Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



NGƯỜI TU SĨ PHẬT GIÁO

CÓ NÊN CẢI CÁCH HÌNH THỨC

CHO HỢP VỚI THỜI ĐẠI?









C ó một số tu sĩ đã có ý nghĩ rằng tới thời này rồi, vật chất thì phong phú, Chùa cũng dư giả tiền bạc, tại sao các Tu Sĩ của Đạo Phật vẫn không thay đổi nếp sinh hoạt, vẫn phải mặc những chiếc Y đã thiết kế từ 3.000 năm trước, đi bộ để khất thực, ở cốc hoặc ở hang... không theo kịp thời đại? Cho nên có Phương Trượng đã tự thay đổi: Ở phòng máy lạnh, đi khất thực bằng xe Lexus. Ngồi Thiền trên những Bồ Đoàn được may bằng Gấm đắt tiền. Có phòng tắm Sauna để các Sư thư giãn! (Chùa của Phương Trượng TVT. ở Đài Loan). Một vài nhà Sư ở Nhật còn tự thiết kế những bộ Y để biểu diễn thời trang… làm ai nhìn thấy đời sống của Sư Tăng ở đó cũng nghĩ đúng là mình thiếu Trí Huệ nên đã không chịu Xuất Gia. Do Vô Minh nên bám lấy trần tục để tiếp tục chịu khổ là đúng rồi! Có người còn ví von: “Ai bảo đi tu là khổ. Đi tu sướng lắm chứ”! (Nhạc Phạm Duy cải biên). Đúng là “Công đức tu hành Sư có lọng”!

Ý tưởng đó đúng hay sai? Người thời nay muốn tu hành thì nên theo hình thức như thế nào? Có nên cải tiến cho hợp với thời đại, và dùng những phương tiện hiện đại như xe hơi, điện thoại đời mới, đắt tiền, với lý do là “để phục vụ cho bá tánh tốt hơn”? Rõ ràng là một câu hỏi khó cho những tu sĩ chưa nắm được lý do cũng như mục đích của việc tu hành. Họ đâm ra hoang mang. Nửa muốn theo thời đại. Nửa sợ bá tánh phản đối cho rằng như thế là làm mất đi sự giản dị, thanh tịnh của người tu rồi không cúng dường thì lấy gì mà sống, vì kể từ lúc Xuất Gia thì mọi thứ đều trông vào các thí chủ cung cấp?!

Nên giữ nếp cũ hay vận động mọi người theo xu hướng mới? Thời đại mới nên tu hành như thế nào để không trái với Giới, Luật mà cũng thuận hợp với đời?

Theo tôi thì đó cũng là một vấn đề cần nêu ra cho Phật Tử thời đại này. Bởi cũng có một số người rất mến mộ Đạo Phật, cũng muốn tu hành, nhưng ngại phải mang hình tướng quá đặc biệt, ai nhìn thấy cũng biết, mà ý họ muốn tu trong thầm lặng, chỉ tự mình biết lấy mà thôi. Hoặc có người còn cha mẹ già phải phụng dưỡng, con cái còn nhỏ, chưa thể rũ bỏ trách nhiệm để Xuất Gia. Có cách nào vẹn cả đôi bề, để người tu vừa có thể hoàn thành trách nhiệm với gia đình, xã hội, mà vẫn thực hiện được chí nguyện tu hành theo Phật mà không phải thiệt thòi? Đạo Phật có đòi hỏi người tu phải độc thân để được thanh tịnh mới tu được hay không? Vì có một vị HT. rất có uy tín (TNT.) đã khẳng định: “Chỉ có người xuất gia tu hành thanh tịnh thì mới thành Thánh vị được, còn những người có gia đình mà tu hành thì chỉ thành bậc chân nhân mà thôi”. Điều đó Chính Kinh có đề cập tới hay không?

Vấn đề này đã được đặt ra trong Sáu Cửa vào Động Thiếu Thất. Để trả lời cho câu hỏi: “Hàng áo trắng (Bạch Y) có vợ con, dâm dục không trừ, bằng vào đâu mà thành Phật được?”. Tổ Đạt Ma dạy: “Tôi chỉ nói Thấy Tánh, chẳng nói dâm dục. Chỉ cần Thấy Tánh mới vỡ lẽ rằng từ vô thỉ dâm dục vẫn là không tịch, chẳng có gì phải giả dối dứt trừ mà cũng chẳng mắc vào dục lạc”.

Lục Tổ Huệ Năng thì dạy trong Pháp Bảo Đàn Kinh:

Chư Thiện Tri Thức, muốn tu hành thì ở nhà tu cũng đặng, chẳng cần ở Chùa. Ở nhà mà thường tu hành thì cũng như người Đông Phương có lòng lành. Ở Chùa mà chẳng tu thì cũng như người Đông Phương có lòng dữ. Nếu lòng trong sạch thì Tánh mình tức là Tây Phương vậy”.

Dù rằng hai Tổ đã giải thích rõ ràng như vậy, nhưng xem ra cũng ít ai chấp nhận. Lý do là vì từ xưa đến nay mọi người đã hiểu lầm về Phật, về kết quả tu hành theo Đạo Phật. Mọi người vẫn nghĩ rằng Phật là một vị Thần Linh có thể “cứu độ cho Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới”, nên với tín đồ, Phật giữ một vai trò quan trọng nhất trong Đạo. Là giềng mối, là đối tượng để tôn thờ, cầu xin hộ trì. Vì thế, Các Chùa vẫn tạc tượng những vị Phật để phụng thờ, cũng như hướng dẫn cho bá tánh khi hữu sự thì nhang khói sắm lễ vật đến Chùa để cầu xin Chư Phật cứu độ cho. Sống thì Cầu An, cầu thăng quan, tiến chức. Chết thì Cầu Siêu. Chính vì vậy mà hầu hết người Xuất Gia để tu hành không ai dám phát tâm Thành Phật, chỉ mong được “nương thân nơi cửa Phật”, hoặc hiến trọn cuộc đời để phụng sự cho Phật. Trong khi đó, những Bộ Kinh được lưu hành được gọi là Chính Kinh đều giải thích rằng “Thành Phật” chỉ có nghĩa là “thành tựu công việc Giải Thoát” cho bản thân người Thành mà thôi, không phải là thành Thần Linh, cho dù đó là Đức Thích Ca hay ngàn đời sau cũng chỉ đạt được kết quả là Thoát Khổ mà thôi.

Chính vì hiểu lầm về Quả Vị của Đạo cho nên mọi người cũng quan trọng hóa việc tu hành. Cứ thấy ai Xuất Gia vô Chùa thì cho là người đó đã xa rời vòng tục lụy! Với nhận định đó, họ cho rằng tất cả những người tiếp tục sống giữa đời là phàm phu, dù cho người tu tại gia cũng giữ Giới, Hạnh không khác với những người Xuất Gia, nhưng do có gia đình, thiếu sắc phục, thiếu hình tướng nên mọi người không thể nào chấp nhận đó là một Tu Sĩ, chỉ xem đó là một Cư Sĩ mà thôi!

Theo tôi, đó là một quan niệm rất lỗi thời và cần có một đánh giá đúng hơn về công việc gọi là tu hành, để việc tu hành được mở rộng đến tất cả mọi người thay vì chỉ bó hẹp trong bộ sắc phục, trong khuôn viên Chùa. Làm sao để mọi người hiểu rõ: tu hành đúng theo Chánh Pháp là Tu Tâm, hình tướng là không quan trọng, trái lại, đôi khi chính vì đó mà cản trở bao nhiêu người muốn phát tâm tu hành, vì công năng tu tập, kể cả kết quả thì cả hai bên hoàn toàn giống nhau và không liên quan gì đến hình tướng.

Thật vậy, mọi người đều biết rằng: Sở dĩ Đạo Phật có mặt ở trần gian là nhằm giúp cho con người sống trong cõi trần đầy đau khổ nhưng không còn bị cảnh Khổ hành hạ nữa gọi là được Giải Thoát. Và phải chăng, dù có gia đình hay không, sang cũng như hèn, già cũng như trẻ, trí thức hay bình dân, có ai mà không phải Khổ? Chính vì vậy Giải Thoát không phân biệt giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ, nơi ở, sắc phục. Người độc thân có cái KHỔ của cảnh độc thân. Người có gia đình có cái Khổ của cảnh có gia đình. Người trẻ có cái Khổ của người trẻ. Người già có cái Khổ của người già. Nói chung, tuổi nào, giới tính gì, già hay trẻ, nghèo hay giàu, ai mà chẳng gặp cảnh Khổ? Ở đâu có Khổ là ở đó cần Giải Thoát. Giải Thoát là nghĩa khác của Phật chớ đâu có trở thành Thần Linh hay vị nào ghê gớm, cao siêu? Như vậy đâu nhất thiết phải độc thân mới cần giải thoát?

Dù là Xuất Gia hay Tại Gia, khi tu hành thì công năng đều là GIỚI ĐỊNH HUỆ, BÁT CHÁNH ĐẠO và một số việc khác để hỗ trợ gọi là những Phẩm Trợ Đạo. Người tu Tại Gia cũng phải Thiền Định, phải Soi Quán, phải giữ Giới. Nhưng họ không phải giữ cả mấy trăm Giới đến nỗi quay đâu cũng sợ đụng Giới, mà chỉ cần ý thức vì sao cần giữ Giới? Giữ bao nhiêu là đủ để đạt mục đích Giải Thoát của Đạo Phật đề ra? Thật ra, Giới chỉ cần thiết cho người sơ cơ, vì họ chưa vững, chưa biết điều gì nên làm, nên tránh, do đó, với họ, Giới như tường rào, bờ ngăn để họ không vi phạm. Trái lại, người đã hiểu rõ Lý Nhân Quả thì đâu cần ai áp đặt Giới cho họ, vì họ tự biết rằng nếu phá Giới thì chính bản thân họ phải bị hại, do đó, họ giữ rất nghiêm túc mà không phải vì sợ bị trừng phạt. Người tu tại gia cũng phải Ngồi Thiền, phải Soi, Quán để tìm nguyên nhân của nỗi Khổ, cũng phải QUÁN cái TA tức là Soi Cái THÂN của Mình, để xem nó gồm những gì? Sinh ra, tồn tại được bao lâu? Thời gian có mặt trên cuộc đời của nó là để làm gì? Cuối cùng đi về đâu? Cũng phải biết những gì làm nên kiếp sống? Thế nào là Sinh Tử Luân Hồi? Cũng Soi Quán về Thập Nhị Nhân Duyên, về Nhân Quả.

Tóm lại là ngoại trừ việc không cạo tóc, đắp Y, không sống đời độc thân, vẫn giữ nếp sống bình thường trong gia đình, vẫn lo cho cha mẹ, vợ, chồng, con cái như mọi người trong xã hội, nhưng người tu tại gia có thêm một đời sống nội tâm, vẫn làm mọi việc theo hướng dẫn của Đạo Phật dạy không có gì khác biệt với các Tu Sĩ ở trong Chùa nếu muốn Thoát Khổ.

Dù là tu sĩ hay cư sĩ thì cũng đều phải hiểu theo đúng CHÁNH PHÁP rằng Thành Phật chỉ có một nghĩa là thành tựu công việc Giải Thoát. Tu Phật chính là để sửa những nhận thức của mình cho đúng. Hiểu cho rõ, để biết đâu là giả, đâu là thật, rồi bỏ giả, về thật cũng gọi là “Phản Vọng, Quy Chân” để được Giải Thoát. Chính vì mọi sự chấp nhất, dính mắc đều bắt nguồn ở cái Tâm, nên nơi cần phải Sửa là Cái Tâm. Vì thế, tu theo Đạo Phật gọi là TU TÂM, hình tướng chỉ để người ngoài phân biệt mà thôi.

Nếu chỉ cần TU TÂM tại sao lại phải Ly Gia, Cắt Ái, tập trung vô Chùa, mang sắc phục mới tu được?

Đó là một câu hỏi rất chính đáng. Thật vậy. Làm tội, gây Nghiệp là do cái VỌNG TÂM. Do vậy, công việc tu hành chỉ cần tìm thấy nó rồi buộc nó “Phản VỌNG, quy CHÂN”, đâu cần phải rời bỏ nhà cửa, bỏ việc làm, không được có gia đình, hay làm việc gì cao siêu nào khác? Nếu hiểu được rằng việc tu hành chỉ là sửa đổi cái Tâm, thì ở đâu? Mặc như thế nào? Làm nghề gì? Có gia đình hay độc thân đâu có ảnh hưởng?

Trở lại với thắc mắc: Y phục, hình tướng của tu sĩ đã quá xưa rồi, có cần thay đổi cho hợp với thời đại hay không?

Nếu có đọc Chính Kinh chúng ta sẽ thấy: Những điều Phật dạy đều có ý nghĩa sâu xa. Trước hết, sở dĩ phải có hình tướng, vì ngoài phân biệt với các Tu Sĩ của các Tôn Giáo khác còn mang một ý nghĩa: ĐẦU TRÒN là ý nghĩa của đầu óc phải ngay ngắn, tròn trịa, không xiên xẹo, góc cạnh. ÁO VUÔNG tượng trưng cho cái THÂN giữ một nếp nghiêm chỉnh. Y MÀU VÀNG, HOẠI SẮC tượng trưng cho việc không bị nhiễm bởi các sắc trần. Đó là những điều người tu cần phải thể hiện trong cuộc sống, không phải chỉ cần đắp Y Ca Sa là được xem là người tu hành. Phật Ngôn có câu: “Nếu chiếc áo Ca Sa có năng lực giải trừ Tham Sân Si thì cha mẹ hay người thân chỉ cần khoác lên mình đứa bé khi nó mới chào đời là đã được toại nguyện”.Vì vậy, nếu người tu sĩ chỉ chú ý đến hình thức, giữ Tứ Oai Nghi nghiêm chỉnh bên ngoài, mà không thực hành cho đúng ý nghĩa mà Phật muốn dạy qua hình tướng đó thì chưa thật sự là Đệ Tử đúng nghĩa của Phật.

Đọc Lịch Sử các vị Tổ ta thấy: cách đây nhiều trăm năm mà một số Tổ đã được Truyền Y Bát khi chưa Thế Phát, Quy Y, chưa kịp mặc pháp phục. Trường hợp cụ thể được ghi lại trong Pháp Bảo Đàn Kinh là Lục Tổ Huệ Năng, cho ta thấy hình tướng không ảnh hưởng gì tới sự Chứng Đắc. Đồng thời, lịch sử Đạo và thực tế cũng ghi nhận rất nhiều vị tu ở Chùa rất lâu, giữ chức vụ rất cao nhưng vẫn không Thấy Tánh. Trong khi đó, cái THẤY TÁNH mới là kết quả của việc tu hành. Giải Thoát hay không là cũng nhờ đó, không phải là nhờ ở hình tướng đầy đủ, thời gian tu lâu.

Về phương tiện, nơi chốn để tu hành, Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA viết: “Cõi nước chỗ nào nếu có người thọ, trì, đọc, tụng, giải nói, biên chép, đúng như lời tu hành. Hoặc là ở chỗ có quyển Kinh, hoặc trong vườn, hoặc trong rừng, hoặc nhà Bạch Y, hoặc ở điện đường, hoặc núi hang, đồng trống, trong đó đều nên dựng tháp cúng dường.

Vì sao? Phải biết chỗ đó chính là Đạo Tràng. Các Đức Phật ở đây mà đặng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Các Đức Phật ở đây mà Chuyển Pháp Luân. Các Đức Phật ở đây mà nhập Niết Bàn”.

Qua đó, ta thấy, hình tướng, sắc phục, nơi chốn để tu hành không quan trọng, mà chính là sau khi THỌ, TRÌ, ĐỌC, TỤNG, GIẢI NÓI, BIÊN CHÉP, một quyển Kinh, thấy được ý nghĩa thì Y PHÁP TU HÀNH. Như vậy, nếu ta không thực hiện đầy đủ quy trình để đưa đến việc Y Pháp Tu Hành thì làm sao đạt kết quả Giải Thoát hay Thành Phật?

Kết quả mà người tu đạt được trước tiên là phải Thấy được Bổn Thể Tâm hay Thấy Tánh mà người xưa gọi là “Kiến Tánh khởi tu”. Cái Kiến Tánh này do công năng tu hành, không hề có phân biệt Xuất Gia hay Tại Gia. Tổ Đạt Ma dạy trong Sáu Cửa Vào Động Thiếu Thất: “Nếu thấy Tâm mình là Phật thì không cần cắt tóc cạo râu. Hàng áo trắng (bạch Y) vẫn là Phật. Nếu không thấy Tánh, cắt tóc, cạo râu vẫn là ngoại đạo”. Ngũ Tổ cũng dạy: “Nếu không Thấy Bổn Tâm thì học pháp vô ích”.

Vì thế, theo tôi, tới thời đại này rồi, chúng ta cũng cần xem lại: Những gì Phật dặn dò phải giữ là Giới, Luật, Giáo Pháp, kết quả phải đạt được, thì đương nhiên không được thay đổi. Nhưng có những thứ không còn hợp thời và cần thiết, vì chỉ mang một ý nghĩa tượng trưng nào đó, hoặc bị những thời sau thêm thắt vô, ắt cũng nên bỏ đi, chỉ giữ lại cốt lõi mà thôi, miễn là không ảnh hưởng đến việc tu hành và đạt được kết quả mà Đạo Phật mong muốn. Có như thế thì Đạo Phật mới phổ cập cho quảng đại quần chúng được. Đó cũng chính là mong mỏi của Đức Thích Ca khi mang Đạo Phật vào đời.

Thật vậy. Trừ những vị có trách nhiệm giữ gìn giềng mối Đạo phải ở trong Chùa thì không thể thay đổi. Nhưng nếu muốn tự tu, tự độ thì phải thấy rằng: Nếu Chiếc Y VÀNG tượng trưng cho không bị sắc trần làm cho ô nhiễm thì chỉ cần thực hiện điều đó, đâu cứ phải vận chiếc Y lên người? Đầu Tròn tượng trưng cho việc cạo sạch phiền não thì nếu lúc nào ta cũng chú ý để trừ hết phiền não thì cần gì phải cạo đầu? Nếu cư xử sòng phẳng, ân nghĩa vẹn toàn, trên dưới, trước sau đều hợp đạo thì cần gì phải khoác chiếc Y cho vuông vắn? bởi vì nó chỉ có giá trị như một sự nhắc nhở người mang nó mà thôi. Hơn nữa, Giải Thoát không thể bó gọn trong khuôn viên Chùa, dành riêng cho những tu sĩ, mà tất cả mọi người đều phải đạt được. Phật dạy: “Tất cả chúng sanh là Phật sẽ thành” đâu có chỗ nào nói rằng chỉ riêng các tu sĩ thanh tịnh mới thành Phật? Vì thành Phật đâu có phải là thành Thần Linh hay đạt quả vị cao siêu xuất chúng nào?

Khi chiếc Áo, Cái Đầu, nơi ở, không phải là mục đích của việc tu hành, thì mọi người đều có thể thực hiện được ngay trong cuộc sống thường ngày của mình, để được như lời Phật dạy: “Ở giữa trần gian mà không nhiễm bụi trần”. Mình tu chỉ để mình nhờ không cần ai biết ta đây đang tu hành, thì cần gì phải khoác vào người hình tướng? Hơn nữa, nếu ta đã thật tâm muốn tu hành thì tại sao phải đợi người khác cung dưỡng mới tu được? Sao không chứng minh quyết tâm của mình bằng cách tự mình lo cuộc sống, hòa nhập vào xã hội, góp phần với mọi người để xây dựng đất nước, trong đó vừa tu sửa bản thân, vừa có thể đền được Tứ Ân và không mang nợ của ai? Người không ham mê vật chất giả tạm thì chắc chắn sẽ không kiếm tiền một cách bất chính. Không chèn ép, bóc lột người khác để làm giàu, trái lại dùng hết khả năng của mình đóng góp công sức với đời và làm việc tạo ra tiền bạc để khi cần thì có thể giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn hơn mình. Không để cuộc sống buông trôi một cách vô ích. Giúp người đang lâm vào cảnh khó khăn cũng là giúp Phật, vì tất cả mọi người đều là Phật sẽ thành.

Người xưa cũng nói: “Thứ nhất là tu tại gia. Thứ nhì tại chợ. Thứ ba tại Chùa”. Tu Tại Gia là khó nhất, vì ngoài lo cho bản thân còn phải lo cho cha mẹ, vợ chồng con cái, phải đối phó với cơm áo, gạo tiền, với mọi khó khăn của cuộc đời. Đồng tiền tự mình kiếm ra bằng công sức của mình thì muốn ở nhà đẹp, đi xe sang, dùng đồ hàng hiệu thì đâu có ai cấm, vì tu theo Đạo Phật là tu Tâm chớ đâu có tu trang phục? Nhưng người thật tâm tu hành thì trách cái Thân còn không hết, có đâu phục vụ cho nó? Chẳng phải Đạo Phật cho rằng từ nhiều đời qua, mỗi chúng ta sở dĩ phải trôi lăn trong Sinh Tử Luân Hồi, chìm nổi theo Nghiệp Quả, là vì cưng chiều cái thân mà tạo Nghiệp đó sao? Tu Phật chính là đấu tranh với chính mình, với sự tìm cầu, đòi hỏi cung cấp cho Lục Căn những gì nó ham thích. Kinh Lăng Nghiêm viết: “Chứng Thánh hay đọa phàm cũng do nơi Sáu Căn mà thôi”.

Lục Tổ Huệ Năng dạy: “Phật pháp tại thế gian. Bất ly thế gian giác”. Có nghĩa là không thể rời thế gian mà giác ngộ. Sống giữa đời với bao nhiêu vật chất quyến rũ mà không vì quyền lợi cá nhân mà làm mất tình nghĩa và làm tổn thương, thiệt hại người khác. Biết kính trên, nhường dưới, thương yêu, chăm sóc cho ông bà, cha mẹ, con cái, và làm hết trách nhiệm của mình. Với người chung quanh thì hòa đồng, góp phần với mọi người để xây dựng xã hội, cuộc đời. Đó là những gì mà Đạo Phật mong mỏi tất cả mọi người thực hiện trong cuộc sống giữa đời. Có vậy mới phù hợp với biểu tượng Hoa Sen, nói lên ý nghĩa là sống trong đời mà không bị cuộc đời vùi dập. Chính vì vậy, Lục Tổ khẳng định: “Ly thế mịch Bồ Đề. Cáp như cầm thố giác”. Có nghĩa là “rời thế gian mà tìm Giải Thoát thì cũng như tìm sừng thỏ”. Phải ở trong thế gian đầy phiền não mà không bị thế gian làm cho điên đảo mới gọi là thoát thế gian. Xa rời thế gian, xây tường rào che chắn không cho các pháp đụng tới. Từ y phục cho tới thuốc men, cơm rau, chi phí các thứ đã được người khác cung cấp cho. Không phải phụng dưỡng cho cha mẹ, vợ cũng không có, không có trách nhiệm phải nuôi dạy con, thì có gì ràng buộc, làm cho đau khổ nữa mà cần tìm Giải Thoát? Nhưng né tránh, hay trốn thế gian đâu có nghĩa là Thoát thế gian? Né tránh pháp, trốn pháp, không có pháp nào đến gần sao gọi là Thoát Pháp? Mà nếu không thực tập, đến lúc gặp Pháp thì không Thoát nổi sao gọi là “Chiến đấu thắng Phật”?

Đạo Phật không dành riêng cho giới nào, mà phải phổ cập cho mọi tầng lớp trong xã hội, vì con người ai mà chẳng có đau khổ. Theo Đạo Phật, tất cả những nỗi Khổ đó chỉ là do CHẤP LẦM. Thủ phạm của mọi chấp lầm gây nên đau khổ là cái VỌNG TÂM. Do đó, không cần biết người nào ở địa vị nào, giai cấp nào, già hay trẻ, nam hay nữ. Chỉ cần tìm ra, và điều phục cái Vọng Tâm, thì không những kiếp này hết Khổ, mà vĩnh viễn không mất đi những gì đã đạt được, như vàng đã tách khỏi quặng thì không bao giờ trở lại thành quặng nữa.

Xét cho kỹ, ta thấy người tu Tại Gia có được mấy điểm thuận lợi:

  - Thứ nhất, có thể trực tiếp Đền Tứ Ân qua việc phụng dưỡng cha mẹ, đóng góp cho xã hội bằng trí tuệ hay bằng sức lao động của bản thân. Không lợi dụng người khác cung dưỡng để được nhàn thân mà tu hành vì kết quả tu hành thì chỉ có bản thân người tu nhờ. Người biết đó là món nợ, trước sau cũng phải trả sẽ không dám ung dung vay vì biết rằng không phải Phật cho phép hay mang sắc áo nhà tu thì Nhân Quả không dám đụng đến!

  - Thứ hai, trực diện với cuộc đời, điều phục cái Tâm mình khi đối pháp. Nhờ tiếp xúc với các pháp hàng ngày, người tu tại gia càng có nhiều cơ hội để thực hành hơn, do đó dễ tiến bộ hơn. Và dù cho tu hành không thành công thì cũng không mang nợ bá tánh.

  - Thứ ba, người tu tại gia không Xuất Gia theo văn tự, nhưng họ Xuất gia theo đúng Chánh Pháp, là tìm cách ra Khỏi Nhà Lửa Tam Giới. Họ không cần xa lìa quyến thuộc đời, nhưng rời xa quyến thuộc thật sự, đó là 3 Nghiệp của Thân, và 4 Nghiệp của Khẩu, vì những thứ này mới thực sự là quyến thuộc, do mỗi người tạo ra và sẽ theo mỗi người đến vô lượng kiếp. Kinh viết: “Người tu xong sẽ ‘Độ’ được cho 7 đời quyến thuộc” chính là những quyến thuộc này, không phải là quyến thuộc bên ngoài, vì nếu độ cho quyến thuộc bên ngoài là độ tha, là trái với tinh thần Đạo Phật chân chính.

Đạo Phật luôn hướng con người đến một cuộc sống thực tế, không mơ màng, ảo tưởng, vì mục đích tu Phật là để đối phó với những đau khổ, phiền não của trần gian. Có đạt thành quả xong cũng đâu có về cõi khác để sống, mà vẫn tiếp tục sống trong thế gian, nhưng lúc đó không còn bị thế gian làm cho phiền não, đau khổ nữa. Chính vì vậy mà Đạo Phật dùng biểu tượng là hoa Sen để nói lên cái Thoát. Hoa Sen thì thoát bùn dù vẫn ở trong bùn. Người tu Phật thì Thoát Phiền não dù vẫn chung sống với phiền não.

Nếu trước khi tu học, chúng ta thấy cuộc đời là đau khổ, kiếp sống là BỊ SỐNG với bao nhiêu phiền não bủa vây. Nhờ Quán sát, Tư Duy theo hướng dẫn của Đạo Phật mà ta biết rằng kiếp sống đáng quý bao nhiêu. Có được một thân người đầy đủ và có duyên may gặp được Chánh Pháp là Hai trong Năm điều mà Phật cho là Khó Được. Vì vậy, khi hiểu ra, người tu thấy rằng mình ĐƯỢC SỐNG, được có cơ hội gặp Phật Pháp để tu tiến. Vì thế có biết bao nhiêu ân nghĩa phải đền đáp. Đó là Ân Phụ Mẫu, vì nhờ có cha mẹ sinh ra, bão dưỡng mà ta mới có thân người toàn vẹn để gặp được Chánh Pháp mà học hỏi. Ân Đất Nước đã cưu mang, giữ gìn an ninh, trật tự, điều hòa mọi thứ cho ta tồn tại trong an lành. Sau đó mới đến Ân Tam Bảo đã đưa ra Pháp Giải Thoát để ta học hỏi. Người làm xong cho mình có bổn phận phải truyền đạt lại gọi là “Mồi ngọn Vô Tận Đăng”. Cuối cùng là Ân Chúng Sinh, ân của bao nhiêu người trong xã hội đã cung cấp cho ta đủ mọi thứ cần dùng. Do đó, nếu ta bỏ đời, vô Chùa thì ta chỉ đền được có mỗi Ân Phật, còn ba Ân kia tính sao? Việc phải độc thân, tập trung ở Chùa, không được tham gia việc làm ăn, không được dính dáng tới cuộc đời chỉ đúng vào thời Phật mới khai Đạo, vì lúc đó chưa có chữ viết để lưu lại, tất cả đều do KHẨU TRUYỀN, tức là những gì Phật giảng, Chư Đệ Tử phải học thuộc lòng, mai kia truyền lại. Các Tu Sĩ thời đó lại là lực lượng nồng cốt, rất quan trọng, có sứ mạng phổ biến Đạo. Do vậy mà cần phải độc thân để không bị vợ con quấy nhiễu. Không được làm ăn, mua bán, kinh doanh để đầu óc không bị chi phối, dành trọn thì giờ nghe Phật giảng mà ghi nhớ, nhập tâm, sau đó truyền lại cho lớp kế thừa, đồng thời ở chung nhau là để nhắc nhở, giữ gìn lẫn nhau.

Trải qua cả mấy ngàn năm, những gì mà thời Đức Thích Ca do thiếu ngôn từ, hoặc vì mục đích chiêu dụ mọi người ham thích nên phải dùng nhiều phương tiện, nhiều ẩn dụ cũng đã được Chư Tổ lần lượt khai sáng. Hơn nữa, cho tới thời này thì tài liệu, sách vở tràn lan. Ở đâu cũng có, đâu cần phải học thuộc lòng? Tất cả đã được chư vị Giác Ngộ giảng giải rõ ràng, đâu còn bí mật gì để cần phải tư duy, quán tưởng? Tu Phật là để Thoát Sinh Tử thì thủ phạm làm ra Sinh Tử được Đức Thích Ca nhận diện và vạch mặt chỉ tên từ lâu. Người tu hiện đời chỉ cần nương theo những gì đã được giải thích rõ mà xem xét. Nếu thấy đúng và hợp ý mình thì hành theo mà thôi. Do vậy mà người Tại Gia, dù bận bịu gia đình, làm ăn, nếu thu xếp thời gian, vẫn có thể tu hành và đạt kết quả không khác với người tu ở Chùa.

Việc tu hành mới nghe qua tưởng chừng như vĩ đại, lớn lao. Thành Phật tưởng chừng như thành một vị Thần Linh, cứu độ cho Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, không ngờ tất cả chỉ là phương tiện của Đức Thích Ca đã dùng để khuyến tu, khi hiểu cho rõ thì chúng sanh trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới mà người tu cứu được chỉ là những tư tưởng Tham Sân và Si của chính bản thân người tu mà thôi. Không phải là cứu cho chúng sanh nào bên ngoài, vì nếu cứu cho bên ngoài gọi là Độ Tha thì sai với tinh thần của Đạo Phật!

Một cuộc sống bình thường, trong đó, từng sát na theo dõi, điều phục, chuyển hóa cái tâm, không gây Nghiệp để không những kiếp sống hiện tại được an lành, mà có tái sanh cũng về nơi tốt đẹp. Đó là mục đích của Đạo Phật. Một người tu thì người chung quanh cũng bớt bị phiền hà. Nhân rộng ra thì cả xã hội cũng được yên ổn hơn. Mọi người cùng được sống hạnh phúc, an vui cho đến hết đời. Có như thế thì Đạo Phật mới thật sự đi vào đời sống con người một cách thực tế, phù hợp với cuộc đời, mà xã hội cũng không phí đi một lực lượng trẻ, sức lực dồi dào, lẽ ra để xây dựng cuộc đời.

Thật vậy, bao nhiêu ngàn năm qua, chính do hiểu lầm phương tiện của Đạo Phật mà biết bao lớp người đã bỏ hết mọi việc chỉ để ngồi tụng Kinh, Niệm Phật mong về Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà. Nhưng nếu có đọc kỹ Kinh sẽ thấy: Đông Phương hay Tây Phương với 7 báu đó đó đều là phương tiện của Đức Thích Ca để con người ham thích mà bớt đi tranh giành, ôm giữ của cải trần gian. Thật sự ra tất cả những cảnh giới đó đều ở nơi Tâm của mỗi người, không phải ở trên trời cao hay cõi nào đó xa xôi diệu vợi nào! Chúng ta thử nghĩ. Giả sử có cõi Tây Phương thật sự, thì cõi đó hẳn trên tầng trời cao xa nào đó, tất nhiên là bằng thanh khí, thì làm sao chứa được vàng, bạc, châu báu là vật chất hữu vi? Phật A Di Đà không phải là một vị Phật, mà nói về sự sáng suốt nơi cái tâm đã thanh tịnh, không còn bị ngăn che, chướng ngại. Bởi vậy, Lục Tổ dạy: “Người Đông Phương tạo tội thì mong về Tây Phương. Còn người Tây Phương làm tội thì cầu về xứ nào? Vì người phàm mê muội không rõ Tánh mình, không biết cõi Tịnh Độ trong thân mình nên mới nguyện Đông nguyện Tây. Người giác ngộ dầu ở chỗ nào tâm địa cũng thanh tịnh, an nhiên, nên Phật nói: “Tùy cái chỗ trụ Tâm mà thường được an lạc”. Câu nói của Lục Tổ đã được ghi lại cách đây hàng mấy trăm năm trong Pháp Bảo Đàn Kinh mà hình như ít người tu Phật nào để ý để đối chiếu với hành trì của mình coi có phù hợp hay không. Nếu coi thường lời Phật, lời Tổ thì ta sẽ tu theo hướng dẫn của ai? Kết quả sẽ về đâu?!

Phần người đã xuất gia tu hành, lẽ ra phải biết rằng chính cái Tìm cầu, chạy theo đòi hỏi của Lục Căn là nguyên nhân gây ra Nghiệp báo, lôi mỗi chúng ta vào Sáu Nẻo Luân Hồi từ vô lượng kiếp đến nay. Vì thế, khi xuất gia tu hành chính là vì muốn hết Khổ, muốn kết thúc Vòng Luân Hồi, được Giải Thoát vĩnh viễn. Hơn ai hết, người tu sĩ cần phải hiểu rõ ý nghĩa và giá trị của Bộ Y mà mình đang khoác lên người để trân trọng nó và thực hiện cho đúng tính cách mà Phật muốn người mang nó thể hiện. “Hoại Sắc” tức không còn bị sắc trần lôi cuốn! Khất Thực cũng thế. Đâu có phải là đi xin vật thực tầm thường để dưỡng cái thân phàm cho khỏi đói, mà là Khất Pháp Thực để nuôi dưỡng Pháp Tánh! Người không hiểu điều đó thì dù có mang bát đi xin bao nhiêu kiếp cũng không đạt được kết quả mà Đạo Phật mong mỏi.

Đạo Phật đã được khai mở cách đây đã gần 3,000 năm rồi. Việc tu hành lẽ ra phải được đại chúng hóa từ lâu rồi, vậy mà đến giờ này vẫn còn dành riêng cho những bậc Xuất Gia. Ai muốn tu hành cũng đều phải “ly gia”, “cắt ái”. Không ngờ rằng Xuất Gia là Rời khỏi Nhà Lửa Tam Giới. Cắt Ái là cắt đi sự ái luyến, phục vụ cho cái Thân này. Nếu Xuất Gia theo đúng nghĩa như thế thì đâu cần rời bỏ gia đình? Vì cái Gia cần Ly đâu phải là cái Nhà hữu tướng? Do cứ “Y Kinh giải nghĩa” mà làm cho Đạo Phật không phổ cập được cho mọi người quả là điều đáng trách cho những ai có trách nhiệm phổ biến Đạo mà không chịu học hỏi cho hết nghĩa của lời Phật dạy!

Thật ra, chính những người cư sĩ trực diện đối mặt với cuộc sống, hàng ngày phải đối phó với các pháp, mới là người thực hiện đúng lời Phật dạy hơn. Họ tu cho bản thân nên không cần hình tướng, mà thầm lặng, trực tiếp đi thẳng vào Tâm, tu sửa ở đó, không cần ai biết để nể trọng, cũng không thọ sự cúng dường của ai, vì biết mình tu chỉ để mình nhờ, và Nhân Quả không mất. Chính họ là người chứng nghiệm sự Giải Thoát rõ ràng nhất qua thường xuyên phải đối phó với các pháp, với gia đình, với mọi thành phần trong xã hội, với cơm, áo, gạo, tiền để phục vụ cuộc sống hàng ngày. Người trang bị cho mình đầy đủ kiến thức Đạo thì sẽ tiến rất nhanh, vì quanh mình lúc nào cũng gặp Pháp!. Nhưng người đời không thể hiểu nổi nên đánh giá thấp người tu tại gia, bởi quen nhìn hình ảnh người tu qua hình tướng đầy đủ, quên rằng “Chiếc áo không làm nên thầy tu”!

Vì thế, theo tôi, chỉ những người không hiểu thế nào là tu hành mới cho rằng phải vô Chùa, phải có sắc phục, hình tướng đầy đủ thì mới tu được. Họ không biết Tu chỉ có một nghĩa là Sửa. Chức danh Tỳ Kheo đúng ra không phải do thầy đặt cho Đệ Tử sau khi học đầy đủ các lễ nghi, hoàn tất giai đoạn tu học nào đó, mà có nghĩa là Khất Sĩ, Bố Ma, phá ác. Sa Môn cũng có nghĩa là viễn ly, ly dục, ly những pháp bất thiện, Như vậy, người nào thực hành những điều trên mới thực sự là Tỳ Kheo, là Sa Môn. Chiếc áo, cái đầu, thời gian tu học, sự ấn chứng của thầy đâu có bảo đảm cho người thọ nhận có những hạnh đó?

Trang phục của Tu Sĩ dù đã được Đức Thích Ca thiết kế cả mấy ngàn năm rồi, nhưng không chỉ đơn thuần là hình ảnh, màu sắc để ai nhìn vào cũng biết đó là tu sĩ của Đạo Phật, mà mỗi hình ảnh, mỗi từ đều nói lên những điều mà người mang nó cần thực hiện. Người đã hiểu, đã hành, đã thâm nhập thì đâu cần mang hình ảnh đó trên người để lúc nào cũng được nhắc nhở nữa. Ngược lại, người mang hình tướng đầy đủ mà không hiểu, không hành thì chẳng có ích lợi gì đối với họ. Đôi khi lại sống bất xứng, thì chính họ đã bôi bác hình ảnh của Đạo Phật. Chưa dừng ở đó. Với màu áo tu hành, nhiều người hiểu chưa đúng Đạo Phật xa xưa cũng mở ra giảng dạy rồi đã truyền bá những kiến thức không phải là của Đạo Phật chân chính cho Đệ Tử, cho tín đồ. Mọi người đã tin là thật, rồi lớp này truyền cho lớp khác. Thế hệ trước truyền cho thế hệ sau. Hậu quả là cho tới thời này thì Phật không còn mang ý nghĩa Giải Thoát nữa, mà đã trở thành Thần Linh để mọi người cầu xin phù hộ, độ trì, hoàn toàn khác với Đạo Phật do Đức Thích Ca giảng dạy và Chư Tổ chính thức được truyền Y Bát tiếp nối được ghi chép trong các Bộ Chính Kinh! Nhưng biết làm sao được, khi mà con người thấy rằng việc tu hành, tự độ khó khăn hơn là chỉ cần bỏ tiền mua vài nén hương, chút lễ vật để cầu xin!

Không biết tới bao giờ những hiểu biết sai lầm như thế mới được giải tỏa, trả lại cho Đạo Phật một hình ảnh thanh tịnh, trong sáng, không nhuốm mùi mê tín, thần quyền, chỉ tin vào Nhân Quả, và mọi người ai cũng có thể tu hành được, không luận già, trẻ, nam, nữ, trong chùa hay ngoài chùa. Tôi tin rằng khi mọi người chịu khó đọc Chính Kinh thì sẽ thấy có quá nhiều điều đã bị diễn giải sai lạc, nếu cứ tiếp tục đi theo đó thì chẳng biết sẽ về đâu! Hy vọng càng đến thời điểm Chánh Pháp ra đời là thời điểm nhắc nhở mọi người để tìm về với một Đạo Phật thật sự như lời Lục Tổ Huệ Năng: “Bất ly thế gian giác”, tức không rời trần gian, vẫn thực hiện đầy đủ trách nhiệm một con người của gia đình, của xã hội mà vẫn giác ngộ như mục đích của Đức Thích Ca khi mang Đạo Phật vào đời. Có như vậy xã hội sẽ ngày càng tốt đẹp hơn bởi nhiều người ý thức sứ mạng của mình với cuộc đời. Không dối trên, lừa dưới để làm giàu bất chính, hay tư túi, đục khoét để tích lũy riêng, mà chung tay xây dựng để trả ơn đời, đúng như tinh thần Đạo Phật chân chính mong mỏi vậy.

 

Tháng 6/ 2017




. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 21.7.2017.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004