Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



VĂN CHƯƠNG NAM BỘ

VÀ

CUỘC KHÁNG PHÁP 1945 - 1950







KỲ THỨ 7


CHƯƠNG IV


VĂN CHƯƠNG NAM BỘ

GÓP PHẦN VÀO CUỘC KHÁNG PHÁP



N goài những điều trình bày vạch trần thực chất của công cuộc cai trị, những điều mô tả có mục đích tạo lòng căm phẫn nơi người đọc đối với bọn thực dân, nhà văn Nam Bộ còn góp một phần lớn vào công cuộc kháng Pháp 1945 - 1950. Sự đóng góp nầy thể hiện bằng cách kêu gọi người dân lên đường kháng chiến, giúp ích quốc gia và vẽ ra hình ảnh hào hùng của người cách mạng.

Kêu gọi có tác dụng đánh thức những người thờ ơ với công cuộc chung hay không tin tưởng vào sự thành công, chỉ dẫn cách giúp ích quốc gia ích lợi ở chỗ tăng thêm tiềm năng chiến đấu; mô tả hình ảnh người hùng sẽ tạo được tâm lý nô nức, hăng hái...


A- Những tác giả kêu gọi lên đường kháng Pháp.


Tác phẩm thời nầy đặt trọng tâm vào việc làm thế nào cho người đi kháng chiến càng đông đảo càng hay, trong mục tiêu đó, nhà văn chia nhau đề cập đến ba vấn đề:

1/- Ngọc Dương với quyển Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam (3),

- Nguyễn Bảo Hoá với quyển Nam Bộ chiến sử

- Trúc Khanh với bài thơ Có phải từ xưa? (4),

- Vũ Anh Khanh với thi phẩm trường thiên Chiến sĩ hành (5) và truyện dài Cây ná trắc (6),

- Đằng Phương với tập thơ Hồn Việt (7),

- Hoài Tân với truyện dài Về thành (8),


nhắc lại truyền thống oai hùng của dân tộc trước đây đã anh dũng chống lại những cuộc ngoại xâm, giải bày cho độc giả thấy người Việt Nam không thể tách mình ra khỏi truyền thống đó.


2/- Lý Văn Sâm với truyện dài Chiếc vòng ngọc thạch (9),

- Nguyên Khoa với bài Bài học người mù (10),

- Hoài Tân với truyện dài Về thành,

- Vũ Anh Khanh với truyện ngắn Saigon ơi! (11),

- Sơn Khanh với tác phẩm Tàn binh (12),

- Hoàng Tấn với thiên bút ký Cứu lấy quê hương,


cho rằng những kẻ đứng bên lề cuộc chiến hay chưa đi hết đoạn đường tranh đấu, đương nhiên đứng về phía thiểu số ươn hèn, đáng phỉ nhổ, không đủ tư cách làm người Việt Nam trong thời loạn.


B- Những tác giả vạch ra cách phục vụ quốc gia theo hoàn cảnh của từng cá nhân:


Ngoài số người có thể cầm súng giết giặc và những người vì lý do riêng không thể thực hiện được công việc nầy, nhà văn vạch ra những đường lối phục vụ quốc gia khác để tận dụng những tiềm năng đó:


- Vũ Anh Khanh với các truyện Cây ná trắc, Nửa bồ xương khô và truyện ngắn Đèn Sàigòn (13),

- Lý Văn Sâm với các truyện ngắn Rửa hờn và Thêm một ngọn đèn (14),

- Nguyễn Xuân Mỹ với truyện ngắn Lẽ sống của người bịnh (15),

- Dương Tử Giang với truyện dài Tranh đấu,

- Sơn Khanh với truyện dài Giai cấp (16),

- Hoàng Kim với tác phẩm Bên mồ (17),

- Đặng Thị Thanh Phương với truyện dài Những tia nắng mới (18),

vạch ra cho người đọc một con người mới: người yêu nước tuỳ theo khả năng và hoàn cảnh của mình giúp ích cho quốc gia như cứu giúp nạn nhân của xã hội, giúp đỡ bộ đội, an ủi chiến sĩ, sáng tác những văn thi phẩm ca tụng lòng ái quốc...

Với hai nhóm nhà văn trên, các khía cạnh để lôi kéo người dân vào những hành động có ích lợi cho cuộc tranh đấu giải phóng dân tộc như:

- tạo sự tin tưởng trong quần chúng,

- chê trách để giảm thiểu hạng vô tâm,

- chỉ đường để mọi người phục vụ theo khả năng đều được đề cập đến.

Tuy nhiên bao nhiêu đây vẫn chưa đủ. Có người muốn lên đường giết giặc, chống đối người Pháp bằng võ lực nhưng ngại những cản trở của gia đình, những nguy hiểm, khó khăn trên bước đường chiến đấu; nhà văn Nam Bộ vì vậy cũng đề cập đến các khía cạnh này bằng cách mô tả người hùng cách mạng.


C - Những tác phẩm mô tả người hùng cách mạng.


Người hùng cách mạng được tạo nên do nhiều khía cạnh, các tác phẩm của nền văn chương Nam Bộ nói đến những đặc điểm sau:


1a/ - Sơn Khanh với các truyện dài Giai cấp và Tàn binh,

- Thẩm Thệ Hà với tác phẩm Người yêu nước (19),

- Phi Vân với truyện dài Tình quê,

- Vũ Anh Khanh với truyện ngắn Một đêm trăng (20),

- Lê Ngọc với bài thơ Thư gửi người chinh phu (21),

- Phạm Từ Quyên với thi phẩm Nhớ mẹ (22)

đưa ra thái độ của người yêu nước đối với những cản trở của gia đình, như cha mẹ vợ con, một thái độ mềm mỏng nhưng dứt khoát, cương quyết giữ vững lập trường.


- Văn Phiêu với bài thơ Ước gì (23),

- Hoàng Tấn với bài Bình lang hành ,

- Lý Văn Sâm với truyện ngắn Vực thẳm và truyện dài Sau dẫy Trường Sơn,

- Xuyên Sơn với truyện ngắn Vân, cô nữ thư ký,

- Vũ Anh Khanh với truyện ngắn Sông máu (24),

- Mộc Lan Châu với bài thơ Phong yên (24),

- Vũ Anh Khanh với truyện dài Cây ná trắc,

- Thanh Hà với bài thơ Chinh phụ (24),

- Ngao Châu với bài thơ Chiêu hồn(24),

trình bày dứt khoát ra đi của người yêu nước, Các tác giả này cho thấy không có điều gì cản nổi bước chân của những người quyết dấn thân vào cuộc tranh đấu, tuy nguy hiểm nhưng có ích lợi cho quốc gia.


1b/ - Phi Vân với truyện dài Dân quê,

- Vũ Anh Khanh với truyện ngắn Theo khói nhang rằm (25),

- Bùi Nam Tử với truyện Đoàn quân đi (26),

ghi lại thái độ của người cách mạng đối với những phần tử mê muội, chưa thức thời, có những hành vi làm thương tổn cuộc đi tới của dân tộc.


2/ - Chim Xanh với bài Lời chiến sĩ (27),

- Vũ Anh Khanh với các truyện dài Nửa bồ xương khô, Cây ná trắc và truyện ngắn Con trâu giấy (28),

- Minh Huy với thi phẩm Tình mẹ (29),

- Ngọc Đại với bài thơ Giối giăng (30),

- Hoài Sơn với thi phẩm Khúc hành quân (31),

- Thẩm Thệ Hà với truyện dài Gió biên thuỳ (32),

vạch ra vẻ hùng tráng của người chiến sĩ, những anh hùng đã quyết hiến thân mình cho tổ quốc nên không e ngại nguy hiểm, chết chóc cũng như thiếu thốn phương tiện... trong việc đối đầu với địch.


3/ - Thẩm Thệ Hà với truyện dài Người yêu nước,

- Hoàng Mai với kịch thơ Tây Thi gái nước Việt (33),

- Việt Quang với thi phẩm Qua sa mạc (34),

- Mộc Lan Châu với bài thơ Những điệu nhớ mong (35),vẽ ra những đặc tính đẹp đẽ, cao thượng, đáng mến của người chiến sĩ.

Với những tác giả và tác phẩm nầy, người hùng cách mạng được mô tả như một nhân vật hoàn thiện, đáng làm gương để mọi công dân noi theo... Hình ảnh đẹp còn có tác dụng lôi cuốn những người thờ ơ với cuộc chiến trở về con đường chung của dân tộc...



Tiết 1: Văn chương Nam Bộ kêu gọi lên đường chống giặc.


1) Lên đường, một hành động phù hợp với truyền thống của dân tộc.


Để động viên được một số đông đảo quần chúng, nhà văn Nam Bộ phải tạo hình ảnh đẹp, vạch ra gương sáng để mọi người hướng về. Hình ảnh đẹp, gương sáng, không đâu băng lấy trong lịch sử của dân tộc. Trình bày truyền thống đấu tranh của tổ tiên giống Việt, nói chuyện lịch sử xa xưa, người viết qua mắt bọn kiểm duyệt nhưng vẫn tạo được tác dụng với độc giả vì nhắc đến tinh thần ái quốc ngày xưa có nghĩa như gián tiếp kêu gọi lòng yêu nước đối với người dân trong hiện tại. Người đọc sẽ cảm thấy mình chỉ xứng đáng khi đi theo con đường chung của người đi trước: bất khuất, không ngại nguy hiểm, sẵn sàng đương đầu với quân thù.

Trong chiều hướng đó, tác giả Ngọc Dương viết quyển Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam. Ông nhắc lại những khó khăn, cố gắng của cha ông chúng ta trên bước đường Nam tiến để tìm sống, ông vạch cho mọi người niềm tin thắng lợi cuối cùng của dân tộc Việt Nam bằng cách gợi lại những cuộc chiến anh dũng với người Trung Hoa ở những thế kỷ trước... Dân Việt còn có một sức mạnh phi thường mà ít người được biết: đó là SỨC SỐNG, sức sống mãnh liệt và bền bỉ trong 1000 năm đô hộ để chống lại với cuộc đồng hoá ghê gớm mà bọn Trung Hoa ra công đeo đuổi. Biết bao nhiêu lần, dân Tàu tràn qua, tính làm cho nòi giống của ta tiêu tan vào máu huyết của chúng. Trái lại, dân tộc Việt Nam đã tiêu diệt được sức đồng hoá đó. Không những giữ nguyên vẹn bản sắc, dân Việt còn có sức sống mạnh mẽ hơn xưa để giữ vững nền độc lập chống lại Trung Hoa, và bành trướng chắc chắn về phía Nam (36).

Cũng thế, Nguyễn Bảo Hoá sau khi trình bày để người đọc nhận chân được lịch sử cuộc đô hộ của người Pháp ở Việt Nam - đồng thời là cuộc kháng chiến của dân tộc chống ngoại thuộc - đã kết luận: Riêng về Nam Kỳ đã bao lần giẫy giụa để thoát khỏi cái ách thống trị của Pháp. Từ năm 1859 đến năm 1868, nghĩa là từ lần đầu tiên tàu chiến Pháp đến Nam Kỳ, đến khi Pháp chiếm xong ba tỉnh miền Tây, dân chúng và các nhà ái quốc không ngớt mang xương máu chống giữ nền độc lập (37).

Nhà văn sáng tác cũng lồng trong tác phẩm của mình những chiến công của tổ tiên xưa, những đặc tính anh hùng của dân tộc để tạo niềm tin thắng lợi trong lòng người đọc.

Vũ Anh Khanh bằng cả một bài thơ trường thiên hào hùng Chiến sĩ hành ghi lại những chiến thắng oanh liệt của người Việt trong những lần chống nhau với quân xâm lăng Trung Hoa:

Lật sử cũ ngày xưa xem lại,

Gương người xưa triều đại Đinh, Trần,

Bao phen chống giặc oai hùng,

Cờ lau Bộ Lĩnh, Bạch Đằng Đạo Vương (38).


Trúc Khanh với bài thơ dài Có phải từ xưa? nhắc đến tinh thần bất khuất, lòng kiên quyết, đức tánh không ngại gian lao, nguy hiểm của dân Việt:

... xưa, người Việt đã,

Anh hùng như chẳng có bao giờ.

Ngồi im mà chịu cùm, gông, xích,

Lấy máu xương xây đắp địa đồ (39).


Đằng Phương trong thi phẩm Hồn Việt cũng mô tả truyền thống anh dũng đó, ông nhắc đến chí kiên cường đấu tranh của chiến sĩ triều Trần, đến tinh thần oai hùng của mười ba liệt sĩ Yên Bái:


Họ thản nhiên lần lượt bước lên đài,

Và dõng dạc buông tiếng hô hùng dũng,

Việt nam muôn năm một đầu rơi rụng,

Việt nam muôn năm người kế tiếp tiến lên.

Và Tử Thần kính cẩn đứng ghi tên

Những liệt sĩ vào bia người tuẫn quốc

Sau Đức Chính đây là phiên Thái Học

Anh nghiêng mình trước những xác anh em... (40)


Nhắc suông đến tinh thần, đức tính của dân tộc, nhà văn có lẽ nhận thấy chưa đủ khả năng kích thích người đọc vì không gợi được những điều cụ thể, do đó họ còn tạo ra những nhân vật muốn bắt chước gương người xưa (41) hay kêu gọi người đọc chú ý thành tích của những người đi trước. Trong bài thay lời tựa cho tập truyện Bên kia sông, Vũ Anh Khanh viết: Vào đây ta đọc cho người nghe một bài thơ dài ca tụng những thành tích oanh liệt của tổ tiên giống Việt anh hùng (42). Nhân vật của Hoài Tân trong truyện dài Về thành cũng được tác giả cho đi theo con đường chung đó, nhân vật trong truyên đã kể cho vợ nghe những thành tích vẻ vang oanh liệt của người xưa (43).


Tóm lại, nhà văn Nam Bộ, hoặc kể lại trực tiếp, hoặc cho nhân vật mình kể lại những đặc tính oai hùng của dân tộc, đều nhằm mục tiêu tạo cho người đọc niềm tin ở khả năng chống xâm lăng, ở truyền thống bất khuất của dân tộc.

Và như vậy những bậc anh hùng liệt sĩ cũng như lịch sử của dân tộc Việt Nam đối với nhà văn thời này không còn là những sự kiện thuộc kiến thức thuần tuý, mà trở thành những kích thích tố có tác dụng tạo cho người đọc dễ dàng chọn một con đường, một hướng đi. Khi chọn hướng đi rồi, người đọc sẽ đồng nhất với truyền thống của dân tộc, sẽ hoà đồng với hạng người không chấp nhận nhục nhã của kiếp nô lệ. Và như vậy số người lên đường sẽ đông đảo hơn.

Nhắc lại những sự kiện lịch sử, nhà văn đã khôn khéo nhắc rằng: Muốn xứng đáng làm con dân của nước Việt, người ta phải đi theo con đường ông cha đã vạch.


2/ Lên đường, vì không thể đứng ngoài cuộc tranh đấu chung.


Ghép độc giả vào số đông oai hùng của dân tộc chưa đủ, nhà văn còn tách họ ra khỏi thiểu số ươn hèn, tách rời bằng cách vạch ra cuộc sống vô nghĩa của hạng người đứng bên lề cuộc tranh đấu và vạch cho họ thấy cuộc đời họ chỉ xứng đáng nếu góp sức mình vào việc chung của dân tộc.

Hạng người đứng ngoài lề cuộc chiến được nhà văn Nam Bộ chia ra nhiều loại, mỗi loại được nói đến bằng một cách thế phù hợp để họ thấm thía, từ sự thấm thía đó họ sẽ tỉnh ngộ và trở về cuộc chiến đấu của dân tộc.


* Những kẻ đứng bên lề cuộc chiến: ươn hèn, ích kỷ.


Với hạng người đứng bên lề, nhà văn cho rằng họ không xứng đáng làm người, càng không xứng đáng làm người Việt Nam. Lý Văn Sâm, bằng tác phẩm Chiếc vòng ngọc thạch, mượn bối cảnh thời dân tộc Cao Miên kháng Pháp đã mô tả những người đứng bên lề như những người cúi gầm đầu xuống, chấp nhận sự ức hiếp, không chịu đem sức mình để chống lại những đè nén, đàn áp của ngoại bang. Theo Lý Văn Sâm, bọn này đáng phỉ nhổ, đáng khinh khi ở chỗ chỉ muốn an phận và lười biếng (44). An phận vì không dám tranh đấu để cải tổ đời mình, đời của người chung quanh mình, lười biếng vì ngại những khó nhọc trên bước đường chông gai của cách mạng.

Nguyễn Khoa trong bài báo Xuân với tựa Bài học của người mù gọi họ bằng danh từ đầy tính chất khinh bỉ những con rùa : những con rùa rút vào trong mai...sống để làm một con số không (45).

Hoàng Tố Nguyên trong bài thơ Xuân về say ý nhạc gọi chúng là Phường cẩu nhãn: có những phường cẩu nhãn, còn vui mộng đế đình(46), nhà thơ Liên Chớp nói thẳng hơn: đó chỉ là những người ích kỷ: sao ích kỷ chẳng nghe lời thúc giục? Lại lăn tròn theo sát bả hư vinh (47).

Nói chung, nhà văn, nhà thơ thời này cố hạ thấp những người đứng ngoài cuộc chiến xuống, khinh khi, mạt sát họ. Và khi bị gọi bằng những từ ngữ bất xứng như vậy, hạng người nầy sẽ tự vấn lương tâm để hướng hành động của mình về phía có ích lợi cho dân tộc.


Tiết 2 : Văn chương Nam Bộ kêu gọi mọi người

phục vụ quốc gia theo hoàn cảnh cá nhân.


Ngoài cách tách rời thiểu số ươn hèn, ích kỷ ra khỏi số đông quần chúng, đem những người yêu nước cách mạng vào nhóm anh hùng của dân tộc, nhà văn Nam Bộ còn tận dụng tiềm năng của quốc gia bằng cách hướng dẫn người đọc thực hiện những việc hữu ích cho công cuộc giải phóng. Trong chiều hướng đó, các tác phẩm thời này trình bày hai phương thức:


- Dân chúng sử dụng công của hợp lý,

- Văn nhân, thi sĩ thực hiện một đường lối văn nghệ tiến bộ.


Với hai phương thức này, nhà văn Nam Bộ đã hướng người đọc cách thế dùng tài sản, sức lực và trí tuệ của mình thế nào cho có ích lợi đối với quốc gia.


1/ Sử dụng công của hợp lý.


Tác phẩm Nam Bộ ra đời trong thời chiến tranh, bao nhiêu cảnh tài sản bị thiêu huỷ, nhân mạng bị chết chóc hiện ra trước mắt người viết cũng như người đọc nên nhà văn không thể nhắm mắt trước thực tế. Tác phẩm của họ phải mô tả những thảm cảnh đó. Tuy nhiên sự trình bày chỉ có ích lợi khi tác phẩm tạo được tác dụng làm cho người đọc suy nghĩ và thấy có bổn phận giúp ích cho cách mạng.

Trong chiều hướng đó, nhiều nhà văn mô tả các khía cạnh bi thảm của chiến tranh và những hành vi vị tha, tương thân tương ái của những người đã biết đau xót vì nỗi khổ của người chung quanh.

Vũ Anh Khanh trong tác phẩm Nửa bồ xương khô mô tả cảnh bơ vơ, lạc lõng của một số trẻ con vì cha mẹ các em nầy đã bị chiến tranh cướp mất. Tuy nhiên tác giả không dừng lại ở đó. Mô tả như vậy chỉ tạo được sự căm phẫn có tính cách tiêu cực nơi người đọc nhưng không ích lợi tích cực. Vũ Anh Khanh đi xa hơn bằng cách hướng dẫn người đọc thực hiện hành vi tích cực: giải quyết phần nào thảm trạng đó. Vì vậy ông vẽ ra hình ảnh đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong thời chiến bằng cách mô tả tình thương mở rộng của nhân vật Huyện trước một đứa trẻ vừa mất mẹ:

- Chị ta còn ai là bà con?

- Không còn ai nữa hết!

- Thế con của chị ta làm sao? Ai nuôi?

Huyện trông theo thi thể người đàn bà bó trong một manh chiếu, bốn người làng khiêng đi dưới nắng thẳng đường ra nghĩa trang. Đám táng đi không kèn, không trống, không một tiếng khóc của người thân...

Trên những ngã đường đời, thêm một đứa trẻ bơ vơ côi cút, không cha mẹ, đi tìm tình thương ở những người không ruột rà. Rồi sống âm thầm, quạnh hiu, bỡ ngỡ lạc loài.

Ngày tháng trôi qua, thời gian trôi qua lạnh lùng...

Huyện rùng mình ôm chặt thằng bé, trả lời câu hỏi của người hàng xóm:

- Em nuôi. Nó sẽ là con em (48).\


Ta không thể bảo nhân vật Huyện của Vũ Anh Khanh vì xúc động sau một thất bại tình cảm đã quyết định vội vàng bởi vì trong suốt quyển truyện chính nhân vật Huyện nầy đã bộc lộ tình yêu vô bờ đối với đứa trẻ côi cút đó.


Lý Văn Sâm trong tuyện ngắn Rửa hờn tả cảnh một người đàn bà phân phát tình thương đối với những đứa trẻ không may mắn chẳng được đến trường: Chị Trần đi hí hoái khâu lại một chỗ rách trên cái áo của một cậu học trò nhỏ. Một cậu bé xanh xao ngồi trong một hốc nhà tối.

Cậu bé ấy là hình ảnh của bọn nhi đồng Việt Nam, nghèo khổ, bịnh hoạn, rách rưới (49).

Trong truyện Lẽ sống của người bịnh, tác giả Nguyễn Xuân Mỹ ghi lại cuộc sống của một cô gái tật nguyền: Nàng sống chung quanh một lũ hơn hai chục đứa bé tàn tật nạn nhân chiến tranh. Nàng nuôi chúng và thành người mẹ nuôi hiền từ âu yếm nhứt trong các bà mẹ... (50).


Dương Tử Giang nhắc đến sự tận tâm giúp đỡ của một cô gái con nhà khá giả đối với lớp trẻ nghèo khổ trong tác phẩm căn bản của ông: Tranh đấu :Tôi kêu thợ đóng nhiều bàn học, đem về dọn một lớp rộng rãi giữa nhà, và mỗi ngày, vào sáng, tôi đến dạy đám trẻ bị trường đuổi ra.

Đứa nào đến học, tôi đặt may cho một bộ quần áo đen và một tháng cấp cho năm đồng. Tôi lại mua cho giấy, viết, mực, thước, đủ đồ dùng để học tập (51).


Nhân vật Long trong truyện dài Giai cấp của Sơn Khanh không khác gì hơn. Long phác hoạ trong đầu những việc mình phải thực hiện mục tiêu không ngoài lý tưởng giúp đỡ trẻ thơ và những người nghèo khó: Chàng sẽ nhịn một ít tiền ăn mặc để mua thuốc tây phân phát cho chòm xóm khi họ ốm đau, dạy dỗ con cháu họ... cho chúng nó biết đọc, biết viết, vì sự cần sống bắt buộc chúng nó không được mang sách đến trường(52).


Tóm lại, hầu hết tác giả đều cố ghi lại lòng quảng đại, tương trợ của những người may mắn đối với những kẻ phải gánh chịu những khổ sở vì cuộc chiến. Hành động đó, nói theo Lý Văn Sâm, họ đã khâu vá tấm lòng của dân tộc đau khổ và khâu vá cả những chỗ mục nát của xã hội. (53).


Ngoài những hành động giúp đỡ người nghèo, người thời nầy - trong các tác phẩm của Nam Bộ - còn góp phần gián tiếp vào cuộc tranh đấu chung cho cách thế đối xử với những chiến sĩ cách mạng.

Bà lão trong truyện dài Bên mồ của Hoàng Kim thức trắng đêm để vấn thuốc biếu cho các chiến sĩ khi họ ghé qua làng: ... móc trong túi ra một gói thuốc lá, cụ cảm động nói: - Má chẳng có gì cho các con, thành thử má phải thức cả đêm hôm qua để vấn lấy một mớ thuốc nầy cho các con hút. Chậm chạp bà đưa cho mỗi người một điếu(54).

Những cô gái săn sóc thật tình đối với các chiến sĩ, một sự săn sóc phát xuất từ tình yêu nước, coi hành động của mình như cách thế giúp ích cho quốc gia, họ đi xin áo quần cũ cho bộ đội, vá áo gởi ra chiến trường...

Những hình ảnh này ta bắt gặp rất nhiều.

Truyện dài Cây ná trắc của Vũ Anh Khanh có ghi lại một vài quang cảnh hậu phương yểm trợ tiền tuyến rất gợi cảm:

* Cảnh vá áo cho chiến sĩ:

Hồ và mấy chị em ngồi chăm chỉ vá víu lại những chỗ áo rách. Chồng áo mùa đông vơi lần từng cái. Hồ vừa may vừa khe khẻ ca. Đây là những tấm áo đi xin của người trong làng. Những tấm áo tàng tàng nửa cũ nửa mới, sờn cả vai, rách cả gấu, nhưng khéo sửa, mặc cũng được vài tháng lạnh (55) .

* Cảnh một người lãnh phần cung cấp lương thực:

Anh Chủ tịch gải cằm:

- Mình dọn ngôi chùa cho họ ở đỡ, còn vấn đề tiếp tế phải hỏi lại anh Quang xem.

Cụ tổng Chánh chợt đi ngang, nghe hai người bàn chuyện,cụ dừng lại hỏi:

- Tiếp tế cho ai?

- Dạ cho bộ đội sắp sửa về đóng ở làng mình.

Cụ tổng nghĩ ngợi một lát rồi nói:

- Độ chừng bao nhiêu người?

- Một trung đội thì độ chừng trăm rưởi người trở lại.

Như tự thuở giờ, theo thói quen đã thành tật già, cụ xắn tay áo lên quá khuỷu, thò tay móc bao thuốcBàu Me vừa ngồi vấn thuốc vừa chậm rãi:

- Gì chớ trăm rưởi người, tôi bằng lòng nuôi cơm một tháng, sau này, liệu đủ sức tôi sẽ tính sau... (56).


Tác phẩm Nửa bồ xương khô, cũng có cảnh mấy nữ cứu thương đi đơm giùm nút áo cho mấy anh bên nhà thương (57).

Truyện ngắn hồi ký nhan đề: Tình người, chuột, Thiên Giang cũng viết thoáng qua sự tương thân giữa đồng bào và đồng bào: người ta đua nhau may áo lông cừu gởi ra mặt trận cho những kẻ chịu đau khổ để tạo nên cảnh yên vui (58).

Nói chung, những hình ảnh mô tả đều nằm trong một khuôn mẫu duy nhất: những người không thể, hay chưa thể, trực tiếp cầm súng đánh quân thù đều sử dụng công và của sao cho ích lợi cho việc kháng chiến.


2/ Sử dụng văn nghệ một cách hợp lý, tiến bộ.


Văn nghệ có tác dụng kích thích, giải bày nên nhà văn Nam Bộ cũng ghi lại trong các tác phẩm của mình những quan niệm viết văn đúng với giai đoạn đặc biệt của dân tộc, các quan niệm này đóng vai trò những nguyên tắc căn bản mà một nhà văn ý thức được sứ mạng của mình đối với quốc gia, dân tộc cần phải đi theo.


Có hai nguyên tắc chánh:


* Tạo căn bản chánh nghĩa cho cuộc chiến:

Muốn vậy nhà văn phải quan sát cảnh tượng của những người đang sống trong vòng kiềm tỏa của thực dân để nói lên những đớn đau, khổ cực của những phần tử không may đó.

* Tạo không khí nô nức phục vụ cuộc chiến:

Nhà văn, để phục vụ nguyên tắc này đã ghi lại cuộc sống hào hùng của người chiến sĩ cách mạng và cuộc đời vô nghĩa của bọn người vong quốc.


a) Văn nghệ: tạo căn bản chánh nghĩa cho cuộc chiến:

Nhà văn thời này quan niệm rằng họ phải đóng vai tuồng một chiến sĩ văn hoá, những gì họ viết ra phải có ích lợi, tâm não họ dùng để tạo văn phẩm phải đóng góp vào cuộc chiến như xương máu của người chiến sĩ. Theo Lý Văn Sâm, nhà văn dùng cây bút của mình đúng cách, công lao cũng vô cùng trọng đại: Viết cũng là kiến thiết, viết cũng là cải tạo. Nước nhà đã sứt (sic)mẻ nhiều rồi. Phải đắp, phải vá. Kẻ làm trai nào cũng là một người thợ của quốc gia cả (59).

Từ nguyên tắc chỉ đạo đó, nhà văn quan sát cuộc sống chung quanh mình để vẽ nên cảnh xã hội thối nát hư hỏng mà người dân Việt Nam gánh chịu. Thực hiện công việc nầy, nhà văn đã phục vụ nghệ thuật, một nghệ thuật gắn liền với thực tế. Nữ sĩ Đặng Thị Thanh Phương trong truyện dài Những tia nắng mới viết: phụng sự cho nghệ thuật, nhưng nghệ thuật ấy phải đi sát với đời sống của tất cả những linh hồn đang sống cơ cực trong cảnh lầm than của xã hội hiện hữu, ngòi bút... phải là một lợi khí để tranh đấu cho tất cả những người đang quằn quại sống trong cái bất công của xã hội vô tổ chức này (60). Dùng ngòi bút để nói một cách thành thực những cái gì (nhà văn) đã cảm thấy. Những cái đã làm cho bao người phải chịu đựng một cách cay đắng. Tất cả những bức tranh xã hội sẽ diễn tả dưới ngòi bút (61).


Mô tả bức tranh xã hội dưới thời Pháp thuộc ngay trong lúc cuộc kháng chiến giành độc lập đến hồi gay cấn nhất là gì nếu không phải là ghi lại cuộc sống tù ngục của người dân Việt từ tinh thần cho đến vật chất?

Thực hiện nguyên tắc trên, nhà văn sẽ tạo được một sự xúc động mạnh mẽ đối với người đọc, người đọc sẽ nhận chân được sự thật, thấy được sự bất công, từ đó ý thức cách mạng sẽ len lỏi vào đầu óc và những người nầy sẽ sẵn sàng lên đường chiến đấu để xoá tan những bất hạnh mà từ lâu dân tộc ta phải chịu đựng.

Tác giả Những tia nắng mới nói thêm: dùng ngòi bút mà vạch rõ hết được những mặt trái thối nát của xã hội hiện nay. Đem nó mà phanh phui ra ánh sáng mặt trời để cho tất cả mọi người cùng nhận thấy: họ phải cùng nhau tranh đấu để san bằng những đống rác thối tha ấy thành những khoảng đất khoáng đạt, chan hoà ánh nắng mới (62).


b) Văn nghệ: tạo không khí nô nức phục vụ cuộc chiến.

Nguyên tắc trên chỉ đạo được chánh nghĩa cho cuộc chiến nhưng chưa thúc đẩy được người dân lên đường góp sức vào công cuộc giải phóng, nhà văn vì vậy cần phải mô tả hành động anh dũng của người chiến sĩ cách mạng và vẽ lại cuộc đời tầm thường của những kẻ vị kỷ, đứng bên lề.

Mô tả chiến sĩ, nhà văn xây dựng được một đối tượng để mọi người cùng hướng về, vẽ ra những hình ảnh bọn người tầm thường, ươn hèn, ích kỷ sẽ khiến bọn nầy có dịp tự vấn lương tâm để thay đổi lối sống, sửa lại hành vi của mình.


*

* *

Sáng tác theo hai nguyên tắc trên, nhà văn còn có công với quốc gia ở chỗ đã tạo được sự hăng say chiến đấu nơi người chiến sĩ, người chiến sĩ sẽ say mê những dòng tư tưởng... cũng như say mê những dòng máu chính tông của người chiến binh nòi giống Việt (63).


Tuy nhiên, người văn nghệ không chỉ đứng bên lề cuộc chiến, nếu cần họ phải nhập cuộc. Trong quyển Những tia nắng mới nữ sĩ Đặng Thị Thanh Phương đã nhắc đến thái độ nhập cuộc đó. Bà cho rằng quan sát thuần tuý, đứng bên ngoài xã hội để nhìn, nhà văn chưa đủ sức thông cảm cũng như chưa làm tròn nhiệm vụ, họ cần phải dấn thân thật sự: Dùng ngòi bút để mô tả những cảnh éo le mong khêu gợi cho mọi người để cho họ nhìn thấy rõ nỗi lòng công phẫn mà đi sâu vào con đường tranh đấu nàng cho là không đủ. Vả lại muốn thực hành công cuộc cải tạo một xã hội, không phải chỉ làm việc bằng một cách nhẹ nhàng như thế mà được (64). Nhiều khi nếu cần, người nghệ sĩ quyết định hy sinh thân mình cho đại cuộc. Vũ Anh Khanh với truyền ngắn Đèn Sàigòn đã mô tả hành động hào hùng, cảm động, không thua bất cứ người phụ nữ nào trên thế giới của nhân vật Nga, Nga vì theo bộ đội bị tai nạn nên mù mắt, trở về thành sống bằng tiếng đàn. Tiếng đàn của Nga Đã có ảnh hưởng rất nhiều (65). Nhiều người đã nghe, đã thức tỉnh và đã lên đường. Nhưng người yêu của Nga không nỡ ra đi vì ngại nàng mù loà, đơn chiếc. Một bữa kia, trước khi đàn, nga uống thuốc độc và đàn lần chót để cảnh tỉnh người yêu, đồng thời cho người yêu dễ dàng dứt khoát ra đi.

Nga tự tử vì nàng muốn đóng vai trò một nghệ sĩ dấn thân thật sự.




Tiết 3 : Văn chương Nam Bộ mô tả người hùng cách mạng.


Bước chân ra khỏi ngưỡng cửa gia đình, gia nhập vào bộ đội, người công dân ngay lúc đó đã trở thành một chiến sĩ, một người cách mạng. Sự thành bại của công cuộc giải phóng phần nào tuỳ thuộc vào những người nầy. Nhà văn Nam Bộ ý thức được điều đó nên vẽ ra hình ảnh người chiến sĩ, một hình ảnh hoàn toàn từ lòng cương quyết ra đi đến niềm tin sắt đá, cũng như hành động và tư tưởng của họ trên bước đường tranh đấu.

Với sự mô tả nầy, nhà văn Nam Bộ góp phần vào công cuộc kháng chiến bằng cách làm vững lòng tin cho những người đang chiến đấu và tạo một hình ảnh đẹp để những người chưa chiến đấu cố gắng hướng về, trở thành.


1. Dứt khoát với những trở ngại.


a) Cương quyết ra đi.

Trước khi ra đi người ta thường nghĩ đến vợ con. Vợ con do đó đóng vai trò những trở lực đáng kể. Vì cảm thấy trách nhiệm, bổn phận đối với vợ yếu con thơ, nhiều người đã yên phận với vợ con trong mấy ngưỡng cửa của gia đình (66) một thời gian. Nhưng thời gian nầy không kéo dài bao lâu vì một ngày trôi qua đối với họ là một ngày vô ích, một ngày họ không xứng đáng làm dân nước Việt.

Đến một lúc nào đó, họ dứt khoát bỏ hết để lên đường, vợ con có buồn thảm, nhưng nỗi buồn đó không thể làm lu mờ được hận vong quốc, không thể níu kéo họ ở lại mãi với gia đình, Ra đi, họ quan niệm:


Buồn chinh phụ không bằng hờn tổ quốc,

Thương yêu nào khi sông núi lầm than?

Thà chia tay trong khói lửa điêu tàn,

Hơn sum họp giữa gông cùm nô lệ (67).


Họ bỏ lại tất cả để dấn thân vào cuộc chiến. Mẹ già ngóng đợi ở quê nhà? Hình ảnh đó cũng làm họ đau lòng phần nào, nhưng họ không thể làm khác hơn được:


Có những buổi chiều vàng ngồi chống kiếm,

Nhìn non sông hùng vĩ bốn ngàn năm

Bỗng hiện về bóng mẹ chốn xa xăm

Tóc trắng cước, tay gầy nâng gậy trúc!

Tim con trẻ phút giây như ngừng đập

Chí muôn phương thu hẹp! nghĩa gia đình?

Nhưng bên tai còn vang tiếng súng rền

Con lỗi đạo. Mẹ ơi đành... lỗi đạo (68).


Tóm lại, đối với những người đã dứt khoát hy sinh, gia đình chỉ là một cản trở trên đời chánh trị (69). Cản trở chỉ làm họ khó khăn ra đi nhưng không thật sự ngăn cản được họ. Cuối cùng họ thành công trong việc dứt bỏ những ràng buộc nhất thời để thực hiện chí mình. Họ ra đi vì không muốn bọn ngoại nhân cùm xích dân tộc. Họ đem sức mình để phá bỏ những bất công:


Quyết không chịu sống tôi đòi,

Không vì danh lợi làm tôi cường quyền (70).


Họ lên đường vì quốc gia và cũng vì chính họ:

Một lòng trăm họ nghìn cương quyết,

Người Việt Nam gìn đất Việt Nam (71).


Vì ra đi với tất cả lòng cương quyết nên hình ảnh người thanh niên lên đường rất đẹp, rất hùng. Nhân vật của Lý Văn Sâm trong truyện ngắn Vực thẳm nóng lòng muốn dẹp những bất bằng phân cách giữa hai chủng tộc Pháp Việt, đã lên đường không từ giả sư cụ (72); nhân vật của Xuyên Sơn trong truyện Vân, cô nữ thư ký ra đi không nói trước với gia đình chỉ gởi mấy lời thưa lại trên giấy (73), nhân vật của Vũ Anh Khanh trong truyện Sông máu đã an ủi người ở lại em khóc làm gì (74) trong khi đáng lý người ở lại phải an ủi anh.

Nói chung:


Vạn người trai trẻ một lòng son,

Run tay mở lại trang bi sử,

Để đắp xây bằng những máu xương (75).


Không phải chỉ có thanh niên cương quyết, người thiếu nữ cũng rất đáng cảm phục, họ giúp người yêu dứt khoát hơn bằng cách khuyến khích hay công nhận việc ra đi.

Nhân vật Chi Mai trong truyện dài Sau dẫy Trường Sơn của Lý Văn Sâm đã nói với người yêu: Chí trai không nên vươn sợi tóc đàn bà (76), nhân vật Hồ trong tác phẩm Cây ná trắc của Vũ Anh Khanh đã dùng lý trí để chế ngự tình cảm khi nói:anh ấy đi thế là phải (77). Nhìn chung, những người con gái thời nầy chấp nhận cảnh đơn chiếc, khó khăn tại quê nhà:

Chàng đáp lời sông núi,

Không hổ chí tang bồng.

Em mong tròn nghĩa cả,

Màng chi cảnh cô phòng (78).


Nhiều khi chính họ, những người chân yếu tay mềm cũng dấn thân vào cuộc đời chinh chiến nhiều nguy hiểm:


Bao kẻ ra đi với gió sương,

Tiến quân hùng dũng chốn biên cương

Quản chi mưa giá trời băng lạnh

Gái cũng xem khinh vạn dặm trường (79).


Không phải nước nhà chỉ cần những người trẻ, người già cũng có thể giúp ích cho đại cuộc. Nhiều tác giả như Hoàng Kim ( trong tác phẩm Bên mồ), Xuyên Sơn ( trong Vân, cô nữ thư ký) đã mô tả hành động hào hùng của những người lớn tuổi. Họ xác định: Nhưng già thì già chớ kém gì...già nhưng chỉ già cái xác, còn lòng này... (80), họ quả quyết chốc nữa...nghĩa là trước khi ngày lên ba cũng đi (81).

Tóm lại, thế hệ trước, mặc dầu tuổi già sức yếu cũng không chịu đứng ngoài để mặc đàn trẻ thực hiện lòng yêu nước, họ cũng góp sức mình và cố gắng làm tròn nhiệm vụ:

Nào những cụ già thân sức yếu,

Lòng thiết tha chẳng chịu tuổi già,

Chí tung hoành dẫu đã xa,

Vẫn mong trần thế sáng hoà tự do (82).


b) Bao dung nhưng nếu cần, cương quyết đối với bọn phản cách mạng:


Trước khi lên đường, hay ngay khi phục vụ dưới cờ trong việc giải phóng quốc gia, người công dân giác ngộ, hoặc chứng kiến hoặc phải đương đầu với bọn phản cách mạng. Bọn này giết hại, bắt bớ những người vì quốc gia, dân tộc chống lại bọn ngoại nhân thống trị. Sự kiện này rất quan trọng vì nếu nhà văn trình bày sự thất bại của người chiến sĩ có thể khiến một số độc giả nãn chí, nhưng nếu mô tả những phản ứng quá mãnh liệt có thể tạo nên cảnh sắt máu, không lợi cho cách mạng. Bởi vậy, nhà văn giai đoạn này tuỳ theo trường hợp, hướng dẫn người đọc - các chiến sĩ tương lai - những thái độ, những cách đối xử sao cho hợp tình, hợp cảnh.

Nếu bọn phản cách mạng chỉ là bọn người hoặc giàu có, dựa thế chức dịch làng xã, chống đối người cách mạng vì muốn bảo vệ tài sản, hoặc vì dốt nát hành động nông nổi, người chiến sĩ cách mạng sẵn lòng khoan dung và dùng lời để cảm hoá. Đó là trường hợp của nhân vật tên Tâm trong truyện dài Dân quê của Phi Vân. Tâm chưa nhập vào bộ đội nhưng anh cố gắng giải thích cho mọi người chung quanh hiểu hiểu rõ quyền lợi của họ, hiểu rõ tại sao họ phải sống trong cảnh cơ cực, dưới sự áp bức chủ điền. Anh bị tên Hội Đồng chủ điền, cùng với tên Phó Hương Quản của làng đánh đập. Thế nhưng khi anh có thể quyết định được số mạng của hai tên này anh đã tha chúng. Đối với Phó Hương Quản anh dùng lời dịu ngọt để giáo hoá: Anh coi tôi với anh là tình đồng chủng, nghĩa đồng bào, cùng ở chung một xứ sở. Nhưng tôi thì nghèo hèn cô thế,còn anh thì có quyền hành và có thế lực hơn. Anh thay mặt làng xóm cai quản ấp này đáng lẽ anh phải tỏ ra công bình chánh trực, cớ sao anh lại đi bợ ông Hội Đồng mà hà hiếp chúng tôi? Và mới đây anh lại nghe lời ổng mà nỡ lòng xuống tay tra khảo tôi một cách tàn nhẫn. Sao anh chẳng thấy đau lòng khi vô cớ mà hành hạ một người cùng giống với anh? Nghĩ lại, tôi với anh chẳng thù nhau, nhưng tôi rất tiếc sao anh lại dại dột quá, ngu muội quá! Anh có chắc rằng anh ở được cái địa vị Phó Hương Quản này không? Anh có chắc rằng ông Hội Đồng sẽ bảo vệ anh đời đời kiếp kiếp hay không? Sao anh không nghĩ đến một ngày kia, anh trở về hàng dân dã của chúng tôi và lại gặp một người Phó Hương Quản khác tham tiền, tàn ác và hiếp ức anh trở lại? Có lẽ anh chờ đến lúc đó mới hối ngộ ăn năn thì phải?...Tôi thương hại anh lắm nên tôi đã nói: không thèm báo thù anh. Tôi mong rằng từ này về sau anh sẽ hối lại những chuyện anh đã làm (83). Đối với tên Hội Đồng, Tâm giảng dạy: Ông Hội Đồng! ông biết thế nào là lòng dân rồi chứ! Ông biết tội ông thế nào rồi chứ! Thế mà ông coi, ông đã bóc lột họ, hà hiếp họ, phá gia cang họ, bây giờ họ không thèm trả thù... Mong rằng lần này được dung thứ, ông sẽ đối đãi với tá điền ông một cách khá hơn. Họ cũng là người đấy chứ! Vả lại chính họ là người đã tạo nên sự nghiệp cho ông, ít ra ông cũng phải xét công mà cải thiện đời sống họ, có đâu ông tìm mọi cách vơ vét sạch sành sanh để hưởng sự no ấm một mình...

Tôi nhắc lại cho ông nghe thêm lần nữa. Hôm nay họ đã dung thứ cho ông, mà cũng không thèm rờ tới một hột lúa của ông, đó là phước ông đấy! (84).


Như vậy, theo Phi Vân, người chiến sĩ cách mạng phải bao dung và giáo hoá những người phản động.

Sự kiện này cũng hợp lý bởi vì bọn nầy một phần chưa theo kịp trào lưu của dân tộc, một phần còn quá tha thiết với của cải, tiền tài đã thâu thập được trong thời gián trước đây. Chúng không thể ngồi nhìn cơ nghiệp mình mất đi cũng như tình trạng mình có thể nguy hiểm khi cách mạng thành công. Người chiến sĩ giải bày cho họ nghe cũng là một cách thể để thêm bạn bớt thù và để tránh bớt cảnh sắt máu của cách mạng.

Sự bao dung đối với những phần tử chưa giác ngộ còn thấy trong truyện Theo khói nhang rằm của Vũ Anh Khanh. Một chiến sĩ đã bị những người anh vợ của mình hạ sát vì bọn nầy theo Pháp và không muốn có những người chống lại chánh quyền mà họ đang phục vụ. Sau khi mô tả sự kiện, tác giả đã viết thơ cho vợ người chiến sĩ : Ngày sau, cháu đi trả thù cho cha, tức hai ông anh bà phải chết. Như thế,nước Việt phải mất thêm hai người con, hai chị dâu bà mất hai người chồng, mấy đứa cháu bà mất hai người cha... Như thế nào có ích gì? (85). Cuối cùng tác giả khuyên: Hãy quên tư thù cá nhân mà lo chuyện lớn (85).

Tuy nhiên, nhiều khi người chiến sĩ cũng không thể dằn lòng được trước những hành vi phản động quá lớn lao: báo cho địch đến tàn sát bộ đội chẳng hạn. Đó là trường hợp do Bùi Nam Tử đặt ra trong truyện ngắn Đoàn quân đi. Người chiến sĩ đã căm thù người phản bội do đó anh phản ứng mạnh : lần lưng một con gao găm...vừa đâm, vừa nguyền rủa: Đồ phản bội? Đồ mãi quốc (86).

Trình bày hai thái độ trái ngược khi bao dung khi căm thù của người chiến sĩ đối với bọn phản cách mạng, một cách gián tiếp, nhà văn Nam Bộ cho rằng bọn phản cách mạng không đáng kể, không nguy hiểm gì hết, họ không xứng đáng để được quan tâm, cứ để mặc họ, hãy dùng tiềm năng của mình đối phó với bọn ngoại nhân thống trị; tuy nhiên nếu cần, đối với phần tử phản động quá trớn, có thể trừ khử họ để công cuộc cách mạng dễ dàng thành công hơn.


2. Không ngại những nguy hiểm gian nan trên bước đường tranh đấu.


Như một nhân vật của Nguyễn Đạt Thịnh, trong quyển Một chiến sĩ đã nhận định: Kháng chiến không phải là một cảnh thơ mộng (87), hầu hết những người lên đường chiến đấu đều ý thức rằng công cuộc kháng chiến có những nguy hiểm và khó khăn của nó. Nhà văn Nam Bộ để sửa soạn tinh thần, những người sắp ra đi, đã mô tả thái độ của các nhân vật trước những hiểm nguy của bước đường tranh đấu. Họ quyết không sờn lòng mặc dầu bị bắt bớ, giam cầm:


Ta chiến sĩ, vẫn là người chiến sĩ

Chốn lao tù hay trong cảnh tự do

Đem máu tim xây đắp lại cơ đồ,

Tàn hơi thở cũng hãy còn tranh đấu (88).

Vì vậy, họ không sợ vào khám mà chỉ sợ phải ngồi bó chân một nơi trong khi nhiều bạn khác được tự do hoạt động mà thôi (89).


Khi bị thương cũng vậy, người chiến sĩ không lấy đó làm điều bận tâm. Họ cũng không mất đi nhuệ khí tranh đấu. Nhân vật Cải trong Nửa bồ xương khô của Vũ Anh Khanh bị thương phải cưa chân, khi lành đã quả quyết với lòng tuy mình què nhưng mới chỉ què có một chân thì chưa phải là một phế nhân... Mình sẽ tranh đấu mãi mãi... tranh đấu cho đến chết (90).

Với ý thức cách mạng đã đến cao độ, tình yêu nước tràn ngập cõi lòng, người chiến sĩ cũng xem thường luôn cả cái chết. Họ cho rằng mình có mất đi, cũng đã góp phần lớn vào công việc chung. Nhân vật của Vũ Anh Khanh trong truyện ngắn Con trâu giấy đã nói một cách bóng bẩy xương thịt em sẽ thành mầu mỡ làm nhựa sống cho ngàn cây, cho giống lúa sau nầy (91).

Nhân vật của Thiên Giang nói một cách khác: chết để mở đường cho kẻ khác tiến lên (92). Người chiến sĩ, đối với cái chết của mình, coi như việc đương nhiên không đáng bận tâm, không đáng đặt thành vấn đề. Họ cho rằng, trong cuộc chiến phải có người gục ngã, thân thể của họ tan vào lòng đất, mộ của họ được đồng đội phủ sơ sài bằng những nắm đất quê hương. Với thời gian đất sẽ trôi, ngôi mộ của họ sẽ xác xơ, sẽ bằng phẳng không chừng. Nhưng họ không cần nghĩ đến điều đó họ đã có lý tưởng để bù lại sự thua thiệt cho chính bản thân họ: Có những mộ lài mới có những ngày vinh quang (93).

Với tư tưởng đó, người chiến sĩ dễ dàng chấp nhận cái chết, họ thi vị hoá cái chết, nếu có, của mình:

Một mai con chết bên rừng biếc

Thì có ngàn hoa phủ liệm con (94)


Khi đối diện với cái chết, họ cũng không buồn bã cho số phận mình, trái lại họ nghĩ đến những người thân còn lại, họ ngại những người này lơ là với tổ quốc, thảm sầu vì họ nên gởi lời khuyên lơn trước khi nhắm mắt:


Nếu mai đây bạn về chốn cũ

Kiếm giùm tôi người mẹ thân yêu

Nói với người rằng: Vì nghĩa vụ

Đứa con yêu đã thác một chiều...

Rồi đây người tháng cô liêu,

Con van mẹ chớ nghĩ nhiều về con,

Một mai rực thắm vàng son,

Mẹ nên quên hẳn đứa con không về.

Nếu mai trở lại chốn sơn khê,

... Vẫn dáng người xưa đợi nhạn về,

Nhắn hộ giùm tôi lời: Giả biệt,

Hận trường đứt đoạn nghĩa phu thê.

Dưới trăng xưa đã hẹn thề,

Tử sinh coi nhẹ không hề vấn vương.

Ải xa thây gục bên đường,

Mong em hãy để lòng thương giống nòi (95).


Từ tình cảm yêu nước đến việc coi thường nguy hiểm, chết chóc chỉ có một bước rất ngắn nên người chiến sĩ luôn luôn chiến đấu anh dũng. Mô tả sự kiện này có tác dụng tạo nên lòng hăng say cho người phải đương đầu với giặc nên văn chương Nam Bộ vạch ra cảnh người chiến sĩ tuy thiếu thốn về phương diện trang bị:

Bốn mươi chiến sĩ tiến về Cái Răng,

Quần tua, áo khiếu, nón chầm

Đầu không nón đội, chân không đủ giày

Không súng máy, thiếu súng dài

Phi tiêu bốn chục, dao vài bốn mươi (96).

nhưng có vũ khí khác bổ sung:

Võ trang dù hẳn thua người,

Mà lòng can đảm ta thừa hơn ai (97).

Tinh thần anh dũng nầy thể hiện bằng lời thề của các chiến binh trong thi phẩm của Hoài Sơn:

Địch quân còn chiếm, nguyện không ngày về (98).

hay của Bân Bân nữ sĩ:

Thề quyết thành công một chuyến đi (99).

bằng hành động của nhân dân làng Khánh Thiện trong tác phẩm Cây ná trắc của Vũ Anh Khanh: thôi thì rựa củi đi rừng, mác chẻ tre, dao phay bằm cá tất cả những thứ đồ sắt nào đâm được, chém được đều đem ra dùng (100).

Thiếu thốn phương tiện đối với họ không phải là vấn đề chánh, điều quan trọng nằm ở chỗ phải làm thế nào cản được bước chân quân xâm lược, do đó họ đương đầu với địch không né tránh, không lẫn trốn:

Bọn chúng đến đánh, chết thì thôi chớ gì (101), những chiến sĩ của tác giả Hoàng Kim, trong truyện dài Bên mồ khi bị địch vây chẳng những không sợ hãi, nao núng, trái lại, bất chấp mọi nguy hiểm: như đàn chó dại,họ ngạo nghễ cười...tiếng cười như ẩn ý khinh thị, liều lĩnh...họ rút chốt lựu đạn cầm trong tay, rồi liều lĩnh chạy tới (101).

Tóm lại, người chiến sĩ anh dũng khi ra chiến trận, họ can đảm đi vào cõi chết như một việc thông thường không có gì quan trọng. Một nhân vật của Thẩm Thệ Hà trong truyện dài Gió biên thuỳ dã khẳng khái tuyên bố: Người ta sống ở xã hội cốt quý ở chánh nghĩa, nhà cách mạng không bao giờ sợ kẻ địch mà mà quên chánh nghĩa (102).

Chánh nghĩa ở đây chính là làm sao cho kẻ ngoại nhân không làm chủ nhân ông đất nước nầy.


3) Cao đẹp tinh thần.


Ngoài lòng cương quyết đối phó với những phản động lực của cách mạng, coi thường những hiểm nguy, người chiến sĩ còn có những vẽ đẹp khác thuộc về tinh thần rất đáng chú ý như luôn luôn tin tưởng ở sự thành công của dân tộc, loại bỏ tình cảm riêng tư, tranh đấu vì sứ mạng thiêng liêng...


a) Tin tưởng thành công:

Lòng tin của một chiến sĩ về một ngày thành công sắp tới của dân tộc là sức mạnh vô hình khiến họ có thể lăn xả vào bất cứ hiểm nguy nào, do đó tác phẩm của văn chương Nam Bộ hầu như luôn luôn nhắc đến niềm tin thành công.

Nhân vật của Thẩm Thệ Hà, trong tác phẩm Người yêu nước đối thoại với nhau:

- Hiện nay tôi có một tin tưởng

- Hiện nay tôi cũng đã có một cảm tưởng

- Tôi tin tưởng rằng ta sẽ thắng.

- Tôi cảm tưởng rằng non nước sẽ huy hoàng... và đang bước đến một giai đoạn mới (103).

Niểm tin ấy dựa trên hai yếu tố:

- Sự đoàn kết dân tộc:

Toàn dân cùng một loạt đứng lên,

Là một chế độ bạo tàn sụp đổ (104).

- Khả năng anh dũng tổ tiên từ xưa đã chứng tỏ:

Đoàn người không áo giáp

Mà bước chân sẽ rung chuyển non sông (105).

Trong lúc nhân dân đang cầm vũ khí chống giặc, niềm tin thành công đóng vai trò quan trọng bậc nhất nên từ người bình dân đến bậc trí thức đều chắc chắn Nước Việt Nam sẽ độc lập, trời đang mưa, nhưng sau cơn mưa sao sáng sẽ chiếu lại (106).

Niềm tin nầy không phải chỉ có ở những người còn có thể bay nhảy trên trận địa, niềm tin nầy còn đang ngự trị trong lòng kẻ đang mắc vòng lao lý; nhà thơ Hồ Thị đã giải bày niềm tin đó giùm một người chiến sĩ không may:

Trong đêm thao thức chúng ta chờ

Một sớm tưng bừng trời sáng tỏ (107).

Tóm lại, thời nầy mọi người đều tin tưởng ở sự thành công của dân tộc và trong những ngày chiến đấu để đạt được mục tiêu đó, họ vạch ra hình ảnh huy hoàng của ngày trọng đại:

Cứ tin tưởng vào ngày mai sáng lạn (sic),

Vạn anh hùng dân tộc đã xông pha,

Ở phía trước là chân trời mới lạ

Và bên kia là vũ trụ huy hoàng.

Phải kiên nhẫn qua vùng sa mạc đã

Khi đến rồi muôn thuở rạng vinh quang (108).


b) Không chú ý đến tình cảm riêng tư:


Tất cả cho cách mạng, người chiến sĩ không để tình riêng chi phối mình, họ hững hờ trước cám dỗ, có người: hằng ngày vẫn đi bộ ngang nhà người đẹp (cô Nguyệt) mà không lần nào nhìn vào nhà, không cần biết trong cánh cửa khuê phòng ấy có một nhan sắc diễm lệ (109).

Không phải lòng họ đã thành chai đá, trái lại, họ vẫn thấy lòng mình rung động trước vẻ đẹp, trước những tình ý thiết tha, nhưng họ cho rằng trong giai đoạn hiện tại họ có một tôn giáo thờ phượng là tranh đấu (110). Họ gác tình cảm riêng tư qua một bên:

Lòng trai phơi phới say mây gió,

Không chép tơ sầu, hận biệt ly (111)


c) Tranh đấu không vì cá nhân mình:

Tư cách của người chiến sĩ còn được mô tả và trình bày như một người vô vị lợi: không đặt mục tiêu vị kỷ cho cá nhân mình. Họ chỉ quyết tâm làm tròn bổn phận công dân trong thời loạn. Thế thôi. Ước vọng họ về ngày mai khi đất nước thanh bình thật vô cùng dơn giản: trở về thăm quê cũ, sống lại ngày xưa, hưởng cuộc đời thanh bình thời thơ ấu (112) hay giúp nước xong tôi về làm ruộng (113) . Họ không nghĩ đến một ngày mai vinh quang của mình vì đã góp công lao vào cuộc chiến, vào việc đánh đuổi quân thù.

Trong khi chiến đấu, họ không nghĩ đến việc lợi dụng để đạt những mục tiêu tầm thường, nhứt thời cho riêng mình. Vũ Anh Khanh, trong Nửa bồ xương khô nhận xét:

họ hồn nhiên, thật thà, không.... biết tính những chuyện riêng tư ích kỷ (114).

Họ vì lý tưởng mà chiến đấu nên hoà đồng với tập thể, xoá cá nhân mình cho quốc gia, coi nhau như ruột thịt, xem người khác như bản thân mình.



GHI CHÚ :


(1) Sơn Khanh - Nước độc - Sđd, trang 84.

(2) Phi Vân - Dân quê - Sđd, trang 84.

(3) Ngày Nay - Saigon -1950.

(4) Trong tập Thơ mùa giải phóng - Sống Chung - Saigon-1949.

(5) Tân Việt Nam - Saigon - 1947.

(6) Tân Việt - Saigon - 1949.

(7) Đuốc Việt - Saigon - 1950.

(8) Tân Việt - Saigon - 1949.

(9) Tân Việt - Saigon - 1949.

(10) Xuân Saigon Mới - Saigon-1951.

(11) Trong tập Sông Máu - Sđd.

(12) Sống Chung - Saigon-1949.

(13) Trong tập truyện ngắn Bên kia sông- Tân Việt Nam - Saigon - 1949.

(14) Đều thuộc về tập truyện Ngoài mưa lạnh- Sđd.

(15) Trong tập truyện Lấp con sông máu - Sđd.

(16) Sống Chung - Saigon-1949.

(17) Tân Việt - Saigon - 1949.

(18) Tân Việt - Saigon - 1949.

(19) Tân Việt Nam - Saigon - 1949.

(20) Trong tập Bên kia sông- Tân Việt Nam - Saigon - 1949.

(21) Việt Báo số 17 ngày 10-9-1949.

(22) Trong Thơ mùa giải phóng- Sống Chung - Saigon-1949.

(23) Xem chú thich ở sau.

(24) Xem chú thich ở sau.

(25) Trong tập truyện Ngũ Tử Tư- Tân Việt Nam - Saigon - 1949.

(26) Trong tập truyện Giờ chót một tội ác - Bảo Tồn - Saigon-1950.

(27) Trong thi tập Thơ Chim Xanh - Dân Tộc - Saigon-1949.

(28) Trong tập truyện ngắn Ngũ Tử Tư - Tân Việt Nam - Saigon-1949.

(29) Tạp chí Việt Báo số 12 ngày 6-8-1949.

(30) Nhật báo Thần Chung số ra ngày 27-7-1949.

(31) Trong tập thơ Hương lòng - Đuốc Việt - Saigon-1949.

(32) Tân Việt - Saigon- 1949.

(33) Bách Việt - Saigon- 1949.

(34) Tuyển tập Thi văn hiện đại - Dân Tộc - Saigon-1949.

(35) Việt Báo số 6 ngày 25-6-1949.

(36) Ngọc Dương - Sđd, mấy lời nói đầu.

(37) Nguyễn Bảo Hoá - Sđd trang 177-178.

(38) Vũ Anh Khanh - Chiến sĩ hành- Sđd trang 15.

(39) Trúc Khanh - Có phải từ xưa? (Thơ mùa giải phóng).

(40) Đằng Phương - Hồn Việt (bài Ngày tang Yên Bái ) - Đuốc Việt- Saigon-1949.

(41) Vũ Anh Khanh - Cây ná trắc - Sđd, trang 14.

(42) Vũ Anh Khanh - Bên kía sông - Sđd, thay lời tựa.

(43) Hoài Tân - Về thành - - Sđd, trang 21.

(44) Lý Văn Sâm - Chiếc vòng ngọc thạch - Tân Việt - Saigon- 1949, trang 15.

(45) Nguyễn Khoa - Bài học người mù - Xuân Saigon Mới- Saigon-1950.

(46) Hoàng Tố Nguyên - Thơ mùa giải phóng - (bài Xuân về say ý nhạc) Sđd .

(47) Liên Chớp - - Thơ mùa giải phóng -(bài Ai vui đó?) Sđd

(48) Vũ Anh Khanh - Nửa bồ xương khô - Tân Việt Nam - Saigon, trang 101-102.

(49) Lý Văn Sâm - Nắng bên kia làng - (truyện Rửa hờn)-Sđd, trang 48-49.

(50) Nguyễn Xuân Mỹ - Lấp con sông máu -( truyện Lẽ sống của người bịnh- Sđd, trang 114.

(51) Dương Tử Giang - Tranh đấu - Sđd, trang 95-96.

(52) Sơn Khanh - Giai cấp - Sđd, trang 105.

(53) Lý Văn Sâm - Nắng bên kia làng (truyện Rửa hờn) - Sđd, trang 51.

(54) Hoàng Kim - Bên mồ - Sđd, trang 38.

(55) Vũ Anh Khanh - Cây ná trắc- Sđd, trang 35.

(56) Vũ Anh Khanh - Sđd, trang 32.

(57) Vũ Anh Khanh - Nửa bồ xương khô- Sđd, trang 109.

(58) Thiên Giang - Lao tù - (truyện Tình người, chuột - Sđd, trang 17.

(59) Lý Văn Sâm - Ngoài mưa lạnh - (truyện Thèm một ngọn đèn )- Sđd, trang 88.

(60) Đặng Thị Thanh Phương - Những tia nắng mới - Sđd, trang 25.

(61) Đặng Thị Thanh Phương - Sđd, trang 27.

(62) Đặng Thị Thanh Phương - Sđd, trang 35.

(63) Vũ Anh Khanh - Ngũ Tử Tư - Sđd, trang 34.

(64) Đặng Thị Thanh Phương - Sđd, trang 59.

(65) Vũ Anh Khanh - Bên kia sông (truyện Đèn Sàigòn )- Sđd, trang 35.

(66) Vũ Anh Khanh - Bên kia sông (truyện Một đêm trăng), Sđd, trang 46.

(67)Lê Ngọc - Thơ gởi người chinh phụ - Việt Báo số 17 ngày 10-9-1949.

(68) Phạm Từ Quyên - Thơ mùa giải phóng - (bài Nhớ mẹ) - Sđd .

(69) Trí Tuấn - Đứa con đất nước - Đại Chúng – Saigon-1949.

(70) Văn Phiêu - Ước gì - Việt Báo số 10 ngày 23-7-1949.

(71) Hoàng Tấn - Thơ mùa giải phóng - ( bài Bình lang hành).

(72) Lý Văn Sâm - Ngoài mưa lạnh - (truyện Vực thẳm), Sđd trang 30.

(73) Xuyên Sơn - Vân, cô nữ thư ký - Sđd, trang 6.

(74) Vũ Anh Khanh - Sông Máu - (truyện Sông Máu - Sđd, trang 12.

(75) Mộc Lan Châu - Phong Yên - Việt Báo số 6 ngày 25-6-1949.

(76) Lý Văn Sâm - Sau dẫy Trường Sơn - Sđd, trang 118.

(77) Vũ Anh Khanh - Cây ná trắc - Sđd, trang 30.

(78) Thanh Hà - Chinh phụ - Nhật báo Thần Chung số ra ngày 26-7-1949.

(79) Điền Cung - Tôi đã lấy chồng - Việt Báo số 10 ngày 3-9-1949.

(80) Hoàng Kim - Bên mồ - Sđd, trang 12.

(81) Xuyên Sơn - Vân, cô nữ thư ký - Sđd, trang 7.

(82) Ngao Châu - Chiêu hồn.

(83) Phi Vân - Dân quê - Sđ d, trang 118-119.

(84) Phi Vân - Dân quê - Sđ d, trang 123-124.

(85) Vũ Anh Khanh - Ngũ Tử Tư - Sđd, trang 53.

(86) Bùi Nam Tử - Giờ chót một tội ác - Sđd, trang 51.

(87) Nguyễn Đạt Thịnh - Một chiến sĩ -Tân Việt- Saigon 1949, trang 48.

(88) Chim Xanh - Thơ Chim Xanh- (bài Lời chiến sĩ).

(89) Vũ Anh Khanh - Nửa bồ xương khô - Sđd, trang 86.

(90) Vũ Anh Khanh - Nửa bồ xương khô II - Sđd, trang 172.

(91) Vũ Ạnh Khanh - Ngũ Tử Tư (truyện Con trâu giấy Sđd, trang 34.

(92) Thiên Giang - Lao tù - (truyện Miếng thịt heo và ông bạn già)- Sđd, trang 56

(93) Bùi Nam Tử - Chiếc hòm chưn nhang - Đại Chúng - Saigon, 1949, trang 56.

(94) Ninh Huy - Quyết tử ca - (bàiTình mẹ )- Việt Báo số 12 ngày 6-8-1949.

(95) Ngọc Đại - Giối giăng - (nhật báo Thần Chung số ra ngày 27-7-1949).

(96) Hoài Sơn - Hương lòng - Đuốc Việt- Saigon-1949, trang 23.

(97) Hoài Sơn - Hương lòng - Đuốc Việt- Saigon-1949, trang 24.

(98) Hoài Sơn - Sđd, trang 24.

(99) Bân Bân nữ sĩ - Thơ mùa giải phóng - (bài Chiếc lá thị thành).

(100) Vũ Anh Khanh - Cái ná trắc - Sđd, trang 13.

(101) Hoàng Kim - Bên mồ - Sđd, trang 33.

(102) Thẩm Thệ Hà - Gió biên thuỳ - Sđd, trang 66.

(103) Thẩm Thệ Hà - Người yêu nước - Sđd, trang 63.

(104) Hoàng Mai - Tây Thi gái nước Việt - Sđd, trang 84).

(105) Hoàng Mai - Tây Thi gái nước Việt - Sđd, trang 17-18.

(106) Vĩnh Sanh - Tạp chí Thế Giới số 10 ngày 25-12-1949.

(107) Hồ Thị - Tạp chí Thế Giới số 4 ngày 12-9-1949.

(108) Việt Quang - Qua sa mạc - Thi văn hiện đại - Dân Tộc-Saigon-1950.

(109) Nguyễn Thị Xuân Mỹ - Lấp con sông máu - Sđd, trang 135.

(110) Trúc Khanh - Con đường nghĩa vụ - Tân Việt - Saigon-1949, trang 16.

(111) Mộc Lan Châu - Những điệu nhớ mong - Việt Báo số 6, ngày 25-6-1949.

(112) Vũ Anh Khanh - Nửa bồ xương khô - Sđd, trang 51.

(113) Hồ Hữu Tường - Chi Tập - Sđd, trang 13.

(114) Vũ Anh Khanh -Nửa bồ xương khô - Sđd, trang 56.




... CÒN TIẾP



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HoaKỳ ngày 29.6. 2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004