Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



SUY TƯ VỀ

BIỂU TƯỢNG HOÀNG ĐẾ CỜ LAU






1.Hàng năm, cứ đến dịp mở Hội Hoa Lư (từ mồng 08 đến mồng 10 tháng 03 âm lịch) nhằm tưởng nhớ ân đức của đức ngài Đinh Tiên Hoàng Đế trong sự nghiệp xây dưng nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên (Chính thống thủy正 統 始), thống nhất đất nước Đại Cồ Việt (大 瞿 越), mở nền thái bình cho dân tộc, bao giờ cũng thấy xuất hiện trong lễ hội màn sân khấu hóa Cờ lau tập trận và Đức Ngài Vạn Thắng Minh Hoàng Đế (萬 勝 明 皇 帝) mặc nhiên gắn với danh xưng mang tính biểu tương Hoàng Đế Cờ Lau. Không rõ biểu tương này xuất hiện từ thời điểm cụ thể nào? Suy tư từ biểu tượng này đặt ra một số điều cần suy nghĩ tiếp cho thấu tình đạt lí.

2. Địa danh Hoa Lư (華 閭) có từ thời Đinh Tiên Hoàng (丁 先 皇) là kinh đô đầu tiên của nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên Đại Cồ Việt. Thì quốc hiệu Đại Cồ Việt là một danh từ riêng gồm hai từ tố gốc Hán (đại, việt) và một từ tố thuần Việt (cồ). Gần đây có nhà nghiên cứu cho rằng có một số từ mà các từ tố gốc Hán nhưng lại được người Việt tạo ra từ và sử dụng theo cách của người Việt. Phải chăng có tinh thần độc lập tự chủ trong đó? Lại nữa, từ thời phong kiến, nhất là triều Nguyễn, mỗi khi mở hội Hoa Lư đều phục dựng lại cảnh Cờ lau tập trận. Điều này có nguồn gốc từ sự tích về tuổi thơ của Đinh Bộ Lĩnh được lưu giữ truyền thừa trong kí ức dân gian, sau đó được ghi chép trong các bộ sử thời phong kiến ( Đại Việt Sử kí, Đại Việt sử kí toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Việt giám thông khảo tổng luận…), rồi đi vào các tác phẩm văn học ( Cờ lau dựng nước , Trận chiến trong thung lũng ,   Sử ca Đinh Bộ Lĩnh ,   truyền thuyết   sông Hoàng Long nbsp;

,   truyền thuyết con ngựa đá ,   bóng cờ lau ,   Giao châu thất hùng ...)  

Ở Trung Quốc, thời Tam Hoàng ( 三 皇) cách ngày nay khoảng 6000 TCN. Sách Thượng Thư (尚 書) cho là Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế ( 黃 帝) , sách Sử kí của Tư Mã Thiên cho là Phục Hi, Thần Nông, Nữ Oa. Ngũ Đế (五帝 ) theo sách Thượng thư gồm Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Đế Khốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, cách ngày nay khoảng 4000 năm TCN. Vương ( ) với tư cách là thiên tử có từ thời nhà Chu bắt đầu từ 1046 đến 256 trước công nguyên. Đến thời Tần Thủy Hoàng mới tự xưng là Tần Thủy Hoàng đế. Chữ   Hoàng ( )   có nghĩa to lớn vĩ đại ( Thuyết văn giải tự 说 文 解 字 ) là người ở ngôi vị bậc cao nhất, Chữ   Đế ( ) với nghĩa là người làm vua trong thiên hạ, hay vị thần rất tôn kính ( Thuyết văn giải tự ) . Tần Thủy Hoàng muốn khẳng định mình có uy quyền thống trị toàn bộ thế gian, vì đã thôn tính được sáu nước khác, thống nhất Trung Hoa, qua việc tự xưng như vậy. Sau khi dẹp xong loạn mười hai sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua. Các quần thần dâng hiệu vua là Đại Thắng Minh Hoàng Đế, cũng có ý nghĩa tương tự như Tần Thủy Hoàng Đế bên nước Tàu xưa, đồng thời còn khẳng định với bách tính Đại Cồ Việt rằng: vua ta, nước Đại Cồ Việt ta ngang hàng với hoàng đế nước Trung Hoa thời ấy. Khi đức vua băng, đình thần dâng tên thụy là Đinh Tiên hoàng Đế càng là chứng cớ có sức thuyết phục mạnh mẽ cho khẳng định này. Hiện ở đền thờ đức vua có bức đại tự Chính thống thủy (Mở đầu nền chính thống) và câu đối (Cồ Viết quốc đương Tống Khai Bảo – Hoa Lư đô thị Hán Tràng An 瞿 越 國 當 宗 開 保 - 花 蘆 都 是 漢 長 安) của đời sau, càng chứng tỏ Đinh Tiên Hoàng Đế là một vị vua anh hùng hào kiệt có trí tuệ và bản lĩnh hơn người. Ông là vị hoàng đế không chỉ có vũ công hiển hách, mà còn có văn trị. Nếu mãi chỉ là chú bé trăn trâu, tập trận cờ lau mà không được tu tập, rèn luyện học hành hiểu theo nghĩa rộng rãi, linh hoạt nhất, sao có thể trở thành vị hoàng đế đầu tiên của quốc gia phong kiến tập quyền độc lập tự chủ đầu tiên dưới quốc hiệu Đại Cồ Việt? Việc đặt luật hình nghiêm khắc mà một số sử gia thời phong kiến đời sau thường phê phán có phần thiên lệch, nếu không muốn nói rằng: họ ít nhiều thiếu hiểu biết về văn hóa chính trị về thuật trị quốc an dân. Đất nước vừa trải qua loạn 12 sứ quân, nếu không nghiêm khắc trong phép nước thì làm sao có thể an dân ?

Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên thời Hậu Lê từng ghi:

Xưa, cha của vua là Đinh Công Trứ làm nha tướng của Dương Đình Nghệ, được Đình Nghệ giao giữ chức quyền Thứ sử châu Hoan, sau theo về với Ngô Vương, vẫn được giữ chức cũ, rồi mất. Vua mồ côi cha từ bé, mẹ họ Đàm đưa gia thuộc vào ở cạnh đền sơn thần trong động. Vào tuổi nhi đồng, vua thường cùng bọn trẻ con chăn trâu ngoài đồng. Bọn trẻ tự biết kiến thức không bằng vua, cùng nhau suy tôn làm trưởng. Phàm khi chơi đùa, thường bắt bọn chúng chéo tay làm kiệu khiêng và cầm hoa lau đi hai bên để rước như nghi trượng thiên tử. Ngày rỗi, thường kéo nhau đi đánh trẻ con thôn khác, đến đâu bọn trẻ đều sợ phục, hàng ngày rủ nhau đến phục dịch kiếm củi thổi cơm. Bà mẹ thấy vậy mừng lắm, mổ lợn nhà cho chúng ăn. Phụ lão các sách bảo nhau: "Đứa bé này khí lượng như thế ắt làm nên sự nghiệp, bọn ta nếu không theo về, ngày sau hối thì đã muộn". Bèn dẫn con em đến theo, rồi lập làm trưởng ở sách Đào Áo.

Đoạn ghi chép này cho thấy cốt lõi của sự thật lịch sử là: ngay từ nhỏ Đức Vua đã có tư chất của bậc anh hùng hào kiệt, tư chất của bậc thủ lĩnh tối cao.

Người chú của vua giữ sách Bông chống đánh với vua. Bấy giờ, vua còn ít tuổi, thế quân chưa mạnh, phải thua chạy. Khi qua cầu ở Đàm Gia Nương Loan, cầu gãy, vua rơi xuống bùn, người chú toan đâm, bỗng thấy hai con rồng vàng hộ vệ vua, nên sợ mà lui. Vua thu nhặt quân còn sót, quay lại đánh, người chú phải hàng. Từ đấy ai cũng sợ phục, phàm đi đánh đến đâu đều dễ như chẻ tre, gọi là Vạn Thắng Vương…

Đoạn này thiết nghĩ hình ảnh vị hoàng đế tương lai đã được nhuốm màu huyền thoại, đặc biệt là những dòng ghi chép sau:

Khi qua cầu ở Đàm Gia Nương Loan, cầu gãy, vua rơi xuống bùn, người chú toan đâm, bỗng thấy hai con rồng vàng hộ vệ vua, nên sợ mà lui. Vua thu nhặt quân còn sót, quay lại đánh…thì quả thực là bảy phần hư ba phần thực. Nhưng nếu theo góc nhìn của văn hóa chính trị mang màu sắc tâm linh thời cổ trung đại thì Đinh Bộ Lĩnh là bậc có chân mệnh đế vương. Điều tương tự có thể tìm thấy trong sự ghi chép về sự tích ra đời của Đức Chúa Giêsu trong Kinh Thánh của đạo Thiên Chúa giáo, hay Đức Thích Ca Mâu Ni trong Phật điển, Đức Khổng Tử trong Sử kí, các đấng quân vương trong các bộ sử của Trung Quốc và Việt Nam thời cổ trung đại.

Phần chính sử xưa ghi chép về nguyên nhân cái chết của đức vua và vị con cả Đinh Liễn cần phải bàn lại. Đây thực chất, có lẽ là một âm mưu chính trị của các “nhóm lợi ích” trong triều đình đương thời, chứ không phải là trọng tội của hoạn quan Đỗ Thích. Đỗ Thích chẳng qua cũng chỉ là vật hi sinh để thế lực ngầm che dấu tội ác, hòng tránh búa rìu dư luận đương thời lên án, tránh bị lưu danh xấu trong lịch sử mà thôi. Truyền thuyết dân gian Mả táng hàm rồng, hẳn là ra đời sau khi vua băng cùng bài sấm kí lưu truyền trước khi cha con Đinh Tiên Hoàng Đế bị sát hại, cũng chỉ là cách mà những thế lực thí quân đoạt ngôi sau này, nhằm biện hộ cho mưu đồ chính trị của họ mà thôi. Mấy trăm năm sau, điều này còn lặp lại. Khi Nguyễn Trãi thời Hậu Lê bị án oan tru di tam tộc thảm khốc, lập tức có câu chuyện huyền hoặc Rắn báo oán. Các sử gia, thường cũng là sử quan các triều đại phong kiến Việt Nam về sau, khi luận về sự nghiệp của đức vua, nhìn chung đều khẳng định công đức của Đinh Tiên Hoàng Đế:

Tiên Hoàng nhờ có tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, đương lúc nước Việt ta không có chủ, các hùng trưởng cát cứ, một phen cất quân mà mười hai sứ phục hết. Vua mở nước dựng đô, đổi xưng Hoàng Đế, đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đầy đủ, có lẽ ý Trời vì nước Việt ta mà sinh bậc thánh triết...

( Lê Văn Hưu,Đại Việt sử kí) 

Vận trời đất, bí rồi ắt thái, Bắc Nam đều cùng một lẽ ấy. Thời Ngũ đại bên Bắc triều Trung Quốc

 
  suy loạn rồi  Tống Thái Tổ
 
  nổi lên. Ở Nam triều nước ta, 12 sứ quân phân chia quấy nhiễu, rồi Đinh Tiên Hoàng nổi lên. Không phải là ngẫu nhiên mà do vận trời vậy.

Vua tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, quét sạch các hùng trưởng...

(Ngô Sỹ Liên Đại Việt sử ký toàn thư)

Xét nước ta từ thời Hùng Vương mới bắt đầu thông hiếu với  Trung Quốc

 
  nhưng danh hiệu còn nhỏ không được dự vào hàng chư hầu triều hội... đến khi Đinh Tiên Hoàng bình định các sứ quân, khôi phục mở mang bờ cõi, bấy giờ điển lễ, sách phong của  Trung Quốc 
  mới cho đứng riêng là một nước.

Tiên Hoàng dấy lên từ một người áo vải, một lần nổi lên dẹp được 12 sứ quân. Rồi dựng nước, dựng kinh đô, đổi niên hiệu, chính ngôi vua. Võ công vang khắp, văn hóa đều đổi mới...

( Phan Huy Chú Đại Việt sử ký tiền biên)

Lê Tung trong nhận xét trong Việt giám thông khảo tổng luận:

Đinh Tiên Hoàng nhân khi nhà Ngô loạn lạc mất nước, dẹp được Mười hai sứ quân, trời cho người theo, nhất thông bờ cõi, dùng bọn Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lưu Cơ, Trinh Tú làm người phù tá, sáng chế triều nghi, định lập quân đội, vua chính thống của nước Việt ta thực bắt đầu từ đấy. Kể về mặt dẹp giặc phá định, thì công to lắm…

Nhận xét trên là chính xác, còn khi Lê Tung trong Việt giám thông khảo tổng luận rằng:

(…)Tông miếu chưa dựng, nhà học chưa xây, đặt vạc, nuôi hổ để làm đồ dùng hình ngục, biếu tê dâng voi, chỉ vất vả về cống dâng; lễ nhạc hình chính không sửa sang, giữ cửa canh đêm không cẩn thận; rốt cùng chính mình bị giết, nước bị nguy, vạ lây đến con, đó là không có mưu phòng giữ từ lúc việc còn bé nhỏ, ngăn ngừa từ khi việc mới chớm ra là chưa thật công tâm, công bằng.

Nếu chỉ biết cờ lau tập trận sao có thể đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt, đặt niên hiệu Thái Bình, định ra quan chế, phiên chế lại quân đội, đúc tiền Thái Bình Thiên Bảo, lập các hoàng hậu, phong thái tử?... Nếu chỉ biết tập trận cờ lau sao lại định đô ở Hoa Lư chứ không phải ở Đại La?... Lời dụ Bắc môn tỏa thược (北 門 鎖 鑰) nay còn hiện diện ở đền thờ vua, cho thấy Đinh Tiên Hoàng Đế đã thấu thị được dã tâm bành trướng xâm lược của phong kiến Trung Hoa, ngay từ khi quốc gia phong kiến tập quyền đầu tiên được khai sinh. Cách ứng xử khôn ngoan mềm dẻo, luôn luôn tuân thủ một nguyên tắc bất di bất dịch: trong xưng đế ngoài xưng vương của Đinh Tiên Hoàng Đế trong bang giao với nước láng giềng rất lớn là phong kiến Trung Hoa, một đế quốc luôn ôm mộng xâm lược bành trướng, thôn tính các nước láng giềng, lại càng cho thấy Ngài là đấng minh quân. Từ đó, các triều đại phong kiến nước ta cho mãi tận tới những ông vua đầu của triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử dân tộc (triều đại nhà Nguyễn) vẫn tuân theo. Cách ứng sử này vẫn còn bài học sâu sắc đáng suy nghĩ cho ngày hôm nay, dĩ nhiên chúng ta đang sống trong thời hội nhập mở cửa, thì không thể đóng kín, tuyệt giao trong quan hệ láng giềng.

Sự kiện Đinh Liễn giết chết em ruột mình là Hạng Lang vì không được phong ngôi thái tử, rồi tự sám hối bằng một trăm cột kinh Phật bằng đá, (hiện các nhà khảo cổ đã tìm thấy ở cố đô Hoa Lư) cũng là bằng chứng không thể bác bỏ về học phong rất đáng trọng của thời kì này.

3. Có lẽ, từ khi vở chèo Hoàng đế cờ lau của một nhà viết kịch người Ninh Bình ra đời khoảng những năm 60 của thế kỉ trước, do gắn với sinh quyển tâm lí chính trị xã hội của giai đoạn lịch sử Xô Viết - Nghệ Tĩnh 1930- 1931 và thời kì lịch sử đặc biệt của hai cuộc cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ 1945-1975 và quán tính, áp lực của lối tư duy tiểu nông, đặc biệt là những mặt hạn chế của nó trong văn hóa truyền thống Việt Nam, đã khiến người ta hiểu phiến diện về vị hoàng đế đầu tiên này. Dường như biểu tượng Hoàng đế cờ lau được nhấn mạnh thái quá ở nguồn gốc cờ lau, khiến người ta hiểu chưa thật công tâm công bằng về đức vua. Rất nhiều người chỉ nghĩ đến nguồn gốc cờ lau tập trận mà dường như quên mất sự anh minh của bậc hoàng đế, bậc chủ tể đầu tiên của Đại Cồ Việt. Gần đây, khi chỉ ra mặt trái của việc đề bạt cất nhắc cán bộ quản lí, quản trị hành chính công, người ta thường đưa ra một công thức đau lòng: hậu duệ, tiền tệ, quan hệ, trí tuệ; hay bổ nhiệm cất nhắc cán bộ phải tìm người đức tài chứ không phải tìm người nhà bất tài, hẳn cũng vẫn có phần chịu áp lực của quán tính áp lực ấy. Dĩ nhiên còn có những nguyên nhân khác nữa. Đinh Tiên Hoàng là bậc hoàng đế có tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời (Ngô Sĩ Liên). Trên tinh thần công tâm công bằng, chúng ta đánh giá công lao của nhân vật lịch sử Đinh Bộ Lĩnh ở những gì Ngài đã cống hiến cho đất nước và cũng thấy cả những gì còn hạn chế. Nếu chỉ biết cờ lau tâp trận làm sao có thể làm bậc Hoàng Đế chính thống đầu tiên của nước Đại Cồ Việt ta?


Vân Giang, cuối tháng 6 năm Đinh Dậu 2017



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ NinhBình ngày 22.7.2017.


trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004