Địa phủ. Các Mẫu cai quản những lĩnh vực quan trọng nhất của một xã hội nông nghiệp. Ngọc Hoàng, Thổ Công, Thổ Địa, Hà Bá. Thần Mặt Trời là vị thần quan trọng nhất, có mặt trên tất cả các Trống Đồng. Việc thờ Trời ở Việt Nam có trước ở Trung Quốc.

Thờ Tứ pháp

Tứ pháp là danh từ để chỉ các Bà Thần Mây- Mưa-Sấm- Chớp, đại diện cho các hiện tượng tự nhiên có vai trò quan trọng trong xã hội nông nghiệp. Khi Phật giáo vào Việt Nam, các nữ thần này được biến thành Tứ pháp với truyền thuyết về Phật Mẫu Man Nương.

Pháp Vân (Thần Mây) thờ ở chùa Bà Dâu (chùa Dâu). Pháp Vũ (Thần Mưa) thờ ở chùa Bà Đậu. Pháp Lôi (Thần Sấm) thờ ở chùa Bà Tướng (chùa Phi Tướng). Pháp Điện (Thần Chớp) thờ ở chùa Bà Dàn.

Bốn ngôi chùa thờ Tứ Pháp đều ngự xung quanh vùng chùa Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh. Chùa Dâu, ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, có từ thời Thái thú Sĩ Nhiếp cai trị Giao Chỉ.

Ảnh hưởng của Tứ Pháp ở Việt Nam rất lớn, nhiều lần triều đình nhà Lý phải rước tượng Pháp Vân về Thăng Long để cầu mưa.

Thờ Động vật và Thực vật

Khác với nhiều nền văn hóa khác. Họ thờ các con vật có sức mạnh như hổ, sư tử, chim ưng,... Tín ngưỡng Việt Nam thờ các con vật hiền lành hơn như trâu, cóc, rắn, chuột, chó, mèo, voi... Các con vật đó gần gũi với cuộc sống của người dân của xã hội nông nghiệp.

Ngoài hình tượng người, cả các loài động vật như cá sấu, gà, cóc... được khắc trên mặt Trống Đồng Hoàng Hạ (Hòa Bình).

Người dân nâng các con vật lên thành mức biểu trưng như Tiên, Rồng. Truyền thuyết tổ tiên người Việt thuộc "họ Hồng Bàng" (có nghĩa là một loài chim nước lớn), thuộc giống "Rồng Tiên".

Con rồng có đầy đủ đặc tính của lối tư duy nông nghiệp: tổng hợp của cá sấu, rắn; sinh ra ở dưới nước, nhưng lại có thể bay lên Trời mà không cần cánh; có thể vừa phun nước vừa phun lửa. Có rất nhiều địa danh Việt Nam có tên liên quan đến rồng như Thăng Long, Hàm Rồng...

Thực vật được tôn sùng nhất là cây lúa, có Thần Lúa, Hồn Lúa, Mẹ Lúa... thờ Thần cây Đa, cây Cau...

Tín ngưỡng sùng bái con người

Người Việt cổ tin rằng con người gồm phần thể xác và phần linh hồn. Một số dân tộc Đông Nam Á coi linh hồn gồm "hồn" và "vía". Vía được hình dung như phần trung gian giữa thể xác và hồn. Người Việt cho rằng người có ba hồn, nam có bảy vía và nữ có chín vía.

Ba hồn gồm: Tinh (sự tinh anh trong nhận thức), Khí (năng lượng làm cho cơ thể hoạt động) và Thần (thần thái của sự sống). Bảy vía ở đàn ông cai quản hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi và miệng. Chín vía ở nữ giới cai quản bảy thứ như ở nam giới cộng thêm hai vía nữa. Hai vía này có nhiều cách giải thích. Chúng có thể là núm vú có vai trò quan trọng trong nuôi con.

Nếu phần Thần của hồn rời khỏi thể xác, thì người đó chết. Khi người chết, hồn nhẹ hơn sẽ bay sang kiếp khác còn vía nặng hơn sẽ bay là mặt đất rồi tiêu tan.

Khi chết, hồn đi từ cõi Dương gian đến cõi Âm ty, cõi đó cũng được tưởng tượng có nhiều sông nước như ở cõi dương gian nên cần phải đi bằng thuyền nên nhiều nơi chôn người chết trong những chiếc thuyền.

Tín ngưỡng thờ Tổ tiên Người Việt có tục thờ cúng tổ tiên sâu đậm và sớm nhất, gần như trở thành một tôn giáo: Đạo thờ Tổ Tiên

Người phương Tây coi trọng ngày sinh, người Việt coi trọng ngày mất. Họ cho rằng người đã mất đi về nơi chín suối. Bàn thờ tổ bao giờ cũng được đặt ở nơi trang trọng nhất. Ngày xưa khi cúng lễ bao giờ cũng có nước (hoặc rượu) cùng với những đồ tế lễ khác như vàng mã. Sau khi cúng xong thì đem đốt vàng mã rồi đổ rượu hoặc nước lên đống tro tàn, khói bay lên trời, nước hòa với lửa thấm xuống đất, theo họ như thế Tổ tiên mới nhận được. Hành động đó được cho là sự hòa quyện Nước- Lửa (Âm Dương) và Trời - Đất - Nước (Tam Tài) mang tính triết lý sâu sắc. Ngày nay, nhiều người không hiểu triết lý. Mê tín, mê muội đốt vàng mã quá mức, gây ô nhiễm môi trường và tại hopaj cháy nổ.

Ở phạm vi quốc gia, người Việt thờ Vua Tổ là Vua Hùng. Nơi thờ phụng ở Phong Châu, Phú Thọ. Ngày giỗ tổ là ngày 10 tháng 3 âm lịch.

Các làng nghề thờ Tổ nghề. Tổ nghề là một hoặc nhiều người có công lớn đối với việc sáng lập và truyền bá một nghề nào đó. Các thế hệ sau nối nghề truyền thống, suy tôn là làm người sáng lập vì đã có công tạo ra nghề, gọi là Tổ nghề (Thánh sư).

Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng

Trong gia đình, người Việt thờ Tổ Tiên và Thổ Công, ở phạm vi làng xã, người Việt thờ Thành Hoàng. Giống như Thổ công, Thành Hoàng cai quản và quyết định họa phúc của một làng. Không có làng nào ở Việt Nam mà không có Thành Hoàng.

Những người được thờ thường là những người có tên tuổi và địa vị, có công lao đối với làng đó. Một số làng còn thờ những người lý lịch không rõ ràng gì như trẻ con, ăn xin, ăn mày, trộm cắp

Tín ngưỡng Thờ Tứ bất tử

Người Việt thờ bốn vị Thánh bất tử. Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử và Liễu Hạnh.

Tại Việt Nam có rất nhiều đền thờ Nhân Thần là các vị có công với Đất Nước như: vua Đinh Tiên Hoàng, Lương Thế Vinh, Trần Hưng Đạo (Tín ngưỡng Đức Thánh Trần)...

Tín ngưỡng sùng bái Thần linh: Thổ Địa, Thần Tài, Táo Quân, Hà Bá, Môn Quan, Phúc Lộc Thọ.

Đền Đồng Cổ- Tín ngưỡng dân gian của các vua Lý

Đền Đồng Cổ ở huyện Yên Định, cách thành phố Thanh Hóa 40 km về phía Tây Bắc. Từ thành phố Thanh Hóa, ngược Rừng Thông, qua cầu Vạn Hà (sông Chu), đến thị trấn Quán Lào, đi khoảng 12 km, đến đền Đồng Cổ ở thôn Đan Nê, xã Yên Thọ.

Bảng thuyết minh treo ở Thượng Điện đền Đồng Cổ:

“Miếu Đồng Cổ được khởi dựng từ thời Hùng Vương (2569 – trước Công nguyên), đến thời Lý (1020) miếu được sửa sang lại, sang thời Lê- Trịnh (1630), miếu được xây dựng khang trang, to đẹp hơn… Miếu thờ Thần núi Đồng Cổ, vị Thần đã giúp các triều đại đánh thắng giặc ngoại xâm và diệt trừ phản loạn: Giúp vua Hùng đánh thắng giặc Hồ Tôn; giúp vua Lý đánh thắng giặc Chiêm và diệt trừ phản loạn. Các đời Đinh, Lý, Trần, Lê thờ cúng đều ứng nghiệm, giúp việc giữ gìn đất nước…”

Sách Việt điện U Linh (NXB Văn hóa năm 1960) của Lý Tế Xuyên (thế kỷ XIV) chép một đoạn về Lý Thái Tông. Phụng mệnh vua cha Lý Thái Tổ, Thái tử Lý Phật Mã (sau này là vua Lý Thái Tông) đem binh đi đánh Chiêm Thành (1020), đến Trường Châu (núi Khả Lao ở làng Đan Nê) đóng quân tạm nghỉ. Canh ba đêm ấy, thấy một người thân cao 8 thước, mắt sáng, râu rậm, mặc chiến bào, tay cầm kim khí, đến trước cúi đầu tâu:

- Tôi là Thần núi Đồng Cổ, nghe tin Thái tử đi đánh phương Nam, tôi xin theo giúp, phá giặc lập công.

Thái tử Lý Phật Mã vỗ tay khen ngợi rồi tỉnh giấc. Quả nhiên, theo lời Đồng Cổ Sơn Thần, quân tiến đánh giặc Chiêm Thành, thắng lợi. Khải hoàn về qua Trường Châu, Thái tử sai quân sĩ sửa sang miếu Thần thành đền Thần, rồi tạ lễ và rước bài vị về kinh đô, dựng đền thờ Đồng Cổ Sơn Thần giúp quốc thái dân an.        

   Trong Đồng Cổ miếu bi ký (Bia miếu Đồng Cổ, dựng ở đền Đồng Cổ) viết:

Trong thung lũng núi có miếu cổ, thờ thần núi” (Trung hữu cổ miếu, phụng sự sơn thần).

“Năm Canh Thân (1800) bỗng ở phía sông Nam Ngạn được một chiếc Trống Đồng (…) quan đặc sai Đốc trấn Thanh Hoa bèn đem trống đồng mới được tặng lại miếu Thần để xuân thu tế tự, để giúp thêm nhạc khí cho miếu Thần”.

          Bài minh trong miếu thờ Thần núi Đồng Cổ ca ngợi:

“Có núi thiêng Đồng Cổ, Ở Yên Định, Đan Nê, Dưới giữ gìn cõi đất, Trên chống đỡ cột trời, Cao vượt lên ngàn núi, Thiêng hun đúc muôn đời…”

Dân làng Ðan Nê kể, đền Ðồng Cổ xưa từng có 38 gian, bề thế tựa lưng vào Tam Thái Sơn (gọi dân dã là dãy núi Ðổng). Ngày xưa ba ngọn núi đá bao quanh đền là rừng cây nguyên sinh rậm rạp, nhiều cây to, có nhiều chim, thú. Nay chỉ còn những ngọn núi đá với cây mọc tái sinh tầng thấp.

Đền có Nghinh môn gồm 3 tầng, 8 mái, mang phong cách kiến trúc thế kỷ 15 (thời Lê), cao 9 m, rộng 3 m, được ghép bằng những khối đá vuông vức (không dùng vữa), cuốn thành vòm tò vò. Ngôi đền Ðồng Cổ được xây lại năm 1996, gồm một gian hai chái, linh diệu, xanh tươi cây lá. Hồ bán Nguyệt trước đền in mây trời, bóng núi.

Núi Đồng Cổ, Văn hóa cổ, Địa linh nhân kiệt

Xưa nay, nhiều người đã nghiên cứu về núi Đồng Cổ và tín ngưỡng dân gian của Ấp Khả Lao (Kẻ Lao xưa, làng Đan Nê nay).

Theo TS Lưu Văn Thành, vùng núi Đồng Cổ được ba dòng họ chính lập nên, là họ Trịnh, họ Lưu và họ Hà (thông qua hai vế đối: “Vật Lưu Bách Việt Tổ; Kiến ấp Trịnh Lưu Hà”). Quanh đền Đồng Cổ, dưới chân núi Tam Thai có ba ngôi mộ tổ cổ kính của ba dòng họ Trịnh, Lưu, Hà vẫn trường tồn đến ngày nay.

Theo kết quả khảo cổ học năm 2007. Miếu Thần Đồng Cổ có từ thời Hùng Vương. Di tích núi và đền Đồng Cổ, đã phát hiện là nơi cư trú lý tưởng cho con người thời tiền - sơ sử với lớp văn hóa tiền Đông Sơn- Đông Sơn, như ở các trung tâm lớn lưu vực sông Hồng, sông Mã và sông Cả, tương ứng với Văn hóa thời Hùng Vương. Cổ hơn, có di chỉ Đan Nê Thượng (cách núi và đền Đồng Cổ khoảng 100m, có niên đại tương đương giai đoạn văn hóa Đồng Đậu (đã 3.500 năm). Thể hiện qua tín ngưỡng phồn thực của Văn hóa Việt cổ với hòn đá Âm- Dương, đặt thờ trong Thượng điện. Đó là hòn đá trắng, cao hơn một mét, dựng đứng, đầu nhọn chỉ lên Trời, được đặt trên tảng đá lõm xuống như lòng chảo.  

Nhiều đời vua chúa từ thời Vua Hùng, Trưng Vương, Lê Đại Hành, nhà Lý (Lý Phật Mã; Lý Thường Kiệt), nhà Trần, nhà Hậu Lê (Lê sơ và Lê Trung Hưng), chúa Trịnh, Tây Sơn... đã dừng thuyền bè ở bến Trường Châu, rồi lên bờ, di chuyển tiếp vào Nam, để trinh phạt bảo vệ và khai khẩn đất nước. Các triều đại đều được Thần núi Đồng Cổ Âm phù chiến thắng.

Đền Đồng Cổ tại Kẻ Bưởi, Thăng Long

Đền Đồng Cổ thờ Thần Đồng Cổ, được vua Lý Thái Tông cho xây dựng vào năm 1028 tại thôn Nam, Đông Xã, Yên Thái (nay: số 353 phố Thụy Khuê, phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội.

Đại Việt Sử ký Toàn Thư chép:

Năm 1028. Trước khi Lý Thái Tổ qua đời một ngày (mùng 3 tháng Ba âm lịch), Thái tử Phật Mã được Thần núi Đồng Cổ báo mộng sẽ có ba vị vương nổi loạn.

Quả như lời Thần Đồng Cổ. Đông Chinh Vương, Vũ Đức Vương và Dực Thánh Vương nhân vua cha băng hà, đã đưa quân vào Cấm thành. Do phòng bị trước, và có các tướng Lê Phụng Hiểu, Lê Nhân Nghĩa giúp. Thái tử Lý Phật Mã đã dẹp được vụ này.  

Ngay sau khi Lý Phật Mã lên ngôi (Lý Thái Tông) cho xây một ngôi đền thờ Thần Đồng Cổ ở bên Hoàng thành. Vua phong Thần núi Đồng Cổ là Thiên Hạ Minh Chủ. Lấy ngày 25 tháng Ba Âm lịch hằng năm làm hội thề.

Trước đền đắp một đàn cao, trên bày Thần vị. Các quan văn võ từ phía Đông đi vào, quì trước đàn, uống máu và thề:

“Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, Thần minh chu diệt”.

Sau này. Hội thề trùng với ngày kỵ của vua nên chuyển sang mùng 4 tháng Tư Âm lịch. Văn võ trăm quan, người nào vắng, bị phạt tiền. Dân chúng kinh thành nô nức đổ về xem. Đến thời Trần vẫn còn giữ lễ Hội thề như thế. Sang thời Lê, đổi nơi thề ra bờ sông, sai quân đến tế ở đền Đồng Cổ.  

Trên trụ biểu ở cửa đền có đôi câu đối:

Bát diệp sơ Đồng Cổ sơn ngôn lịch đại bao phong lưu ngọc điệp

Thiên tải hậu chu bàn hải thệ nhất tâm trung hiếu phụng kim chương.

(Tám đời vua, Đồng Cổ núi vang, hậu thế phong Thần lưu sắc ngọc

Ngàn năm trải, Đàn Thề biển tạc, một lòng trung hiếu tỏa ánh vàng)

Vua Lý Anh Tông xây Đền Hai Bà Trưng

Chuyện kể rằng đời vua Lý Anh Tông, gặp năm trời hạn hán, vua cầu đảo ở Đền Hát Môn, bèn có mưa, không khí mát lành. Vua mừng vui thiu thiu ngủ dưới mái đền xanh bóng cây. Bỗng vua mơ màng thấy bóng Hai Bà đội mũ phù dung, mặc áo xanh, váy đỏ, đi xe ngựa sắt kéo, theo mưa gió đến bên vua.

Nhà vua hỏi: “Thưa nhị vị tướng quân, có phải Hai Bà Trưng linh ứng hiện về?

Hai Bà đáp: “Hai chị em họ Trưng chúng ta, vâng mệnh Thượng đế làm ra mưa đó”.

Vua dâng lễ trầu têm cánh phượng, mời Hai Bà. Hai Bà giơ tay ngăn lại. Bỗng nhà vua bừng tỉnh, sai trùng tu lại Đền Hát Giang, dùng lễ thái lao, giết hai con bò, long trọng tế Hai Bà. Về sau, Hai Bà lại hiện về giấc mộng của Lý Anh Tông, xin lập đền ở Hương Cổ Lai, nơi nền nhà cũ của cha mẹ Hai Bà. Vua y lời, xây Đền Cổ Lai. Nay là Đền thờ Hai Bà Trưng ở Mê Linh- Hà Nội.

    

(… Còn tiếp ...)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 22.7.2017.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004