Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





HUY CẬN







N hà thơ Huy Cận sinh ngày 1/5/1919 ở làng Ân Phú, huyện Hương Sơn sau đó thuộc huyện Đức Thọ (nay là xã Ân Phú, huyện Vũ Quang), tỉnh Hà Tĩnh. Huy Cận lúc nhỏ học ở quê, sau vào Huế học trung học, rồi ra Hà Nội học trường Cao đẳng Canh nông. Trong thời gian học Cao đẳng, ông ở phố Hàng Than cùng với Xuân Diệu. Từ năm 1942, ông tham gia phong trào sinh viên yêu nước và Mặt trận Việt Minh, Huy Cận đã tham dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào (tháng 8/1945). Huy Cận cũng từng cộng tác với nhóm Tự Lực Văn Đoàn.

Tháng 8 năm 1945, Cù Huy Cận là một trong ba thành viên của phái đoàn Chính phủ Lâm thời (gồm Nguyễn Lương Bằng, Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận) đi vào Huế để tiếp nhận lễ thoái vị của Vua Bảo Đại.

Sau Cách mạng tháng Tám thành công, khi mới 26 tuổi, ông đã là Bộ trưởng Bộ Canh nông trong Chính phủ liên hiệp lâm thời VNDCCH của Chủ tịch HCM.

Huy Cận đã được Nhà nước phong tặng Giải thưởng HCM về văn học nghệ thuật (đợt I/1996). Tháng 6/2001, ông được bầu là viện sĩ Viện Hàn lâm Thơ Thế giới.

Huy Cận mất ngày 19/2/2005 tại Hà Nội. Sau đó, ông được Nhà nước truy tặng Huân chương Sao Vàng.

Huy Cận - hồn thơ thủy chung với cảm hứng vũ trụ : Huy Cận có thơ đăng báo từ 1936, cho in tập thơ đầu Lửa Thiêng năm 1940 (gồm những bài đã đăng báo, khoảng 1936-1940) và trở thành một trong những tên tuổi hàng đầu của phong trào Thơ mới lúc bấy giờ. Bao trùm Lửa Thiêng là một nỗi buồn mênh mang da diết. Thiên nhiên trong tập thơ thường bao la, hiu quạnh, đẹp nhưng thường buồn. Nỗi buồn đó dường như vô cớ, siêu hình nhưng xét đến cùng, chủ yếu là buồn thương về cuộc đời, kiếp người, về quê hương đất nước. Hồn thơ "ảo não", bơ vơ đó vẫn cố tìm được sự hài hòa và mạch sống âm thầm trong tạo vật và cuộc đời. Trong Kinh cầu tự (1942, văn xuôi triết lí) và Vũ trụ ca (thơ đăng báo 1940-1942), Huy Cận đã tìm đến ca ngợi niềm vui, sự sống trong vũ trụ vô biên song vẫn chưa thoát khỏi bế tắc.

-Nhà thơ Huy Cận -tác giả “Lửa thiêng” là một trong những nhà thơ mới cuối cùng, đã ra đi (đã từ trần ngày 19/2/2005, tại Hà Nội, thọ 86 tuổi)…

Mang theo một thời đại, khép lại một cõi thơ: Thơ mới ra đời những năm 30, chính xác hơn, ngày 10/3/1932 với bài "Tình già" của Phan Khôi, đăng trên Phụ nữ Tân văn  số 122. Và cõi thơ ấy đã tồn tại đến ngày nay, với những thăng trầm, dày dạn; đôi khi không ngại dùng quyền lực để  tồn tại, như trong thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm, các chủ soái Thơ mới đầy quyền uy như Tố Hữu, Xuân Diệu... đã lạm dụng chức quyền để nghiền nát những nhà thơ trẻ muốn đổi mới thơ ca như Trần Dần, Lê Đạt...

Huy Cận là bạn đồng hành của Xuân Diệu, ông cũng là một trong những nhà thơ quan chức cuối cùng còn sót lại của một thời đại, mà đời thơ trùng hợp với đời quan. Huy Cận đã dùng thi ca phục vụ chính trị một cách đắc lực, và cuối cùng, cũng chính con đường quan lộ ấy đã tàn sát thi ca của ông. Ngày nay, những gì mà Huy Cận để lại cho đời, đã và sẽ chỉ còn một ngọn “Lửa thiêng” đã bùng lên từ thời 20 tuổi, thời mà ngòi bút ông chưa từng nhúng vào hệ lụy của thế quyền.

 -Làm thơ từ năm 1934, được đăng trên báo từ năm 1936. Ngay trong thời gian ở Huế đã cùng với Hoài Thanh viết những bài bình luận trên các báo Tràng An, Sông Hương. Năm 1936, gặp Xuân Diệu ở trường Khải Định, và kết bạn từ đó. Những năm 1937, 38, 39, Huy Cận trao đổi thư từ với Chế Lan Viên (lúc đó đã xuất bản Điêu tàn). Từ 1939, ông ra Hà Nội ở chung với Xuân Diệu trên căn gác số 40 phố Hàng Than.

Tập Lửa thiêng được Tự Lực Văn Đoàn xuất bản (NXB Đời Nay - tháng 11/1940), Xuân Diệu đề tựa, Tô Ngọc Vân trình bày bià.

Năm 1942, xuất bản tập văn xuôi Kinh cầu tự, hoàn thành tập thơ thứ hai Vũ trụ ca, chưa in thành sách. Và từ đó tiếp tục các tập thơ khác…Ở Paris, năm 1983, một số người yêu thơ Huy Cận, đã giúp ông xuất bản tuyển tập thơ viết tay tựa đề Đi giữa đường thơm, trên giấy quý, gồm phần lớn những bài đã in trong Lửa thiêng  và một số bài thơ tình đắc ý, làm sau 1945. Năm 1989, giữa cao trào đổi mới, Huy Cận cho in tập Chim làm ra gió, (NXB Tác Phẩm Mới) tại Hà Nội .

 Vũ trụ bát ngát trong “Lửa thiêng” là gì?

Là một vũ trụ sầu, sầu vô cớ, không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Thời ấy, người ta hay sầu lắm. Có người bảo: tất cả những nỗi sầu ấy đều giống nhau, đều bắt nguồn từ cái spleen của một chàng Edgar Poe nào đó. Đồng ý, nhưng mỗi nhà thơ tài hoa của chúng ta đều tạo được một mối sầu riêng. Hồ Dzếnh có nét sầu của Hồ Dzếnh, Huy Cận có nỗi sầu Huy Cận... và mỗi nỗi sầu riêng ấy là một vũ trụ thơ, một vũ trụ đời.

Hai bài thơ hay vào loại nhất nhì trong tập Lửa thiêng, Huy Cận viết tặng Khái Hưng. Chắc là thời ấy, Huy Cận mến mộ Khái Hưng lắm. Còn một số những bài khác như Đi giữa đường thơm đề tặng Thạch Lam, Đẹp xưa tặng Tô Ngọc Vân, Học sinh tặng Tú Mỡ, Hồn xa tặng Thế Lữ, Giấc ngủ chiều tặng Hoàng Đạo, Nhạc sầu tặng Nguyễn Gia Trí,  Áo trắng tặng Nhất linh... Tập “Lửa thiêng” như vậy, ngoài giá trị thi ca, còn lưu lại một chút tình bạn, tình người. Cho nên hôm nay chúng ta muốn nhắc lại hai bài thơ vào loại hay nhất của Huy Cận: Bài Buồn đêm mưa  tặng Khái Hưng, và bài Tràng giang tặng Trần Khánh Giư.

-Buồn đêm mưa (tặng Khái Hưng)

Đêm mưa làm nhớ không gian/ Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la... Tai nương giọt nước mái nhà/ Nghe trời nằng nặng nghe ta buồn buồn Nghe đi rời rạc trong hồn/ Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi... Rơi rơi... dìu dịu rơi rơi.../ Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ... Tương tư hướng lạc, phương mờ.../ Trở nghiêng gối mộng, hững hờ nằm nghe. Gió về, lòng rộng không che/ Hơi may hiu hắt bốn bề tâm tư... Buồn đêm mưa xác định nỗi sầu Huy Cận. Đó là nỗi buồn vô cớ, xuyên suốt không gian, như một độ ẩm có sức thẩm thấu ngấm ngầm, theo nước mưa thấm vào lòng người. Những yếu tố âm nhạc và thi ca ở đây kết hợp toàn bích như một bản nhạc phổ thơ, như bài thơ phổ nhạc. Và tiếng buồn, khởi đi từ không gian ẩm lạnh của đêm mưa, và tiếng mưa như những nốt nhạc gợi nhớ, một nỗi nhớ vu vơ, nhớ ai? Nhớ không gian. Không gian nào? Không gian giá buốt, chứa một "nỗi hàn bao la"... Càng nằm, càng nghe, càng lạnh, điệu nhạc mưa càng tung hoành, làm khắc khoải lòng người, làm đờ đẫn tâm can, làm lang thang chân bước, từ mưa đến mộng, từ tâm cảnh sang ngoại cảnh. Đó là một nỗi sầu vô cớ, sầu lang thang, không nhà không cửa, sầu không quán trọ, sầu không phương hướng... sầu dọc chiều dài thời gian và sầu mênh mông trong không gian vô tận. Chưa bao giờ chúng ta nghe một bản nhạc sầu như thế, sầu hồn hoà trong ướt át gió mưa, nhẹ nhàng sầu và êm ái đến thế.

 -Đến bài Tràng giang (tặng Trần Khánh Giư), không gian sầu mở tung trên trời nước. Phạm Duy bảo khi ông làm bài Cửu Long giang, ông đã nghĩ đến Tràng giang của Huy Cận, và bất cứ ai trong chúng ta, một lúc nào đó, ngược dòng Cửu Long, hoặc xuôi sóng Bạch Đằng, mà  không trạnh thấy bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài. Niềm bâng khuâng dâng lên như sóng, từng đợt, từng đợt trùng trùng, chiếm hữu tâm tư, sông loang thành biển, mối sầu tan rộng như đại dương, bay lên thượng tầng thanh khí:  

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song. Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả/ Củi một cành khô lạc mấy giòng…

  giữa vũ trụ và không gian mà Baudelaire gọi là correspondance - giao cảm, ở đây xẩy ra trên toàn diện, trong không khí Đường thi, và Thôi Hiệu cũng quanh quất đâu đây. Theo mối sầu thiêng, sâu chót vót, Huy Cận giao cảm Đông Tây trời đất, giao cảm sông nước và hồn người bằng phong thái thăng hoa tinh vi giữa nhạc và chữ.

 - Nội dung các bài thơ trong "Lửa thiêng"

Xoay quanh những vấn đề: Tình yêu, cuộc sống, vũ trụ... Ẩn chứa trong những nội dung đó là một nỗi sầu thiên cổ, mang sắc thái cô liêu.

Đêm mưa làm nhớ không gian Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la... (Buồn đêm mưa)

Nỗi buồn không biết từ đâu lại, cũng không biết đi tới đâu. Nhưng nó hiển hiện, bàng bạc trong tâm tư, trong cuộc sống và dường như đã trở thành một quy tắc. Ngay trong những lúc vui, thì nỗi buồn vẫn đợi chờ đâu đó - và cả những lúc lòng yên bình nhất, nỗi buồn cũng tự nhiên bước lại.

Hôm xưa em đến, mắt như lòng... (Áo trắng)

Hay nỗi sầu vô định dạng trước cảnh thiên nhiên bao la, từng thấy trong những những bài Đường thi xưa:

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả; Củi một cành khô lạc mấy giòng... (Tràng giang)

Đặc biệt hơn, có nỗi buồn do chính người ta chuốc lấy, bằng sự nhớ tiếc hờ, về những khoảnh khắc ngẫu nhĩ trùng lai, nhưng không nên duyên hò hẹn.

Bên cạnh đó cũng có những bài thơ triết lý, mà nhà thơ đã cố gắng định nghĩa về sự sống, hay xem xét mối liên quan giữa con người và vũ trụ, theo kiểu các nhà thơ Tây phương.

Tất cả câu hỏi, thắc mắc và sự tìm hiểu đó, đều là để giải thích cái nỗi khắc khoải ngự trị trong lòng tuổi trẻ. Mà trong bài thơ cuối, dường như thi sĩ đã tìm thấy nó, vật đang nắm giữ những quy luật của tuổi thanh xuân, đó là tình yêu:

Người một thuở mà chàng sầu vạn kỷ Sống một đời chàng tuởng vọng muôn năm... (Mai sau)

LỜI KẾT

-Huy Cận có những cảm xúc vũ trụ...

Nhà thơ tự bạch thêm: thường có những nỗi – niềm – tinh – vân [2, tr 212]. Năm mươi năm từ lúc mới viết những câu thơ đầu tiên, đến nay vẫn là cảm giác: “Mỗi khi em nhíu đôi mày gió/ Ta biết đời đang cất cánh bay”. Vũ trụ thơ như mở thêm chiều kích cho niềm vui say cuộc sống. Cuộc đời như được bao trùm cái ân tình vũ trụ, làm sáng lên tấm lòng nhân hậu của nhà thơ.

Vui, buồn đời thơ Huy Cận mang đậm sắc thái xã hội. Cái buồn của hồn thơ đã gây “xôn xao” một thời, nhưng không mang tính bi kịch, là nỗi niềm đời thường gợi cảm thương của nhân tình thế thái. Cái vui náo nức, dào dạt, chân thành lại giúp ta thêm ham sống và yêu đời trong cuộc sống mới sôi động và sáng tạo ngày hôm nay.

Đã hơn mười hai năm Huy Cận  đi xa… Cứ cữ mươi năm, nhà thơ thường ngẫm  lại chuyện vui, buồn đời người. Theo cách ấy, ta nhớ nhà thơ.

Một đời Huy Cận đã trải lòng mọi nỗi niềm thành khẩn với đời. Ta cảm ơn nhà thơ vì, nói như Xuân Diệu, đó là cách Cảm tạ cuộc đời  chân thành nhất của Huy Cận.

 Nếu các bạn vẫn còn ở trong cõi thơ Huy Cận, xin mời bạn hát và lắng nghe mình hát bài Ngậm ngùi của Huy Cận do Phạm Duy phổ nhạc. Phạm Duy - sành thơ hơn nhiều nhà thơ - khi phổ nhạc, thường hay thay một lời, đổi vài câu, hoặc làm thêm một vài câu thơ khác. Lời thơ mà Phạm Duy thêm vào, đôi khi hay hơn những câu trong chính bản của nhà thơ. Ngậm ngùi là một trường hợp đặc biệt: không những Phạm Duy không thêm thơ, mà ông cũng không thay đổi một chữ nào trong thơ Huy Cận. Ở đây nhạc đã quyến vào thơ như đôi tâm hồn tri kỷ, và, phải nhận rằng, Ngậm ngùi sở dĩ đi sâu vào lòng người Việt đến thế là nhờ sức quyến rũ mãnh liệt, nẩy ra từ sự giao cảm tuyệt vời giữa thơ và nhạc, giữa Phạm Duy - Huy Cận (Thụy Khuê (đài RFI).

NGẬM NGÙI –thơ: Huy Cận –nhạc: Phạm Duy

Nắng chia nửa bãi chiều rồi/ Vườn hoang trinh nữ khép đôi lá rầu  Sợi buồn con nhện giăng mau/ Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đâỵ  ĐK: Lòng anh mơ với quạt này/ Trăm con chim mộng về bay đầu giường.  Ngủ đi em mộng bình thường / ngủ đi em mộng bình thường.  Ru em sẵn tiếng, thùy dương đôi bờ/ Ngủ đi em, ngủ đi em.  Ngủ đi mộng vẫn bình thường/ à ơi có tiếng thùy dương mấy bờ  Cây dài bóng sẽ ngẩn ngơ/ Hồn em đã chín mấy mùa buồn đau  Tay anh em hãy tựa đầu/ cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơị.



(Tham khảo: Sách báo – Internet)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 28.6.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004