Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (44)



Tam Giáo Đồng Nguyên Thời Lý







Đ ức vua Lý Thái Tổ khai sáng nhà Lý, được dạy bài bản, uyên thâm, văn võ song toàn theo Phật Pháp.

Các nhà nghiên cứu nhận định. Trong các tôn giáo Đại Việt thời Lý, khi Lý Thái Tổ làm vua, Phật giáo có ảnh hưởng nhiều nhất. Nho giáo và Đạo giáo cũng tác động đến đời sống chính trị xã hội. Thời Lý, bên cạnh tín ngưỡng dân gian truyền thống, có tư tưởng Tam giáo đồng nguyên, coi trọng cả ba tôn giáo này.

Trong xã hội lúc đó, đang tồn tại ba tôn giáo Nho, Phật, Đạo. Mỗi tôn giáo này, có một vị giáo chủ.

Phật do đức Thích Ca Mâu Ni sáng lập.

Đạo, do Lão Tử khai sáng.

Nho, do Khổng Tử hoàn thiện học thuyết.

Chính thể Thuận Thiên của  Lý Thái Tổ tuyên bố một đường lối chính trị công khai và minh bạch. Đó là Tam giáo đồng nguyên.

Sự giao thoa của triết lý Phật, Đạo, Nho

Phật giáo đã dạy Lý Công Uẩn nhìn thấu vũ trụ. Nhận rõ quá trình biến đổi (Vô thường) Sinh, Diệt, Hư, Thực, chuyển biến không ngừng của con người và Thiên nhiên. Vạn vật chuyển vần theo quy luật Thành, Trụ, Hoại, Không. Mọi vật được cấu thành, trụ một thời gian, biến chuyển theo phương hủy hoại, rồi lại trở về cái Không, tức là Một hay cái Chân Như.

Đạo Lão là học thuyết của Lão Tử, đã dạy Lý Công Uẩn cái Một và nguyên lý vạn vật đồng nhất thể.

Cái Đạo của Lão Tử đồng nhất với cái Một của Phật giáo. Lão Tử viết:

        Cái mà ta nhìn nhưng không thấy, gọi là cái vô hình.

        Cái mà ta lắng nghe, nhưng không nghe được gọi là cái vô thinh.

        Cái mà tay ta sờ, nhưng không nắm bắt được, gọi là cái vô xúc.

        Không có cái nào trong ba cái đó ta phân tích được.

        Vì chúng hợp lại thành Một.

Như thế Lão Tử thừa nhận sự tồn tại của một thực thể Chân Không. Cái không nghe được, không thấy được, không sờ được, ông gọi là Đạo. Cái Chân Không (Đạo) đó luôn biến đổi, vô hình, yên lặng ở trạng thái nguyên thủy của nó, khi chưa có Đất và Trời.

Cái Chân Như trong Phật giáo mang tính chất của cái Chân Không (Đạo) của Lão Tử.

Triết học Thiên- Địa- Nhân hợp nhất của Tổ Tiên Việt dạy Lý Công Uẩn nguyên lý Con người là tiểu Vũ trụ, Trời Đất Người là Một, như quan điểm của Lão Tử và Đức Phật.

Nho giáo (Khổng giáo) là học thuyết của Khổng Tử.

Khổng Tử còn gọi là Khổng Phu Tử (551- 479 TCN) là một nhà tư tưởng, nhà triết học, nhà giáo dục, nhà chính trị nổi tiếng người Tàu. Các bài giảng và triết lý của ông về mối quan hệ con người trong xã hội, ảnh hưởng sâu rộng đối với đời sống và tư tưởng của các dân tộc Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc và Việt Nam. Người Tàuz tôn xưng ông là Vạn thế Sư biểu (Bậc thầy của muôn đời).

Triết học Khổng Tử nhấn mạnh sự tu dưỡng đức hạnh cá nhân và cai trị bằng đạo đức. Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Các đức tính "Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín" tạo ra các mối quan hệ xã hội, đạo đức và quy phạm làm người theo nguyên lý Trung Dung.

Những người thực hành theo các tín điều của Nho giáo được gọi là các nhà Nho, Nho sĩ hay nho sinh.

Học thuyết Khổng Tử chú trọng xây dựng mối quan hệ bình hòa (Trung Dung) giữa người với người trong xã hội. Nhưng tầm tư duy của Khổng Tử vẫn hòa vào Một với cái Chân Như của Phật, cái Chân Không của Lão Tử. Khổng Tử nói:

Làm thế nào một con ếch ngồi đáy giếng có thể hiểu được sự bao la của đại dương hay sự cao rộng của bầu trời?

Sự giao thoa Nho, Lão, Khổng là luật Đất Trời Người. Một con người trở thành Minh triết, nếu biết thực hành Tam giáo đồng nguyên trong kiếp sống hữu hạn. Một xã hội cai trị theo Tam giáo đồng nguyên sẽ thịnh trị, thái bình.

Tâm linh Phật, Thiên nhiên Đạo, Trật tự Nho

Lý Công Uẩn là một con người Minh triết. Lý Công Uẩn thông thấu cả ba tôn giáo Phật, Lão, Nho, nên đã chắt lọc Tinh hoa trong ba tôn giáo này, thành tư tưởng cai trị Tam giáo đồng nguyên. Đó là xã hội theo Trật tự Nho, Tâm linh Phật, Thiên nhiên Đạo.

Nhà văn Hoàng Quốc Hải phân tích về mối quan hệ Tam giáo đồng nguyên thời Lý:

Sở dĩ nói "đồng nguyên" là bởi mục tiêu tối thượng của cả ba tôn giáo này đều hướng tới tính thiện, tính nhân văn. Và nhà Lý chiết xuất ra ở mỗi dòng đạo những điều ưu việt nhất làm định hướng căn bản cho việc xây dựng xã hội. Đó là: Xã hội Nho - Tâm linh Phật - Thiên nhiên Đạo. Muốn tổ chức một xã hội có kỷ cương trật tự, có lề luật chặt chẽ thì không thể không dựa vào sự ràng buộc của tam cương, ngũ thường của Nho giáo.

Nhưng điểm yếu nhất của Nho giáo là vị kỷ, là phân chia đẳng cấp, là trọng giàu khinh nghèo, trọng nam khinh nữ… sẽ tạo ra nhiều nhân tố bất ổn cho xã hội. Vậy muốn điều chỉnh nó thì con người phải biết tôn trọng lẫn nhau, sống trong hiếu hòa, hiếu thiện và từ bỏ lòng tham lam ích kỷ, sân hận cố chấp, để tiến tới giác ngộ mà giải thoát ra khỏi cám dỗ vật chất của đời thường, và để đạt tới sự tiến hóa ấy thời phải lấy tâm linh Phật làm cứu cánh. Lại nữa con người cùng với muôn loài được sinh ra dưới ánh mặt trời kể cả các loài thấp sinh, noãn sinh và thảo mộc đều bình đẳng.

Vì vậy Lão Tử chủ trương muôn loài phải nương tựa vào nhau, cùng tồn tại chứ không loài nào được chèn ép loài nào. Con người cũng như các loài khác phải tôn trọng thiên nhiên, như Thượng đế đã an bài. Do đó, cái thiên nhiên sinh tồn phải là thiên nhiên Đạo.

Văn hóa Việt cổ và Tam giáo đồng nguyên

Tam giáo đồng nguyên là Triết lý nhân sinh, đồng thời là tư tưởng chính trị cho xã hội thời Lý.

Các nhà nghiên cứu khẳng định. Nhân sinh quan đó, bắt nguồn từ truyền thống Văn hóa Việt tộc. Với tư tưởng Thiên Địa Nhân hợp nhất và Đạo Mẫu Hương Vân Cái Bồ Tát mà Đỗ Quý Thị đã tu hành đắc đạo. Nó được thăng hoa khi gặp tính Minh triết nguyên thủy của giáo lý Phật. Tự khắc có một sự dung hợp kỳ lạ, là một sự trợ duyên, để dân tộc ta đến với Phật giáo. Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc Việt nhờ Đạo Mẫu.

Nhà Lý tôn đạo Phật làm Quốc đạo. Song không vì thế mà ức chế, cấm đoán, triệt tiêu các dòng đạo khác. Trong việc cai trị, nhà Lý đã ứng dụng Tinh hoa của Nho, Phật, Lão vào từng lĩnh vực.

Nho giáo đã biến thành các định chế pháp luật, trong tổ chức bộ máy cai trị. Để quản trị các tôn giáo khác, nhà nước bổ nhiệm một vị Tăng quan gọi là Hữu nhai tăng thống, một vị Đạo quan gọi là Tả nhai đạo lục. Việc tổ chức bộ máy nhà nước thời Lý thể hiện tính dân chủ, bình đẳng và chân thực của giáo lý Phật. Tính bác ái, nhân văn được thể hiện trong chính sách cai trị của nhà Lý qua Nho giáo. 

Nhà nước chọn quan lại có các phẩm chất Trí, Đức, Dũng, Trung, Tín. Không phân biệt nguồn gốc tôn giáo. Tuy vậy ai là quan của triều đình, phải hiểu thông Tam giáo (Phật- Nho- Lão). Điều này, về sau trở thành định chế quốc gia. Nghĩa là khi các thí sinh đã đỗ Minh kinh bác sĩ (Tiến sĩ), còn phải thi Tam giáo. Trúng tuyển Tam giáo mới được bổ nhiệm. 

Kinh Dịch trên Trống Đồng và Việt Nho

Ngày 29- 3- 2014. Chúng tôi có cuộc trao đổi với nhà nghiên cứu Kinh Dịch Nguyễn Đức Dục (Hồng Quang). tại Hà Nội. Tuổi 90, phong độ như Lão Tử. Ông đi xe đạp, uốn lượn, len lỏi qua những con phố nhốn nháo ô- tô, xe máy, xe đạp, xe công nông… từ đường Lạc Long Quân (đê Nghi Tàm) đến Lý Nam Đế cùng chúng tôi.

Ông nói:    

   - Hậu quả của nghìn năm Bắc thuộc. 1137 năm đô hộ, họ tiêu hủy, đánh tráo nền Văn minh Bách Việt. Làm cho chúng ta hôm nay gặp nhiều khó khăn trong việc đi tìm nguồn cội, Tổ Tiên. Song thực tiễn Đất Nước, Sông Núi, Biển Đảo, Anh linh, hiện vật khảo cổ, linh vật, ký ức cộng đồng dân tộc, Tâm linh Tổ Tiên… là thước đo giá trị đích thực, đã bảo tồn cho chúng ta tất cả. Còn đây, Trống Đồng hội đủ Tinh hoa Bách Việt để ta tìm về Tổ Tiên Việt.    

Tôi có ký ức mấy chục năm bộ đội, làm phiên dịch tiếng Trung. Tôi học thêm tiếng Anh, Nga, nghiên cứu Trung, Mỹ, Pháp, Nga… Tôi nhận ra ai cũng yêu Đất Nước của họ. Tổ quốc và đồng bào trên hết. Năm 1970, hạnh phúc lớn nhất đời tôi là đón được bố mẹ mình về nước sau 34 năm sống tại Trung Quốc.   

  62 năm sau. Tôi trở lại Bắc Kinh gặp các bạn nghiên cứu. Họ bảo “Khổng Tử chỉ tiếc một điều là không biết Kinh Dịch. Nay chúng tôi cũng chưa giải mã được Kinh Dịch. Không tìm ra Phục Hy là ai?”.

Tôi bảo: “Phục Hy là cụ Tổ của dân Bách Việt. Còn mộ và nhiều nơi thờ tại Kinh đô Phong Châu Việt cổ vùng Thanh Oai, Ba Vì, Hà Nội ngày nay”.

Mấy chục năm tôi mở khóa Kinh Dịch bằng khả năng khai ngộ. Tôi công bố nghiên cứu Kinh Dịch trên Trống Đồng. Hoa văn Trống Đồng với nền Văn minh Lạc Hồng. Chứng minh Kinh Dịch là sáng tạo của nền Văn minh lúa nước sông Hồng. Những vạch liền, vạch đứt, những người, chim, thú, Mặt Trời, Âm- Dương, ngược chiều kim đồng hồ… trên Trống Đồng là toàn bộ Kinh Dịch.    

Tôi chứng minh Việt Nho có trước Nho giáo và Khổng giáo. Chữ Nho của người Việt cổ đại có trước chữ Hán. Chữ Nho Việt không phải chữ Hán.    

Tôi nghiên cứu thấy cả thế giới đều thờ Mẹ và tư duy theo Tứ linh (Anh linh, Tâm linh, Siêu linh, Huyền linh). Tứ linh của Việt Nam là Tứ bất tử (Mẫu Liễu Hạnh, Tản Viên, Chử Đồng Tử, Thánh Gióng). Đó là Mẹ, là núi, sông, nước, đất, con người, trong cảm thức (Anh linh, Tâm linh, Siêu linh, Huyền linh). Nếu không có cảm thức Tứ linh, con người bất chấp mọi thứ. Dày đạp lên tất cả. Cá lớn nuốt cá bé. Người ứng xử với người bằng cơ bắp, búa đao, thuốc nổ…    

Việt Nam có đủ Tứ linh và Đạo Mẫu Phật Việt. Tứ bất tử là Tứ linh Việt. Đó là nền tảng Đạo đức Bách Việt buổi bình minh, nay rạng rỡ tỏa sáng. Người Việt hiện nay, khả năng ngộ Đạo rất cao. Nhiều người sống trong sạch, được ơn trên khai ngộ.    

Bản thể vũ trụ là Tinh thần. Là Tứ linh. Con người ta sinh ra từ đâu? Khi chết đi về đâu? Là Tứ linh. Con người không thể sống Vô Đạo đức. Vô trách nhiệm. Vô lương tâm. Vô nhân đạo. Vô Thần. Vô cảm.

Con người, Trời Đất, Vạn vật tương tác. Nhân quả hiện liền… Âm- Dương giao hòa. Thiên Địa Nhân hợp nhất.    

Nhà nghiên cứu Hồng Quang đã vẽ đủ bộ sơ đồ Kinh Dịch trên Trống Đồng dễ hiểu, dễ học.

Triết gia Lương Kim Định nghiên cứu Việt Nho

Giáo sư Lương Kim Định (1915- 1997) là linh mục Việt Nam. Ông có công lớn trong việc xây dựng nền tảng triết học Việt Nam (mà ông gọi là Việt Triết hay Việt Nho). Kim Định nhận thấy có những điểm tương đồng giữa Văn hóa Việt Nam với nền văn hóa bản địa của Tàu.

Khoa khảo cổ đã ghi nhận về việc Tàu không phải là một chủng tộc. Không có Văn hóa trước khi lập nước Tàu. (1-The Origins of Chinese Civilization thuyết trình tại hội nghị Berkeley, 1978 và cập nhật hóa 1980. In thành sách University of California Press, 1983; 2- The Chinese Heritage, Wu, in tại Crown Publisher, New York, 1982. Tiến sĩ Wu vừa là đại sứ kiêm học giả).

Người Hoa Hán là dân du mục từ Tây Bắc đến và lai giống với dân bản thổ, và về sau trở thành dân nông nghiệp, trồng lúa khô. Nhờ có thuận lợi chính trị, họ thống nhất cả một vùng mênh mông thành nước Trung Quốc ngày nay. Họ công thức hóa các Văn hóa bản địa, thành Ngũ Kinh và Tứ Thư, nền tảng của Nho giáo nước Tàu.

Văn hóa bản địa cổ xưa, thuộc lãnh thổ Tàu ngày nay có gốc cội là văn hóa Bách Việt. Chính Đức Khổng Tử nói rằng ngài không sáng tác kinh điển, mà chỉ san định, thuật lại đạo cổ xưa. Khổng Tử nói: “Đem đức nhu thuận mà sửa đổi, tha thứ cho kẻ vô đạo, đó là cái dũng của người phương Nam, người quân tử theo đạo đó”. Các Thánh hiền mà Khổng Tử noi theo như Vua Nghiêu, Vua Thuấn đều thuộc Tứ Di, mà Tứ Di là Bách Việt      

Chế độ tự trị xã, thôn với bình sản và tôn trọng con người qua việc nặng về tục lệ hơn pháp luật Phép vua thua lệ làng. Trong thời Lê ở nước ta, một thời có óc độc lập chống Tàu hơn hết, cũng là thời Nho giáo phát triển rất mạnh. Đó là vì cái phần trổi vượt của Nho là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín… là nền tảng của Văn hóa Việt Nam. Vua quan Việt chống Tàu, nhưng không chống Nho giáo.     

Khi nhà Tần thôn tính các nước nhỏ đến khi toàn thắng và nhà Hán diệt nhà Tần mượn danh hiệu Nho để đặt nền móng cai trị. Nhưng đó là pháp gia, hình gia. Không phải Nho gia. Nho có nghĩa là Nhu. Nhu vừa là nhu yếu, đáp ứng được những nhu yếu thâm sâu của con người. Nhu vừa có nghĩa là nhu thuận, hiền hậu. Khi Đức Khổng Tử trả lời câu hỏi của Tử Lộ hỏi về sức mạnh, ngài trả lời rằng cái sức mạnh nào? Của Bắc phương hay của Nam phương? Và ngài theo cái đạo khoan nhu, không báo thù kẻ vô đạo của phương Nam.

Quan niệm này ngược hẳn lại với Nho gia pháp hình của Tần, Hán. Hán Nho làm sa đọa Nho nguyên thuỷ. Lương Kim Định gọi Việt Nho để phân biệt với Hán Nho bị sa đoạ từ thời Tần, Hán cho tới sau này, của bộ não cai trị. Đạo Nho đã là của Việt tộc từ đời xa xưa, dù có bị tiêu trầm, nhưng Việt Nho vẫn giữ gìn được phần nào ở nơi xa triều đình, trong đời sống dân quê xã, thôn.

Hán Nho xâm nhập Việt Nam

Sĩ Nhiếp (137 - 226) là Thái thú cai trị quận Giao Chỉ từ 187- 226 cuối thời Đông Hán, đầu thời Tam Quốc trong lịch sử nước Tàu.

Có thể nói Sĩ Nhiếp là một trong những người mở đường cho Nho giáo vào cai trị Việt Nam.

Sách Đại Việt sử lược viết:

Sĩ Nhiếp học vấn đã uyên bác, chính sự lại giỏi giang, trong thời đại loạn đã bảo toàn được một phương, hơn hai mươi năm trong cõi được vô sự, dân chúng được lạc nghiệp, uy đức hơn người. Khi đi lại thì rung chuông khánh, đủ lễ nghi, trống vang kèn nổi, rầm rộ trên đường, có vài chục vợ ngồi xe căng màn- Uý Đà cũng không bằng được.

Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư : Nước ta thông Thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương, công đức ấy không chỉ ở đương thời mà còn truyền mãi đời sau, há chẳng lớn sao.

Nhà sử học Lê Tung viết: "Sĩ Vương tập theo phong hoá của nước Lỗ, học vấn rộng khắp, khiêm tốn với sĩ phu, đổi tục nước bằng Thi thư, sửa lòng người bằng lễ nhạc, trị nước hơn 40 năm trong cõi vô sự".

Đền thờ Sĩ Nhiếp ở Tam Á, Thuận Thành, Bắc Ninh thờ Sĩ Nhiếp là ông Tổ của nghề dạy chữ Hán. Đền có bốn chữ Hán Nam Giao Học Tổ.

Chữ Hán vào Việt Nam theo con đường giao lưu văn hóa bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ nhất TCN. Hiện nay, ở Việt Nam còn lưu giữ được số hiện vật như đỉnh cổ có khắc chữ tượng hình (chữ Hán cổ). Chữ Hán cổ xuất hiện ở Việt Nam khá sớm, trở thành phương tiện ghi chép và truyền thông trong người Việt kể từ những thế kỷ đầu CN trở đi.

Đến thế ký VII- XI chữ Hán và tiếng Hán ngày càng rộng rãi ở Việt Nam. Tiếng Hán được dùng như một phương tiện giao tiếp, giao lưu kinh tế, thương mại với nước Tàu. Việt Nam bị ách đô hộ của nước Tàu hơn một ngàn năm, vì vậy hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán. Từ sau thế kỷ thứ X, tuy Việt Nam giành được độc lập tự chủ, thoát Tàu thống trị, nhưng chữ Hán và tiếng Hán vẫn tiếp tục là một phương tiện trong triều chính và Văn hóa Việt Nam.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Tài Thư xác định vai trò của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam độc lập, tự chủ.

Sau khi giành được độc lập dân tộc ở đầu thế kỷ X, Ngô Quyền đã xoá bỏ chế độ quận huyện của nhà Hán và xây dựng nên một chính thể độc lập, tự chủ. Nhưng Ngô Quyền lúc đó, dựa trên di sản của thời kỳ Bắc thuộc để lại, gồm cơ cấu xã hội, con người, học thuyết, tín ngưỡng, trong đó có Nho giáo.

Các triều đình Việt Nam đã lựa chọn, kế thừa và cải tạo lý luận Nho giáo, hợp với cuộc sống của dân tộc Việt. Các nguyên lý như mệnh trời, chính danh, tam cương, ngũ thường, trung hiếu lễ nghĩa của Hán Nho, đã trở thành nền tảng tư tưởng cho các triều đình Việt Nam tổ chức hệ thống cai trị. Quy định các sinh hoạt chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hoá, phong tục tập quán… mang sắc thái Việt Nam.

Loạn 12 sứ quân đầu thế kỷ X. Nội bộ hai triều Đinh và Tiền Lê luôn diễn ra cảnh giết lẫn nhau để chiếm đoạt ngôi vua, đã khiến đất nước vừa mới độc lập, lại có nguy cơ mất nước. Tình hình đó đòi hỏi phải có một chính thể quân chủ tập trung, thống nhất tư tưởng cai trị.

Nhà Lý đã đáp ứng được yêu cầu này. Nho giáo với lý thuyết vua là do mệnh Trời sắp đặt. Người làm vua phải có đức. Vua ra vua, bề tôi ra bề tôi, bề tôi phải trung với vua… đã giúp nhà Lý xác lập và củng cố chế độ trung ương tập quyền. Tạo cho họ sức mạnh để ổn định được bên trong và đề kháng được bên ngoài.

Nho giáo là hệ tư tưởng để quản lý xã hội. Phật giáo là quốc giáo. Đạo giáo có ảnh hưởng trong các tầng lớp dân cư. Thời Lý Cao Tông, nhà Lý chính thức tổ chức các kỳ thi Tam giáo. Việc thi cử bằng Tam giáo phản ánh tam giáo đồng nguyên thời Lý.

Các triều đại Trần, Lê Sơ đã tiếp tục khai thác và dùng các yếu tố tập quyền và thống nhất của Nho giáo để xây dựng triều đại.

Đạo giáo vào Việt Nam

Đạo thờ Lão Tử làm giáo chủ, gọi là Thái Thượng Lão Quân, như là hóa thân của Đạo giáng thế. Đạo giáo truyền sang Việt Nam, chia thành hai phái. Đạo giáo Phù thủy dùng pháp thuật trừ tà, trị bệnh giúp người dân quê khỏe mạnh, và Đạo giáo Thần tiên dạy tu tiên, luyện thuốc trường sinh bất tử cho giới quí tộc.

Đạo giáo du nhập vào Việt Nam khoảng cuối thế kỷ thứ II. Theo Đại tạng kinh là Kinh thánh của Đạo giáo, sau khi vua Hán Linh Đế băng hà, xã hội Tàu rối loạn, chỉ có đất Giao Châu được yên ổn. Người Tàu sang Giao Châu lánh nạn, có các đạo sĩ luyện phép trường sinh. Nhiều quan lại Tàu sang cai trị nước ta, cũng dùng những phương thuật ấy. Cao Biền đời Đường cai trị Giao Châu, đi lùng khắp nước ta để tìm cách yểm huyệt cắt đứt các long mạch không cho phát sinh đế vương và  nhân tài.

Các đạo sĩ ngày xưa được các vua chúa coi trọng không khác gì các cao tăng.  Các vua Đinh, Lê, Lý, Trần đều chọn các tăng sư và đạo sĩ vào triều làm cố vấn. Bên cạnh tăng quan có cả chức đạo quan. Đến đời Trần, năm 1247 đời vua Trần Thái Tông, có mở khoa thi Tam giáo. Thi Nho giáo, Phật  giáo, Đạo giáo.

Có sự hòa hợp ba tôn giáo là nhờ vua quan, dân Việt thời xưa nhận thức Nho, Phật, Lão là phương tiện bảo vệ luân lý làm người. Các vua Việt Nam anh minh, phân biệt rõ kẻ lợi dụng tôn giáo mê tín. Mỗi khi trong triều hay ngoài dân gian phát hiện những hiện tượng mê tín, dị đoan, hay có kẻ lợi dụng tôn giáo để tham nhũng, thì lập tức hạ lệnh ngăn cấm, trừng phạt. Lý Thường Kiệt (1019- 1105) thải hồi hơn nửa số thuộc hạ của ông về tội lợi dụng mê tín của dân, để kiếm tiền.

Tam giáo đồng nguyên trong Văn học- Nghệ thuật

Văn thơ, Văn học, Nghệ thuật Việt Nam xưa, hầu hết các nhà Nho Việt Nam, nhờ đọc Đạo Đức Kinh, Nam Hoa Kinh hay thi văn cổ Trung Hoa, đều chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp những tư tưởng của Lão Tử, Trang Tử.

Nguyễn Trãi (1380- 1442) cáo quan về ở ẩn tại Côn Sơn, có nhiều câu thơ ca tụng thú thanh nhàn (một bầu phong nguyệt) tiêu dao tự tại giữa thiên nhiên, đúng với lời dạy trong Đạo Lão:

Chữ nhàn xưa chép lời  truyền bảo,
Khiến chớ cho qua một Đạo thường. 

Thế kỷ 15- 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491- 1585) là nhà Nho nhưng lại có Sấm Trạng Trình và thơ thấm nhuần thuyết Trang Tử:

Ngày ngày thong thả nhàn vô sự
Tuy chửa là Tiên, ấy ắt Tiên…

    

(… Còn tiếp ...)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 29.6.2017.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004