BIÊN DỊCH



TÁC PHẨM
TÁC GIẢ




TỪ VŨ

Từ Vũ là bút hiệu và cũng là tên thật.

Sinh năm 1945 tại Bắc Việt .

Đi học tại HàNội .

Theo gia đình di cư vào Nam năm 1953 .

Đi học : Bá Ninh, Lê Qúy Đôn NhaTrang, Trần Hưng Đạo Đà Lạt, Tabert , Nguyễn Bá Tòng, Lê Bảo Tịnh, Trường Sơn Sàigòn...


Đi lính .

Vượt biên năm 1979 và định cư tại Pháp.

Làm việc với tư cách một Giám Đốc cho các công ty sản xuất kỹ nghệ của người Pháp như Weber & Broutin - Lafarge - Allia - Allibert & Sommer....

Làm thơ , viết văn tài tử từ thời đi học và đăng tải trong các nhật báo, tuần báo tại Sàigon trước năm 1975 dưới rất nhiều bút hiệu khác nhau.










ARTHUR RIMBAUD
1854-1891
«l'homme aux semelles de vent»
Paul Verlaine


Jean-Nicola-Arthur Rimbaud sinh ngày 20 tháng 10 năm 1854 tại Charleville-Mézières, một thành phố nhỏ trong vùng Ardennes, đông bắc nước Pháp, sát biên giới với nước Bỉ (Belgique). Cha ông, Fédéric Rimbeau, là một đại úy bộ binh, năm 1853 lấy cô Vitalie Cuif, con một nhà nông tại địa phương làm vợ . Người cha này sau khi thuyên chuyển đến Grenoble, sau này về hưu tạo Dijon, cũng nhân dịp này " đào ngũ " gia đình của ông , để lại cho Vitalie, bà vợ một mình với 5 đứa con nhỏ : Fédéric, lớn hơn Arthur 1 tuổi, Arthur sinh năm 1854, Vitalie sinh năm 1858, Isabelle sinh năm 1860 và một bé gái sinh năm 1857 nhưng qua đời ngay khi còn nhỏ.
Vitalie bị chạm tự ái qúa nặng nên đã dấu nhẹm tung tích người cha vô trách nhiệm này với các con và nuôi dạy chúng bằng một sự giáo dục độc đoán và nghiêm khắc để tránh những đứa trẻ khi lớn lên sẽ đi vào con đường xấu xa của người cha của chúng hoặc những người đàn ông bà con bà.
Ngay khi vừa mới được 8 tuổi, Rimbaud theo học tại một trường tư thục tại Charleville. Năm 1865, cậu bé vào trung học, tại đây cậu đã gập và kết bạn với Ernest Delahaye, lớn hơn Rimbeaud một tuổi, tình bạn kéo dài suốt cuộc đời nhà thơ . Nhờ vào một số thư từ trao đổi giữa hai người đã được lưu giữ mà chúng ta có thể mô tả lại được những phần quan trọng của cuộc đời nhà thơ trẻ này và sự cống hiến của ông vào lãnh vực sáng tạo của văn chương Pháp .
Ngay khi còn học trung học, rất nhanh chóng, Arthur đã biểu lộ khả năng kiến thức của mình và đã được các vị giáo sư nhìn nhận, khuyến khích.
Năm 1869, Rimbeaud được 15 tuổi. Vẫn chỉ là một học sinh trung học đệ nhất cấp, rất giỏi về môn latin : " Jugurtha" xuất hiện cùng với 3 bài thơ khác bằng tiếng latin trong "Le moniteur de l'enseignement secondaire" đã được giải nhất trong một cuộc thi của bộ giáo dục .
Cũng trong năm này cậu đã sáng tác những câu thơ đầu tiên bằng tiếng Pháp : "Les étrennes des orphelins", xuất bản một năm sau :

LES ETRENNES DES ORPHELINS

I
La chambre est pleine d'ombre ; on entend vaguement
De deux enfants le triste et doux chuchotement.
Leur front se penche, encore alourdi par le rêve,
Sous le long rideau blanc qui tremble et se soulève...
- Au dehors les oiseaux se rapprochent frileux ;
Leur aile s'engourdit sous le ton gris des cieux ;
Et la nouvelle Année, à la suite brumeuse,
Laissant traîner les plis de sa robe neigeuse,
Sourit avec des pleurs, et chante en grelottant...
II
Or les petits enfants, sous le rideau flottant,
Parlent bas comme on fait dans une nuit obscure.
Ils écoutent, pensifs, comme un lointain murmure...
Ils tressaillent souvent à la claire voix d'or
Du timbre matinal, qui frappe et frappe encor
Son refrain métallique en son globe de verre...
- Puis, la chambre est glacée... on voit traîner à terre,
Épars autour des lits, des vêtements de deuil
L'âpre bise d'hiver qui se lamente au seuil
Souffle dans le logis son haleine morose !
On sent, dans tout cela, qu'il manque quelque chose...
- Il n'est donc point de mère à ces petits enfants,
De mère au frais sourire, aux regards triomphants ?
Elle a donc oublié, le soir, seule et penchée,
D'exciter une flamme à la cendre arrachée,
D'amonceler sur eux la laine et l'édredon
Avant de les quitter en leur criant : pardon.
Elle n'a point prévu la froideur matinale,
Ni bien fermé le seuil à la bise hivernale ?...
- Le rêve maternel, c'est le tiède tapis,
C'est le nid cotonneux où les enfants tapis,
Comme de beaux oiseaux que balancent les branches,
Dorment leur doux sommeil plein de visions blanches !...
- Et là, - c'est comme un nid sans plumes, sans chaleur,
Où les petits ont froid, ne dorment pas, ont peur ;
Un nid que doit avoir glacé la bise amère...
III
Votre coeur l'a compris : - ces enfants sont sans mère.
Plus de mère au logis ! - et le père est bien loin !...
- Une vieille servante, alors, en a pris soin.
Les petits sont tout seuls en la maison glacée ;
Orphelins de quatre ans, voilà qu'en leur pensée
S'éveille, par degrés, un souvenir riant...
C'est comme un chapelet qu'on égrène en priant :
- Ah ! quel beau matin, que ce matin des étrennes !
Chacun, pendant la nuit, avait rêvé des siennes
Dans quelque songe étrange où l'on voyait joujoux,
Bonbons habillés d'or, étincelants bijoux,
Tourbillonner, danser une danse sonore,
Puis fuir sous les rideaux, puis reparaître encore !
On s'éveillait matin, on se levait joyeux,
La lèvre affriandée, en se frottant les yeux...
On allait, les cheveux emmêlés sur la tête,
Les yeux tout rayonnants, comme aux grands jours de fête,
Et les petits pieds nus effleurant le plancher,
Aux portes des parents tout doucement toucher...
On entrait !... Puis alors les souhaits... en chemise,
Les baisers répétés, et la gaîté permise !
IV
Ah ! c'était si charmant, ces mots dits tant de fois !
- Mais comme il est changé, le logis d'autrefois :
Un grand feu pétillait, clair, dans la cheminée,
Toute la vieille chambre était illuminée ;
Et les reflets vermeils, sortis du grand foyer,
Sur les meubles vernis aimaient à tournoyer...
- L'armoire était sans clefs !... sans clefs, la grande armoire !
On regardait souvent sa porte brune et noire...
Sans clefs !... c'était étrange !... on rêvait bien des fois
Aux mystères dormant entre ses flancs de bois,
Et l'on croyait ouïr, au fond de la serrure
Béante, un bruit lointain, vague et joyeux murmure...
- La chambre des parents est bien vide, aujourd'hui
Aucun reflet vermeil sous la porte n'a lui ;
Il n'est point de parents, de foyer, de clefs prises :
Partant, point de baisers, point de douces surprises !
Oh ! que le jour de l'an sera triste pour eux !
- Et, tout pensifs, tandis que de leurs grands yeux bleus,
Silencieusement tombe une larme amère,
Ils murmurent : " Quand donc reviendra notre mère ? "
V
Maintenant, les petits sommeillent tristement :
Vous diriez, à les voir, qu'ils pleurent en dormant,
Tant leurs yeux sont gonflés et leur souffle pénible !
Les tout petits enfants ont le coeur si sensible !
- Mais l'ange des berceaux vient essuyer leurs yeux,
Et dans ce lourd sommeil met un rêve joyeux,
Un rêve si joyeux, que leur lèvre mi-close,
Souriante, semblait murmurer quelque chose...
- Ils rêvent que, penchés sur leur petit bras rond,
Doux geste du réveil, ils avancent le front,
Et leur vague regard tout autour d'eux se pose...
Ils se croient endormis dans un paradis rose...
Au foyer plein d'éclairs chante gaîment le feu...
Par la fenêtre on voit là-bas un beau ciel bleu ;
La nature s'éveille et de rayons s'enivre...
La terre, demi-nue, heureuse de revivre,
A des frissons de joie aux baisers du soleil...
Et dans le vieux logis tout est tiède et vermeil
Les sombres vêtements ne jonchent plus la terre,
La bise sous le seuil a fini par se taire ...
On dirait qu'une fée a passé dans cela ! ...
- Les enfants, tout joyeux, ont jeté deux cris... Là,
Près du lit maternel, sous un beau rayon rose,
Là, sur le grand tapis, resplendit quelque chose...
Ce sont des médaillons argentés, noirs et blancs,
De la nacre et du jais aux reflets scintillants ;
Des petits cadres noirs, des couronnes de verre,
Ayant trois mots gravés en or : " A NOTRE MÈRE ! "

Năm 1870, khi theo học thuật hùng biện, Rimbeaud gập Georges Izambard, một giáo sư mới thuyện chuyển từ Paris về và cũng là một thi sĩ, vị giáo sư này cho ông đọc những tác phẩm của Victor Hugo, Theodore de Banville, Rabelais và mở rộng cửa thư viện của ông ta cho người học trò này.
Vitalie, bà mẹ của Rimbeaud không thích tình thân thiện giữa cậu con trai và vị giáo sư vì không thích hợp với sự giáo dục mà bà áp dụng cho các đứa con vì bà bảo rằng đọc một số sách mà giáo sư Izambard đưa cho con bà có thể làm bại hoại tinh thần cậu ta .
Izambard đã đóng một vai trò quan trọng đối với Rimbeaud; chính ông cũng đã lưu giữ những văn bản đầu tiên của Rimbeaud chẳng hạn như "Un coeur sous une soutane" .
Ngày 24 tháng 5 cùng năm, Rimbeaud gởi cho Banville 3 bài thơ với hy vọng sẽ được xuất bản trong tạp chí " Parbasse contemporain " : Sensation, Ophélie và Credo in unam ( sau này là Solei et Chair ) :

SENSATION

Par les soirs bleus d'été, j'irai dans les sentiers,
Picoté par les blés, fouler l'herbe menue,
Rêveur, j'en sentirai la fraîcheur à mes pieds.
Je laisserai le vent baigner ma tête nue.

Je ne parlerai pas, je ne penserai rien :
Mais l'amour infini me montera dans l'âme,
Et j'irai loin, bien loin, comme un bohémien,
Par la nature, heureux comme avec une femme.

Mars 1870

OPHELIE

I
Sur l'onde calme et noire où dorment les étoiles
La blanche Ophélia flotte comme un grand lys,
Flotte très lentement, couchée en ses longs voiles...
- On entend dans les bois lointains des hallalis.

Voici plus de mille ans que la triste Ophélie
Passe, fantôme blanc, sur le long fleuve noir,
Voici plus de mille ans que sa douce folie
Murmure sa romance à la brise du soir.

Le vent baise ses seins et déploie en corolle
Ses grands voiles bercés mollement par les eaux ;
Les saules frissonnants pleurent sur son épaule,
Sur son grand front rêveur s'inclinent les roseaux.

Les nénuphars froissés soupirent autour d'elle ;
Elle éveille parfois, dans un aune qui dort,
Quelque nid, d'où s'échappe un petit frisson d'aile :
- Un chant mystérieux tombe des astres d'or.

II

O pâle Ophélia ! belle comme la neige !
Oui tu mourus, enfant, par un fleuve emporté !
C'est que les vents tombant des grand monts de Norwège
T'avaient parlé tout bas de l'âpre liberté ;

C'est qu'un souffle, tordant ta grande chevelure,
A ton esprit rêveur portait d'étranges bruits ;
Que ton coeur écoutait le chant de la Nature
Dans les plaintes de l'arbre et les soupirs des nuits ;

C'est que la voix des mers folles, immense râle,
Brisait ton sein d'enfant, trop humain et trop doux ;
C'est qu'un matin d'avril, un beau cavalier pâle,
Un pauvre fou, s'assit muet à tes genoux !

Ciel ! Amour ! Liberté ! Quel rêve, ô pauvre Folle !
Tu te fondais à lui comme une neige au feu :
Tes grandes visions étranglaient ta parole
- Et l'Infini terrible effara ton œil bleu !

III

- Et le Poète dit qu'aux rayons des étoiles
Tu viens chercher, la nuit, les fleurs que tu cueillis ;
Et qu'il a vu sur l'eau, couchée en ses longs voiles,
La blanche Ophélia flotter, comme un grand lys.

Poésies. 15 mai 1870.

Nhưng những bài thơ này đã không được xuất hiện tuy nhiên tạp chí "La Charge" 2 tháng sau đó đã cho đăng tải "Trois Baisers" ( được người ta biết nhiều dưới tựa đề "Première Soirée ").
Tháng 7 , Giáo sư Georges Izambard rời Charleville-Mézières thuyên chuyển về Douai để Rimbaud trong tình trạng cô độc bối rối thêm vào đó với bản tính xung động, khao khát phiêu lưu, nao nức trước những biến cố chấn động của những năm 1870-1871(chiến tranh đã tàn phá vùng Ardennes và đảo lộn mọi trật tự sinh hoạt thường nhật, sự chiến bại của Pháp trước lực lượng Đức, Công xã Paris ). Arthur đã viết : "Thành phố nơi tôi đang ở này là một thành phố ngu ngốc nhất trong các thành phố nhỏ " . Thay vì trình diện để thi Tú Tài, Rimbaud bất thình lình rời Charleville lên Paris. Nhưng khi chỉ vừa đặt chân xuống nhà ga ở thủ đô, Rimbaud bị bắt và bị đem đến nhà tù Mazas vì...đi xe lửa mà vé không hoàn toàn có giá trị để đến Paris. Nhờ Izambard can thiệp, Arthur được thả ra và theo Izambard về Douai khoảng 15 ngày tạm cư nơi nhũng người cô già của giáo sư Izambard.
Trờ lại gia đình ở Charleville trong sự tiếp đón của bà mẹ không lấy gì làm nồng hậu lắm, ngày 7 tháng 10, Arthur lại trốn đi Bỉ (thành phố Charleroi) sau đó là Bruxelles rồi quay trở lại Douai nơi các bà Ginder (các người cô của giáo sư Izambard). Tại đây, Arthur đã chép những bài thơ của mình và gởi cho Paul Demeny, một nhà thơ trẻ mà Izambard đã giới thiệu cho cậu. Ngày 1 tháng 11, mà mẹ ruột của Arthur đã nhờ cảnh sát dẫn tải cậu về nhà tại Charleville.
Trường học khi đó đã bị trưng dụng để làm bệnh viện và lẽ tất nhiên là các học trò bị nghỉ học, Arthur lui tới thường xuyên thư viện của thành phố.

Ngày 25 tháng 2 năm 1871, Arthur lại bỏ nhà trốn đi một lần nữa để lên Paris bằng xe lửa. Lần này hoàn toàn cháy túi, sau khoảng 15 ngày lang thang tại Paris, Arthur đành phải lội bộ quay trở về Charleville ngày 10 tháng 3.
Khi Công Xã Paris tan vỡ, Arthur hoàn toàn ủng hộ những người nổi dậy. Cậu ta đã diễn tả tình cảm này trong Chant de Guerre Parisien, Les mains de Jean-Marie và

PARIS SE REPEUPLE

O lâches, la voilà ! Dégorgez dans les gares !
Le soleil expia de ses poumons ardents
Les boulevards qu'un soir comblèrent les Barbares.
Voilà la Cité belle, assise à l'occident !

Allez ! on préviendra les reflux d'incendie,
Voilà les quais, voilà les boulevards, voilà
Les maisons sur l'azur léger qui s'irradie
Et qu'un soir la rougeur des bombes étoila !

Cachez les palais morts dans des niches de planches !
L'ancien jour effaré rafraîchit vos regards. Voici le troupeau roux des tordeuses de hanches :
Soyez fous, vous serez drôles, étant hagards !

Tas de chiennes en rut mangeant des cataplasmes,
Le cri des maisons d'or vous réclame. Volez !
Mangez ! Voici la nuit de joie aux profonds spasmes
Qui descend dans la rue. O buveurs désolés,

Buvez ! Quand la lumière arrive intense et folle,
Fouillant à vos côtés les luxes ruisselants,
Vous n'allez pas baver, sans geste, sans parole,
Dans vos verres, les yeux perdus aux lointains blancs,

Avalez, pour la Reine aux fesses cascadantes !
Ecoutez l'action des stupides hoquets
Déchirants ! Ecoutez sauter aux nuits ardentes
Les idiots râleux, vieillards, pantins, laquais !

O coeurs de saleté, bouches épouvantables,
Fonctionnez plus fort, bouches de puanteurs !
Un vin pour ces torpeurs ignobles, sur ces tables...
Vos ventres sont fondus de hontes, ô Vainqueurs !

Ouvrez votre narine aux superbes nausées !
Trempez de poisons forts les cordes de vos cous !
Sur vos nuques d'enfants baissant ses mains croisées
Le Poète vous dit : " O lâches, soyez fous !

Parce que vous fouillez le ventre de la Femme,
Vous craignez d'elle encore une convulsion
Qui crie, asphyxiant votre nichée infâme
Sur sa poitrine, en une horrible pression.

Syphilitiques, fous, rois, pantins, ventriloques,
Qu'est-ce que ça peut faire à la putain Paris,
Vos âmes et vos corps, vos poisons et vos loques ?
Elle se secouera de vous, hargneux pourris !

Et quand vous serez bas, geignant sur vos entrailles,
Les flancs morts, réclamant votre argent, éperdus,
La rouge courtisane aux seins gros de batailles
Loin de votre stupeur tordra ses poings ardus !

Quand tes pieds ont dansé si fort dans les colères,
Paris ! quand tu reçus tant de coups de couteau,
Quand tu gis, retenant dans tes prunelles claires
Un peu de la bonté du fauve renouveau,

O cité douloureuse, ô cité quasi morte,
La tête et les deux seins jetés vers l'Avenir
Ouvrant sur ta pâleur ses milliards de portes,
Cité que le Passé sombre pourrait bénir :

Corps remagnétisé pour les énormes peines,
Tu rebois donc la vie effroyable ! tu sens
Sourdre le flux des vers livides en tes veines,
Et sur ton clair amour rôder les doigts glaçants !

Et ce n'est pas mauvais. Tes vers, tes vers livides
Ne gêneront pas plus ton souffle de Progrès
Que les Stryx n'éteignaient l'oeil des Cariatides
Où des pleurs d'or astral tombaient des bleus degrés."

Quoique ce soit affreux de te revoir couverte
Ainsi ; quoiqu'on n'ait fait jamais d'une cité
Ulcère plus puant à la Nature verte,
Le Poète te dit : " Splendide est ta Beauté ! "

L'orage t'a sacrée suprême poésie;
L'immense remuement des forces te secourt ;
Ton oeuvre bout, la mort gronde, Cité choisie !
Amasse les strideurs au coeur du clairon sourd.

Le Poète prendra le sanglot des Infâmes,
La haine des Forçats, la clameur des Maudits ;
Et ses rayons d'amour flagelleront les Femmes.
Ses strophes bondiront : Voilà ! voilà ! bandits !

- Société, tout est rétabli : - les orgies
Pleurent leur ancien râle aux anciens lupanars :
Et les gaz en délire, aux murailles rougies,
Flambent sinistrement vers les azurs blafards !

Mai 1871.


Cậu ta phẫn nộ, trở thành một người vô chính phủ, bạo động và bắt đầu ngã vào chuyện uống rượu, bộc lộ sự công phẫn của mình qua việc ăn mặc, cử chỉ...Đây là mộ sự bừa bãi, rối loạn với tất cả ý nghĩa của chữ này mà Arthur đã bộc lộ với những người bạn của Izambard và Demeny, qua 2 lá thư gọi là "Voyant".
Arthur cũng yêu cầu Demeny hủy bỏ tất cả những bài thơ mà cậu ta đã gởi cho Demeny vì cậu cho rằng đã " lỗi thời " nhưng may mắn thay là Demeny đã không chịu làm việc đó.
Có thể chính trong thời kỳ này, Arthur đã sáng tác "Les déserts de l'amour", căn bản của "Saison en Enfer" sau này.
Cuối tháng 8, Arthur Rimbaud viết một lá thư cho Verlain kèm theo những bài thơ của cậu sáng tác.
Bị quyến rũ bởi những bởi tài năng của Arthur , Verlain mời chàng thi sĩ trẻ này lên Paris hợp tác : " Venez chère grand âme, on vous appelle, on vous attend". Giữa tháng 9 , Arthur đi Paris với bài thơ "Le Bateau Ivre" - thuyền say - :

BATEAU IVRE

Comme je descendais des Fleuves impassibles,
Je ne me sentis plus guidé par les haleurs :
Des Peaux-Rouges criards les avaient pris pour cibles
Les ayant cloués nus aux poteaux de couleurs.

J'étais insoucieux de tous les équipages,
Porteur de blés flamands ou de cotons anglais.
Quand avec mes haleurs ont fini ces tapages
Les Fleuves m'ont laissé descendre où je voulais.

Dans les clapotements furieux des marées
Moi l'autre hiver plus sourd que les cerveaux d'enfants,
Je courus ! Et les Péninsules démarrées
N'ont pas subi tohu-bohus plus triomphants.

La tempête a béni mes éveils maritimes.
Plus léger qu'un bouchon j'ai dansé sur les flots
Qu'on appelle rouleurs éternels de victimes,
Dix nuits, sans regretter l'oeil niais des falots !

Plus douce qu'aux enfants la chair des pommes sures,
L'eau verte pénétra ma coque de sapin
Et des taches de vins bleus et des vomissures
Me lava, dispersant gouvernail et grappin

Et dès lors, je me suis baigné dans le Poème
De la Mer, infusé d'astres, et lactescent,
Dévorant les azurs verts ; où, flottaison blême
Et ravie, un noyé pensif parfois descend ;

Où, teignant tout à coup les bleuités, délires
Et rythmes lents sous les rutilements du jour,
Plus fortes que l'alcool, plus vastes que nos lyres,
Fermentent les rousseurs amères de l'amour !

Je sais les cieux crevant en éclairs, et les trombes
Et les ressacs et les courants : Je sais le soir,
L'aube exaltée ainsi qu'un peuple de colombes,
Et j'ai vu quelque fois ce que l'homme a cru voir !

J'ai vu le soleil bas, taché d'horreurs mystiques,
Illuminant de longs figements violets,
Pareils à des acteurs de drames très-antiques
Les flots roulant au loin leurs frissons de volets !

J'ai rêvé la nuit verte aux neiges éblouies,
Baiser montant aux yeux des mers avec lenteurs,
La circulation des sèves inouïes,
Et l'éveil jaune et bleu des phosphores chanteurs !

J'ai suivi, des mois pleins, pareille aux vacheries
Hystériques, la houle à l'assaut des récifs,
Sans songer que les pieds lumineux des Maries
Pussent forcer le mufle aux Océans poussifs !

J'ai heurté, savez-vous, d'incroyables Florides
Mêlant aux fleurs des yeux de panthères à peaux
D'hommes ! Des arcs-en-ciel tendus comme des brides
Sous l'horizon des mers, à de glauques troupeaux !

J'ai vu fermenter les marais énormes, nasses
Où pourrit dans les joncs tout un Léviathan !
Des écroulement d'eau au milieu des bonaces,
Et les lointains vers les gouffres cataractant !

Glaciers, soleils d'argent, flots nacreux, cieux de braises !
Échouages hideux au fond des golfes bruns
Où les serpents géants dévorés de punaises
Choient, des arbres tordus, avec de noirs parfums !

J'aurais voulu montrer aux enfants ces dorades
Du flot bleu, ces poissons d'or, ces poissons chantants.
- Des écumes de fleurs ont bercé mes dérades
Et d'ineffables vents m'ont ailé par instants.

Parfois, martyr lassé des pôles et des zones,
La mer dont le sanglot faisait mon roulis doux
Montait vers moi ses fleurs d'ombres aux ventouses jaunes
Et je restais, ainsi qu'une femme à genoux...

Presque île, balottant sur mes bords les querelles
Et les fientes d'oiseaux clabaudeurs aux yeux blonds
Et je voguais, lorsqu'à travers mes liens frêles
Des noyés descendaient dormir, à reculons !

Or moi, bateau perdu sous les cheveux des anses,
Jeté par l'ouragan dans l'éther sans oiseau,
Moi dont les Monitors et les voiliers des Hanses
N'auraient pas repêché la carcasse ivre d'eau ;

Libre, fumant, monté de brumes violettes,
Moi qui trouais le ciel rougeoyant comme un mur
Qui porte, confiture exquise aux bons poètes,
Des lichens de soleil et des morves d'azur,

Qui courais, taché de lunules électriques,
Planche folle, escorté des hippocampes noirs,
Quand les juillets faisaient crouler à coups de triques
Les cieux ultramarins aux ardents entonnoirs ;

Moi qui tremblais, sentant geindre à cinquante lieues
Le rut des Béhémots et les Maelstroms épais,
Fileur éternel des immobilités bleues,
Je regrette l'Europe aux anciens parapets !

J'ai vu des archipels sidéraux ! et des îles
Dont les cieux délirants sont ouverts au vogueur :
- Est-ce en ces nuits sans fond que tu dors et t'exiles,
Million d'oiseaux d'or, ô future Vigueur ? -

Mais, vrai, j'ai trop pleuré ! Les Aubes sont navrantes.
Toute lune est atroce et tout soleil amer :
L'âcre amour m'a gonflé de torpeurs enivrantes.
Ô que ma quille éclate ! Ô que j'aille à la mer !

Si je désire une eau d'Europe, c'est la flache
Noire et froide où vers le crépuscule embaumé
Un enfant accroupi plein de tristesses, lâche
Un bateau frêle comme un papillon de mai.

Je ne puis plus, baigné de vos langueurs, ô lames,
Enlever leur sillage aux porteurs de cotons,
Ni traverser l'orgueil des drapeaux et des flammes,
Ni nager sous les yeux horribles des pontons.

Verlain đã có vợ, con gái của một gia đình giầu có, Mathide Mauté de Fleurville, và sống tại nhà cha mẹ vợ. Sự xuất hiện của Arthur là một sự sỉ nhục cho gia đình này với cách ăn mặc lôi thôi lếch thếch bất cần đời một cách rất là "sỉ nhục" đối với những người trong gia đình giầu có này.
Chính Arthur đã tự làm cho mình trở nên một kẻ khó ai có thể ưa được đến nỗi Verlain phải tìm cách cho Arthur tạm trú tại nhiều nhà bạn bè khác như Charles Cros, Forain hoặc Banville. Sau đó chính Verlain cũng bắt đầu rượu chè và lê lết với Arthur . Hai người lui tới hội những nhà thơ Zutiques, sáng lập bởi Charles Cros, những nhà thơ của hội này họp mặt tại Hotel des Etrangers, đại lộ Saint Germain - Paris và cộng tác với Album chung của các hội viên . Ernest Cabaner, người phục vụ rượu của nơi này đã chỉ dẫn cho Arthur khái niệm sơ đẳng về dương cầm theo phương pháp hệ âm hoá, tô mầu những nốt nhạc và phân cấp bằng một nguyên âm hãy đọc bài thơ Voyelles nổi tiếng nhất của Rimbaud để hiểu rõ phương pháp này :

VOYELLES

A noir, E blancE blanc, I rouge, U vert, O bleu : voyelles,
Je dirai quelque jour vos naissances latentes :
A, noir corset velu des mouches éclatantes
Qui bombinent autour des puanteurs cruelles,

Golfes d'ombre ; E, candeur des vapeurs et des tentes,
Lances des glaciers fiers, rois blancs, frissons d'ombelles ;
I, pourpres, sang craché, rire des lèvres belles
Dans la colère ou les ivresses pénitentes ;

U, cycles, vibrements divins des mers virides,
Paix des pâtis semés d'animaux, paix des rides
Que l'alchimie imprime aux grands fronts studieux ;

O, suprême Clairon plein des strideurs étranges,
Silence traversés des Mondes et des Anges :
- O l'Oméga, rayon violet de Ses Yeux !

Rimbaud làm phụ tá cho Ernest Cabaner suốt mấy tháng nhờ vậy chàng thi sĩ trẻ tuổi đã được quyền ngủ tại chỗ nhưng sau đó với thái độ cáu kỉnh và hay khà khịa chẳng nể vì ai Arthur đã làm mất thiện cảm của mọi người nhưng Verlain vẫn bảo dưỡng Rimbaud. Sự liên quan của hai người đã gây nhiều tai tiếng . Họ sống thật phóng đãng, lui tới thường trực nơi các quán rượu, say sưa với rượu áp xanh. Nạn nhân của những đối xử hung bạo trong đời sống gia đình, Mathilde, vợ của Verlain đã đem con trai đi trốn về Perriguex. Verlain bối rối và viết gởi cho Mathilde một bức thư nài nỉ xin lỗi. Mathilde cho Verlain biết rằng bà ta chỉ có thể chấp nhận nếu không còn sự hiện diện của Rimbaud nữa.
Tháng 3 năm 1972, Rimbaud quay trở về Charleville-Mézières rất thất vọng với đời sống tại Paris và thái độ của Verlain nhưng chưa đầy 2 tháng sau, cũng chính lại Verlain đã thuyết phục Rimbaud quay lại Paris. Lần này Rimbaud không cư ngụ tại nhà của Verlain mà tại một căn phòng ở đường Monsieur-le-Prince, sau đó tại hôtel de Cluny :

Thư gởi Ernest Delahay (tháng 6 năm 1872)
À Ernest Delahaye
à Charleville.
Parmerde, Jumphe

Mon ami,

Oui, surprenante est l'existence dans le cosmorama Arduan. La province, où on se nourrit de farineux et de boue, où l'on boit du vin du cru et de la bière du pays, ce n'est pas ce que je regrette. Aussi tu as raison de la dénoncer sans cesse. Mais ce lieu-ci : distillation, composition, tout étroitesses; et l'été accablant: la chaleur n'est pas très constante, mais de voir que le beau temps est dans les intérêts de chacun, et que chacun est un porc, je hais l'été, qui me tue quand il se manifeste un peu. J'ai une soif à craindre la gangrène : les rivières ardennaises et belges, les cavernes, voilà ce que je regrette.
Il y a bien ici un lieu de boisson que je préfère. Vive l'académie d'Absomphe, malgré la mauvaise volonté des garçons ! C'est le plus délicat et le plus tremblant des habits, que l'ivresse par la vertu de cette sauge des glaciers, l'absomphe ! Mais pour, après, se coucher dans la merde !
Toujours même geinte, quoi ! Ce qu'il y a de certain, c'est : merde à Perrin. Et au comptoir de l'Univers, qu'il soit en face du square ou non. Je ne maudis pas l'Univers, pourtant. - je souhaite très fort que l'Ardenne soit occupée et pressurée de plus en plus immodérément. Mais tout cela est encore ordinaire.
Le sérieux, c'est qu'il faut que tu te tourmentes beaucoup. Peut-être que tu aurais raison de beaucoup marcher et lire. Raison en tout cas de ne pas te confiner dans les bureaux et maisons de famille. Les abrutissements doivent s'exécuter loin. de ces lieux-là. Je suis loin de vendre du baume, mais je crois que les habitudes n'offrent pas des consolations, aux pitoyables jours.
Maintenant, c'est la nuit que je travaince. De minuit à cinq heures du matin. Le mois passé, ma chambre, rue Monsieur-le-Prince, donnait sur un jardin du lycée Saint-Louis. Il y avait des arbres énormes sous ma fenêtre étroite. A trois heures du matin, la bougie pâlit ; tous les oiseaux crient à la fois dans les arbres : c'est fini. Plus de travail. Il me fallait regarder les arbres, le ciel, saisis par cette heure indicible, première du matin. Je voyais les dortoirs du lycée, absolument sourds. Et déjà le bruit saccadé, sonore, délicieux des tombereaux sur les boulevards. - je fumais ma pipe-marteau, en crachant sur les tuiles, car c'était une mansarde, ma chambre. À cinq heures, je descendais à l'achat de quelque pain ; c'est l'heure. Les ouvriers sont en marche partout. C'est l'heure de se soûler chez les marchands de vin, pour moi. je rentrais manger, et me couchais à sept heures du matin, quand le soleil faisait sortir les cloportes de dessous les tuiles. Le premier matin en été, et les soirs de décembre, voilà ce qui m'a ravi toujours ici.
Mais en ce moment, j'ai une chambre jolie, sur une cour sans fond, mais de trois mètres carrés. - La rue Victor-Cousin fait coin sur la place de la Sorbonne par le café du Bas-Rhin et donne sur la rue Soufflot, à l'autre extrémité. - Là, je bois de l'eau toute la nuit, je ne vois pas le matin, je ne dors pas, j'étouffe. Et voilà.
Il sera certes fait droit à ta réclamation! N'oublie pas de chier sur La Renaissance, journal littéraire et artistique, si tu le rencontres. J'ai évité jusqu'ici les pestes d'émigrés caropolmerdis. Et merde aux saisons et colrage.

Courage.

A. R.
Rue Victor-Cousin, Hôtel de Cluny


Ngày 7 tháng 7, Rimbaud và Verlain rủ nhau trốn đi Bỉ. Ở nhà, Mathilde khám phá ra được những bức thư Rimbaud viết gởi, suốt từ tháng 2 cho đến tháng 5, cho chồng bà ta. Ngay tức khắc Mathilde đi Bruxelles với ý đồ lôi ông chồng trở về. Đầu tiên thì Verlain chấp thuận quay về với vợ nhưng sau đó đã lẩn tránh và bỏ rơi bà tại nhà ga biên giới giữa Pháp và Bỉ để theo Rimbaud. Mathilde buồn chán trở về lại Paris và quyết định xin ly thân.
Tháng 9 , Rimbaud và Verlain rời tỉnh Ostende đi Luân Đôn. Đây là lần đầu tiên cả hai biết biển. Đến Luân Đôn họ liên lạc với cộng đồng những người Pháp lưu vong ở đây như Eugène Vermesh và Félix Regamey. Những người này đã giúp họ tạm cư gần Soho, tại số 34 Howland Street. Phấn khởi với thành phố mới này, Arthur đã sáng tác một phần những bài Illuminations :

DELUGE

Aussitôt que l'idée du Déluge se fut rassise,
Un lièvre s'arrêta dans les sainfoins et les clochettes mouvantes, et dit sa prière à l'arc-en-ciel à travers la toile de l'araignée.
Oh ! les pierres précieuses qui se cachaient, - les fleurs qui regardaient déjà.
Dans la grande rue sale, les étals se dressèrent, et l'on tira les barques vers la mer étagée là-haut comme sur les gravures.
Le sang coula, chez Barbe-Bleue, - aux abattoirs, - dans les cirques, où le sceau de Dieu blêmit les fenêtres. Le sang et le lait coulèrent.
Les castors bâtirent. Les "mazagrans" fumèrent dans les estaminets.
Dans la grande maison de vitres encore ruisselante, les enfants en deuil regardèrent les merveilleuses images. Une porte claqua - et, sur la place du hameau, l'enfant tourna ses bras, compris des girouettes et des coqs des clochers de partout, sous l'éclatante giboulée.
Madame *** établit un piano dans les Alpes. La messe et les premières communions se célébrèrent aux cent mille autels de la cathédrale.
Les caravanes partirent. Et le Splendide Hôtel fut bâti dans le chaos de glaces et de nuit du pôle.
Depuis lors, la Lune entendit les chacals piaulant par les déserts de thym, - et les églogues en sabots grognant dans le verger. Puis, dans la futaie violette, bourgeonnante, Eucharis me dit que c'était le printemps.
- Sourds, étang, - Ecume, roule sur le pont et passe par-dessus les bois ; - draps noirs et orgues, éclairs et tonnerre, - montez et roulez ; - Eaux et tristesses, montez et relevez les Déluges.
Car depuis qu'ils se sont dissipés, - oh, les pierres précieuses s'enfouissant, et les fleurs ouvertes ! - c'est un ennui ! et la Reine, la Sorcière qui allume sa braise dans le pot de terre, ne voudra jamais nous raconter ce qu'elle sait, et que nous ignorons.

ENFANCE

I

Cette idole, yeux noirs et crin jaune, sans parents ni cour, plus noble que la fable, mexicaine et flamande ; son domaine, azur et verdure insolents, court sur des plages nommées, par des vagues sans vaisseaux, de noms férocement grecs, slaves, celtiques.
A la lisière de la forêt, - les fleurs de rêve tintent, éclatent, éclairent, - la fille à lèvre d'orange, les genoux croisés dans le clair déluge qui sourd des prés, nudité qu'ombrent, traversent et habillent les arcs-en-ciel, la flore, la mer.
Dames qui tournoient sur les terrasses voisines de la mer ; enfantes et géantes, superbes noires dans la mousse vert-de-gris, bijoux debout sur le sol gras des bosquets et des jardinets dégelés - jeunes mères et grandes soeurs aux regards pleins de pèlerinages - sultanes, princesses de démarche et de costume tyranniques petites étrangères et personnes doucement malheureuses.
Quel ennui, l'heure du "cher corps" et "cher coeur".

II

C'est elle, la petite morte, derrière les rosiers. - La jeune maman trépassée descend le perron. - La calèche du cousin crie sur le sable. - Le petit frère - (il est aux Indes !) là, devant le couchant, sur le pré d'oeillets. - Les vieux qu'on a enterrés tout droits dans le rempart aux giroflées.
L'essaim des feuilles d'or entoure la maison du général. Ils sont dans le midi. - On suit la route rouge pour arriver à l'auberge vide. Le château est à vendre ; les persiennes sont détachées. - Le curé aura emporté la clef de l'église. - Autour du parc, les loges des gardes sont inhabitées. Les palissades sont si hautes qu'on ne voit que les cimes bruissantes. D'ailleurs il n'y a rien à voir là-dedans.
Les prés remontent aux hameaux sans coqs, sans enclumes. L'écluse est levée. O les calvaires et les moulins du désert, les îles et les meules.
Des fleurs magiques bourdonnaient. Les talus le berçaient. Des bêtes d'une élégance fabuleuse circulaient. Les nuées s'amassaient sur la haute mer faite d'une éternité de chaudes larmes.

III

Au bois il y a un oiseau, son chant vous arrête et vous fait rougir.
Il y a une horloge qui ne sonne pas.
Il y a une fondrière avec un nid de bêtes blanches.
Il y a une cathédrale qui descend et un lac qui monte.
Il y a une petite voiture abandonnée dans le taillis, ou qui descend le sentier en courant, enrubannée.
Il y a une troupe de petits comédiens en costumes, aperçus sur la route à travers la lisère du bois.
Il y a enfin, quand l'on a faim et soif, quelqu'un qui vous chasse.

IV

Je suis le saint, en prière sur la terrasse, - comme les bêtes pacifiques paissent jusqu'à la mer de Palestine.
Je suis le savant au fauteuil sombre. Les branches et la pluie se jettent à la croisée de la bibliothèque.
Je suis le piéton de la grand'route par les bois nains ; la rumeur des écluses couvre mes pas. Je vois longtemps la mélancolique lessive d'or du couchant.
Je serais bien l'enfant abandonné sur la jetée partie à la haute mer, le petit valet suivant l'allée dont le front touche le ciel.
Les sentiers sont âpres. Les monticules se couvrent de genêts. L'air est immobile. Que les oiseaux et les sources sont loin ! Ce ne peut être que la fin du monde, en avancant.

V

Qu'on me loue enfin ce tombeau, blanchi à la chaux avec les lignes du ciment en relief - très loin sous terre.
Je m'accoude à la table, la lampe éclaire très vivement ces journaux que je suis idiot de relire, ces livres sans intérêt.
A une distance énorme au-dessus de mon salon souterrain, les maisons s'implantent, les brumes s'assemblent. La boue est rouge ou noire. Ville monstrueuse, nuit sans fin !
Moins haut, sont des égouts. Aux côtés, rien que l'épaisseur du globe. Peut-être les gouffres d'azur, des puits de feu. C'est peut-être sur ces plans que se rencontrent lunes et comètes, mers et fables.
Aux heures d'amertume je m'imagine des boules de saphir, de métal. Je suis maître du silence. Pourquoi une apparence de soupirail blêmirait-elle au coin de la voûte ?

và Verlain viết les Romance sans Paroles. Nhưng bị hạch nhiễu vì chuyện giấy tờ bởi những thừa phát lại trong thủ tục ly thân yêu cầu bởi Mathilde qua những chứng cớ về sự hung bạo mà Verlain đã đối xử với bà ta cũng như hành động bất thường của Verlain tại Bruxelles, Verlain mất can đảm và quanh quẩn với những hối hận của mình...Rimbaud theo lời khuyên nhủ của bà mẹ lại quay trở về Charleville và ở lại tại đây 3 tuần lễ . Trong tình trạng buồn thảm Verlain ngả bệnh, trong tình trạng tuyệt vọng Verlain nhắn gọi Rimbaud...Rimbaud và mẹ của Verlaine vội vã sang Luân Đôn...Cuộc sống lại diễn ra một cách bình thường với những cuộc dạo bộ, đọc sách và nghiên cứu.
Hai người rời Luân Đôn ngày 4 tháng 4 năm 1973, Verlain đến Namur - Bỉ vẫn với ý định giải hoà với người vợ nhưng Mathilde quyết liệt cắt đứt mọi liên lạc. Ngày 11 tháng 4 Rimbaud quay về Roche, lưu trú tại trang trại của gia đình và khởi sự viết Livre Paien hay Livre Nègre sau này trở thành Une Saison en Enfer tuy nhiên Rimbaud thỉnh thoảng cũng gập Delahaye và Verlain tại Bouillon, ngay biên giới giữa Pháp và Bỉ để rồi Verlaine lại rủ Rimbaud đi Anh quốc.
Đầu tháng 7, hai người lại có mặt tại Luân Đôn qua ngả Liège, Anvers. Cả hai cư ngụ tại số 8 Great College Street, Camden Town. Họ hoàn chỉnh tiếng Anh và dạy tiếng Pháp. Tuy nhiên sự tương quan giữa hai người đã gây sự chú ý, đồn đãi trong giới người lưu vong Pháp tại đây để kết quả là cả hai bị...trục xuất khỏi hàng ngũ này. Verlaine cảm thấy rằng tăm tiếng của mình bị mất và việc kiện tụng ly hôn với Mathilde sẽ có hậu qủa bất lợi nếu tin đồn đãi này lan về Paris, Verlaine bắt đầu lại uống rượu và thái độ của Rimbaud cũng khó có thể ai chịu đựng được nổi...cả hai cãi nhau rồi đánh nhau...Sau một cuộc cãi cọ dữ dội giữa hai người, để Rimbaud trong tình trạng không một xu dính túi, Verlaine rời Anh đi Bỉ với ý định giải hoà với vợ, nhưng Mathilde khăng khăng từ chối mọi liên lạc .
Trong tình trạng khích động này Verlaine đã đề cập đến hai chữ " tự vận " trong một bức thư . Mẹ Verlaine đến Bỉ để gập con và Verlaine lại gọi Rimbaud về Bỉ với mình nhưng hai người lại tiếp tục tranh cãi...Verlaine thấy rằng Rimbaud nhất định trở về Pháp nên trong lúc quá tức giận đã rút khẩu súng lục bắn hai phát súng lục vào Rimbaud may thay chỉ một viên trúng cổ tay và sau đó được Verlaine và bà mẹ ông ta đưa vào băng bó tại bệnh viện Saint-Jean. Mẹ Verlaine đã thuyết phục với con trai để Rimbaud ra đi nhưng trên lộ trình của ba người đến nhà ga, Verlaine bỗng nhiên bỏ tay vào túi áo nơi để khẩu súng lục của ông ta, Rimbaud cuống sợ và cầu cứu với một nhân viên cảnh lực. Mặc dù Rimbaud không có ý định thưa gởi gì nhưng nhân viên công lực vẫn áp giải Verlaine về bóp và ngay ngày hôm sau chuyển Verlaine đến nhà giam "des Petites- Carmes". Tại đây Verlaine đã bị khám nghiệm y khoa với kết quả : mắc bệnh đồng tình luyến ái.
Vrerlaine ra toà ngày 8 tháng 8 và bị kết án : 2 tháng tù với 200 Françs phạt vạ.
Rimbaud sau khi trở lại bệnh viện Saint-Jean để mổ lấy đạn ra đã quay trở về lại trang trại của gia đình ở Roche và tự giam mình trên gác chót ngôi nhà để hoàn thành "Une Saison de l'Enfer" :

NUIT DE L'ENFER

J'ai avalé une fameuse gorgée de poison. - Trois fois béni soit le conseil qui m'est arrivé ! - Les entrailles me brûlent. La violence du venin tord mes membres, me rend difforme, me terrasse. Je meurs de soif, j'étouffe, je ne puis crier. C'est l'enfer, l'éternelle peine ! Voyez comme le feu se relève ! Je brûle comme il faut. Va, démon !
J'avais entrevu la conversion au bien et au bonheur, la salut. Puis-je décrire la vision, l'air de l'enfer ne souffre pas les hymnes ! C'était des millions de créatures charmantes, un suave concert spirituel, la force et la paix, les nobles ambitions, que sais-je ?
Les nobles ambitions !
Et c'est encore la vie ! - Si la damnation est éternelle ! Un homme qui veut se mutiler est bien damné, n'est-ce-pas ? Je me crois en enfer, donc j'y suis. C'est l'exécution du catéchisme. Je suis esclave de mon baptême. Parents, vous avez fait mon malheur et vous avez fait le vôtre. Pauvre innocent ! l'enfer ne peut attaquer les païens. - C'est la vie encore ! Plus tard, les délices de la damnation seront plus profondes. Un crime, vite, que je tombe au néant, de par la loi humaine.
Tais-toi, mais tais-toi !... C'est la honte, le reproche, ici : Satan qui dit que le feu est ignoble, que ma colère est affreusement sotte. - Assez !... Des erreurs qu'on me souffle, magies, parfums faux, musiques puériles. - Et dire que je tiens la vérité, que je vois la justice : j'ai un jugement sain et arrêté, je suis prêt pour la perfection... Orgueil. - La peau de ma tête se dessèche. Pitié ! Seigneur, j'ai peur. J'ai soif, si soif ! Ah ! l'enfance, l'herbe, la pluie, le lac sur les pierres, le clair de lune quand le clocher sonnait douze... le diable est au clocher, à cette heure. Marie ! Sainte-Vierge !... - Horreur de ma bêtise.
Là-bas, ne sont-ce pas des âmes honnêtes, qui me veulent du bien... Venez... J'ai un oreiller sur la bouche, elles ne m'entendent pas, ce sont des fantômes. Puis, jamais personne ne pense à autrui. Qu'on n'approche pas. Je sens le roussi, c'est certain.
Les hallucinations sont innombrables. C'est bien ce que j'ai toujours eu : plus de foi en l'histoire, l'oubli des principes. Je m'en tairai : poètes et visionnaires seraient jaloux. Je suis mille fois le plus riche, soyons avare comme la mer.
Ah ça ! l'horloge de la vie s'est arrêtée tout à l'heure. Je ne suis plus au monde. - La théologie est sérieuse, l'enfer est certainement en bas - et le ciel en haut. - Extase, cauchemar, sommeil dans un nid de flammes.
Que de malices, dans l'attention dans la campagne... Satan, Ferdinand, court avec les graines sauvages... Jésus marche sur les ronces purpurines, sans les courber... Jésus marchait sur les eaux irritées. La lanterne nous le montra debout, blanc et des tresses brunes, au flanc d'une vague d'émeraude...
Je vais dévoiler tous les mystères : mystères religieux ou naturels, mort, naissance, avenir, passé, cosmogonie, néant. Je suis maître en fantasmagories.
Écoutez !...
J'ai tous les talents ! - Il n'y a personne ici et il y a quelqu'un : je ne voudrais pas répandre mon trésor. - Veut-on des chants nègres, des danses de houris ? Veut-on que je disparaisse, que je plonge à la recherche de l'anneau ? Veut-on ? Je ferai de l'or, des remèdes.
Fiez-vous donc à moi, la foi soulage, guide, guérit. Tous, venez, - même les petits enfants, - que je vous console, qu'on répande pour vous son coeur, - le coeur merveilleux ! - Pauvres hommes, travailleurs ! Je ne demande pas de prières ; avec votre confiance seulement, je serai heureux.
- Et pensons à moi. Ceci me fait un peu regretter le monde. J'ai de la chance de ne pas souffrir plus. Ma vie ne fut que folies douces, c'est regrettable.
Bah ! faisons toutes les grimaces imaginables.
Décidément, nous sommes hors du monde. Plus aucun son. Mon tact a disparu. Ah ! mon château, ma Saxe, mon bois de saules. Les soirs, les matins, les nuits, les jours... Suis-je las !
Je devrais avoir mon enfer pour la colère, mon enfer pour l'orgueil, - et l'enfer de la caresse ; un concert d'enfers.
Je meurs de lassitude. C'est le tombeau, je m'en vais aux vers, horreur de l'horreur ! Satan, farceur, tu veux me dissoudre, avec tes charmes. Je réclame. Je réclame ! un coup de fourche, une goutte de feu.
Ah ! remonter à la vie ! Jeter les yeux sur nos difformités. Et ce poison, ce baiser mille fois maudit ! Ma faiblesse, la cruauté du monde ! Mon Dieu, pitié, cachez-moi, je me tiens trop mal ! - Je suis caché et je ne le suis pas.
C'est le feu qui se relève avec son damné.
Arthur Rimbaud
( Trích từ Une Saison de l'Enfer )

Cũng trong tháng 8 này, Arthur đem bản viết đến một nhà in tại Bruxelles để in. Nhưng vì không đủ tiền để tra nên ngày 22 tháng 10, Arthurt đành phải ngưng phát hành mà chỉ lấy được vài quyển để tặng gởi một số bạn hữu trong đó 1 cuốn gởi cho Verlaine đang còn ở trong nhà giam.

Tháng 3 năm 1874, Rimbaud lại đến Luân Đôn cùng với Germain Nouveau, một nhà thơ cựu hội viên hội Zutique, người này đã giúp Rimbaud trong việc sao chép " Illuminations ". Hai người cư trú tại 178 Stamfort Street . Để tránh mắc phải tai tiếng khi quá thân cận với Arthur nên Germain Nouveau quay trở lại Paris vào tháng 6 bỏ Arthur bối rối một mình . Suy sụp tinh thần, Arthur viết thư cho mẹ mình . Tháng 7 , mẹ Arthur đi cùng với cô em gái, Vitalie sang gập Arthur.
Rimbaud mưu sinh bằng cách dạy tiếng Pháp tại Scarborough nhưng sau đó vào tháng 12 quay trở lại vùng Ardennes.

Năm 1875, Rimbaud đi Đức và làm một chức gia sư tại Stuttgart sau khi đã học tiếng Đức trong suốt mấy tuần lễ. Verlaine vừa được thả ra khỏi nhà giam, ông ta đã trở lại nhà thờ như những người ngoan đạo thuần thành khác và quyết định đến Stuttgard vừa để nối lại mối thân tình và cũng vừa để " cứu rỗi linh hồn " Rimbaud như ông ta nói. Thái độ của Verlaine làm cho Rimbaud nổi giận và đuổi Verlaine chỉ sau hai ngày tái ngộ.Từ ngày đó sự liên lạc giữa hai người được coi như chấm dứt.
Tháng 5, Artthur Rimbaud rời Đức để đi Thụy Sĩ và đi bộ vào Ý . Khi đến Milan nhà thơ phải ngừng lại tại đây vì bị lâm bệnh. Sau đó lại lên đường về hướng nam có thể ý định tìm cách xuống tầu đi Phi Châu. Bị quật ngã vì mộ cơn say nắng trên lộ trình từ Livouene đến Sienne, Arthur đã được lãnh sự quán Pháp tại đây đưa về Marseille. Tháng 7 cùng năm này, quay trở lại Paris rồi tháng 10 trở về Charleville, chuyến trở về này Arthur đã lưu lại bản « manifestation poétique » - biểu lộ thi ca - cuối cùng : Rêve , nguyên bản tìm thấy trong một bức thư gởi Ernest Delahaye :

RÊVE

On a faim dans la chambrée -
C'est vrai...
Émanations, explosions. Un génie :
« Je suis le gruère ! -
Lefêbvre : « Keller ! »
Le génie : « Je suis le Brie ! -
Les soldats coupent sur leur pain :
« C'est la vie !
Le génie. - « Je suis le Roquefort !
- « Ca s'ra not' mort !...
Je suis le gruère
Et le Brie !... etc.

A. R.

Suốt mùa Đông năm này, Arthur Rimbaud học tiếng Nga, tiếng Ả Rập và âm nhạc.
Ngày 18 tháng 12, Vitalie, cô em gái yêu qúy nhất của nhà thơ từ trần, rất đau khổ, Arthur đã cạo trọc đầu mình để tang.

Mùa Xuân năm 1876, Arthur lại lên đường đi Vienne, thủ đô nước Áo, chân ướt chân ráo vừa đặt chân đến đây, Arthur đã bị một tên đánh xe ngựa lột sạch hành trang...Không còn một xu dính túi, Arthur đã phải nhờ cảnh sát dẫn độ về lại biên giới để đi ...bộ về lại Charleville.
Tháng Năm, Arthur tình nguyện gia nhập vào quân đội thuộc địa Hoà Lan với thời hạn là ...6 năm . Được đưa đến Batavia (Djakarta hiện nay) vào ngày 19 tháng 7, chỉ 3 tuần lễ sau Arthur đào ngũ và xuống một chiếc tầu buồm Ecosse để quay trở về Âu Châu. Cuối tháng 12 Arthur lại có mặt tại Charleville suốt mùa Đông năm này.

1877 - Mùa Xuân, Arthur lại lên đường : tại Brême hình như muốn gia nhập hải quân Hoa Kỳ, sau đó là Hambourg, rồi Thuỵ Điển, Đan Mạch trong một gánh xiếc như một thông dịch viên rồi sau đó lại quay về Charleville để cũng lại từ đây một chuyến vượt thoát : Người ta gập Arthur tại Marseille nơi ông xuống tầu đi Alexandrie (Ai-Cập) vào tháng 9 nhưng bị đau ốm trên tầu nên Arthur bị bỏ lại Civita-Vecchia để Arthur có dịp viếng thăm thành phố Rome và lại...nghỉ ngơi trong suốt mùa Đông tại...Charleville-Ardennes. Năm 1878, người ta lại gập Arthur Rimbaud ở Paris vào dịp lễ Phục Sinh (Pâques), sau đó tại Charleville để gíup đỡ gia đình trong những công việc nông trại thường nhật suốt mùa hè.
Tháng 10, Arthur Rimbaud lội tuyết đi bộ qua vùng Vosges (Pháp), Thụy Sĩ và Saint-Gothard . Đến thành phố Lugano, Arthur đáp xe lửa tới Gênes rồi xuống tầu đi Alexandrie (Ai-Cập)
Ngày 16 tháng 12, Arthur đến Chypres, đảm nhận công việc một người trưởng toán thợ khai thác trong mỏ đá tại Lanarka. Sáu tháng sau, tháng 6 năm 1879, bị mắc bệnh thương hàn, Arthur phải trở về Roche - Charleville điều trị. " Tôi chẳng tha thiết gì chuyện này nữa " Arthur đã bộc lộ sự dửng dưng của mình về lãnh vực văn chương với Delahaye trong một dịp khi người bạn này đến thăm.

Tháng 3 năm 1880, Arthur trở lại Chypres đảm nhận trách vụ trông nom xây dựng dinh toàn quyền của người Anh tại đây nhưng sau đó Arthur từ chức rồi rời khỏi đảo này vào tháng 7 để đến Ai-Cập và tháng 8 đến Aden. Tại đây Arthur ký hợp đồng làm việc với công ty xuất nhập cảng Bardey et Cie chuyên về buôn bán gia thú vật và cà phê vơí nhiệm vu là trưởng cơ xưởng chọn lựa cà phê. Ba tháng sau đó, thuyên chuyển đến Harar, Abyssinie - ngày 13 tháng 12 sau một chuyến đi ngựa vượt xa mạc của Somali.

Năm 1881, Arthur trở thành người chuyên môn mua cho công ty Bardey. Sau một thời gian đầy hứng khởi, Arthur bắt đầu buồn chán, than phiền về phong thổ, va chạm với những thương nhân. Ủy thác cho mẹ trách nhiệm gởi sang cho mình những tác phẩm về kỹ thuật, những dụng cụ, máy chụp hình, Arthur mơ tưởng đến những cuộc thám hiểm...nhưng vào tháng 6, 7 cùng năm sau một chuyến thám hiểm ở Bubassa, vì mệt nhọc , bực tức với sự chậm trễ thư tín, Arthur rời thành phố này để về Aden vào tháng 12.

Năm 1883 , Rimbaud vẫn làm việc cho công ty Bardey tại Aden. Arthur vẫn liệu những vấn đề khoa học, thám hiểm và đặt mua dụng cụ chụp hình, một hoạt động mà Arthur hy vọng sẽ thu lượm được kết quả tốt về tài chánh. Cùng năm này, Arthur lại rời Aden để trở lại Harar với sự ủy thác của Bardey trong trách nhiệm khám phá vùng Somali và xứ Galla. Arthur quyết định tìm hiểu về Ogadine mà lúc này hầu như không ai biết đến. Arthur đến xứ Ogadine vào tháng 8 và viết một bản tường trình về toàn bộ vùng này, bàn tường trình xuất hiện trên "Bulletin de la Société de Géographie" vào năm sau - 1884.
Sự giầu có đến với Arthur quá chậm, Arthur tiếp tục đặt mua, qua những bức thư gởi cho gia đình nhất là gởi cho mẹ, những vật liệu kỹ thuật hoặc những sách giáo khoa chuyên môn với những lới hướng dẫn của mình về việc đầu tư cuả số tiền tiết kiệm mà Arthur có :

Mes chers amis, J'ai reçu votre dernière lettre et la caisse de livres m'est arrivée hier au soir. Je vous remercie. L'appareil photographique et tout le reste, est en excellent état quoiqu'il ait été se promener à Maurice, et je tirerai bon parti de tout cela. Quant aux livres, ils me seront très utiles dans un pays où il n'y a pas de renseignements et ou l'on devient bête comme un âne, si on ne repasse pas un peu ses études. Les jours et les nuits, surtout, sont bien longues au Harar, et ces bouquins me feront agréablement passer le temps. Car il faut dire qu'il n'y a aucun lieu de réunion public au Harar; on est forcé de rester chez soi continuellement. Je compte d'ailleurs faire un curieux album de tout cela.
Je vous envoie un chèque de cents francs, que vous toucherez, et achetez-moi les livres dont la liste suit. La dépense des livres est utile.
Vous dites qu'il reste quelques cents francs de mon ancien argent. Quand on vous demandera le prix du graphomètre (instrument de nivellement) que j'ai commandé à Lyon, payez-le donc de ce qui reste. J'ai sacrifié toute cette somme. J'ai ici cinq mille francs, qui portent à la maison même 5 % d'intérêt: je ne suis donc pas encore ruiné. Mon contrat avec la maison finit en novembre; c'est donc encore huit mois à 330 francs que j'ai devant moi, soit 2 500 frs environ, soit qu'à la fin de l'année j'aurai toujours au moins 7 000 francs en caisse, sans compter ce que je puis bricoler en vendant et achetant quelque peu pour mon compte. Après novembre, si l'on ne me rengage pas, je pourrai toujours faire un petit commerce, qui me rapportera 60 % en un an. Je voudrais faire rapidement, en quatre ou cinq ans, une cinquantaine de mille francs; et je me marierais ensuite. Je pars demain pour Zeilah. Vous n'aurez plus de nouvelles de moi avant deux mois. Je vous souhaite beau temps, santé, prosperité.

Tout à vous,

Rimbaud.
- Toujours adresser à Aden
Aden, 19 mars 83


Nhà thơ đã trở thành một thương gia nhưng hình như không được thành công, cùng lúc Arthur than thở hoàn cảnh với những nhân viên của mình nhưng cũng cùng lúc đó tưởng tượng một cách thích thú về một cuộc sống của một người thực lợi (rentier), Arthur đã nghĩ cả đến chuyện lấy vợ :

LETTRE A SA FAMILLE
Harar, le 6 mai 1883

Mes chers amis,

Le 30 avril, j'ai reçu au Harar votre lettre du 26 mars.
Vous dites m'avoir envoyé deux caisses de livres. J'ai reçu une seule caisse à Aden, celle pour laquelle Dubar disait avoir épargné vingt-cinq francs. L'autre est probablement arrivée à Aden, à présent, avec le graphomètre. Car je vous avais envoyé, avant de partir d'Aden, un chèque de 100 francs avec une autre liste de livres. Vous devez avoir touché ce chèque ; et, les livres, vous les avez probablement achetés. Enfin, à présent, je ne suis plus au courant des dates. Prochainement, je vous enverrai un autre chèque de 200 francs, car il faudra que je fasse revenir des glaces pour la photographie.
Cette commission a été bien faite; et, si je veux, je regagnerai vite les 2 000 francs que ça m'a coûté. Tout le monde veut se faire photographier ici ; même on offre une guinée par photographie. Je ne suis pas encore bien installé, ni au courant; mais je le serai vite, et je vous enverrai des choses curieuses.
Ci-inclus deux photographies de moi-même par moi-même. Je suis toujours mieux ici qu'à Aden. Il y a moins de travail et bien plus d'air, de verdure, etc.
J'ai renouvelé mon contrat pour trois ans ici, mais je crois que l'établissement fermera bientôt, les bénéfices ne couvrent pas les frais. Enfin, il est conclu que le jour qu'on me renverra, on me donnera trois mois d'appointements d'indemnité. A la fin de cette année-ci, j'aurai trois ans complets dans cette boîte.
Isabelle a bien tort de ne pas se marier si quelqu'un de sérieux et d'instruit se présente, quelqu'un avec un avenir. La vie est comme cela, et la solitude est une mauvaise chose ici bas. Pour moi, je regrette de ne pas être marié et avoir une famille. Mais, à présent, je suis condamné à errer, attaché à une entreprise lointaine, et tous les jours je perds le goût pour le climat et les manières de vivre et même la langue de l'Europe. Hélas ! à quoi servent ces allées et venues, et ces fatigues et ces aventures chez des races étranges, et ces langues dont on se remplit la mémoire, et ces peines sans nom, si je ne dois pas un jour, après quelques années, pouvoir me reposer dans un endroit qui me plaise à peu près et trouver une famille, et avoir au moins un fils que je passe le reste de ma vie à élever à mon idée, à orner et à armer de l'instruction la plus complète qu'on puisse atteindre à cette époque, et que je voie devenir un ingénieur renommé, un homme puissant et riche par la science ? Mais qui sait combien peuvent durer mes jours dans ces montagnes-ci ? Et je puis disparaître, au milieu de ces peuplades, sans que la nouvelle en ressorte jamais.
Vous me parlez des nouvelles politiques. Si vous saviez comme ça m'est indifférent ! Plus de deux ans que je n'ai pas touché un journal. Tous ces débats me sont incompréhensibles, à présent. Comme les musulmans, je sais que ce qui arrive arrive, et c'est tout.
La seule chose qui m'intéresse, sont les nouvelles de la maison et je suis toujours heureux à me reposer sur le tableau de votre travail pastoral. C'est dommage qu'il fasse si froid et lugubre chez vous, en hiver ! Mais vous êtes au printemps, à présent, et votre climat, à ce temps-ci, correspond avec celui que j'ai ici, au Harar, à présent.
Ces photographies me représentent, l'une, debout sur une terrasse de la maison, l'autre, debout dans un jardin de café ; une autre, les bras croisés dans un jardin de bananes. Tout cela est devenu blanc, à cause des mauvaises eaux qui me servent à laver. Mais je vais faire de meilleur travail dans la suite. Ceci est seulement pour rappeler ma figure, et vous donner une idée des paysages d'ici.

Au revoir,

Rimbaud.
Maison Mazeran, Viannay et Bardey,
Aden.


Năm 1884, công ty Bardey phá sản, Arthur lên đường quay về Aden vào tháng 4 và là một người thất nghiệp tuyệ vọng nhìn món tiền tiếp kiệm của mình ngày một hao tốn ... May thay, Bardey người chủ công ty sập tiệm lại thành công để tạo một công việc làm ăn khác, tuyển dụng Arthur với giao kèo 6 tháng là việc đến cuối năm này.

Năm 1885, Arthur lại ký kết giao kèo làm việc tiếp với Bardey thêm 1 năm . Nhưng đến tháng 10 - 1885, Arthur nghe nói đến một vụ buôn bán vũ khí tại Choa và đã quyết định hủy bỏ giao kèo để dấn mình vào cuộc phiêu lưu. Đây là một chuyện buôn tại Liègé , Bỉ, và bán lại lời gấp 5 lần cho Ménélik, vua của xứ Choa, những khẩu súng đã ytrở thàng qúa cũ kỹ ở Âu Châu.
Đi từ tháng 10 để đến Tadjourah nhân chuyển giao hàng và tổ chức một đoàn lạc đà vận chuyển vũ khí giao cho nhà vua nhưng Arthur đã bị chặn lại nhiều tháng vì một vũ đình công của những người dắt lạc đà.

Tháng 4 năm 1886, cuối cùng đoàn lạc đà cũng sẵn sàng để lên đường nhưng cũng là lúc mà Arthur biết được một bản hiệu lệnh của vị toàn quyền tại Obock : chiếu theo thỏa hiệp giữa Pháp và Anh quốc, tất cả mọi hoạt đông nhập cảng vũ khí vào Choa đều bị cấm chỉ. Arthur chôn dấu những kiện hàng dưới cát để tránh bị tịch thu sau đó Arthur khiếu nại với bộ ngoại giao Pháp và vận động rất nhiều.
Tháng 6 cùng năm khi biết được rằng một phái đòan nghiên cứu khoa học Ý được quyền đi vào Choa, Arthur đã dàn xếp để tham dự vào phái đoàn . Mặc dù Labatut, người chủ chốt của vụ buôn bán vũ khí, đã chịu bỏ cuộc và nhà thám hiểm Soleillet đã vừa qua đời nhưng Arthur quyết định cầm đầu đoàn người mạo hiểm này dưới cái nóng gay gắt 70 độ trên suốt lộ trình dẫn đến Ankober, lâu đài của vua Ménélik. Arthur cũng không được biết rằng trong lúc đó tờ La Vogue đã cho ấn hành những câu thơ của mình và phần lớn những bài trong Illuminations.

Ngày 6 tháng 2 năm 1887, Arthur Rimbaud đến Ankober nhưng nhà vua lại vắng mặt. Arthur bắt buộc phải lội bộ đến Antotto cách đó hơn 120 cấy số. Ménélik tiếp đón Arthur và nhận súng nhưng vơí những khó khăn hiện tại Ménélik không thể trả tiền được như đã thỏa thuận, hiển nhiên Ménélik muốn trừ lại số tiền mà Labatut, khi này cũng vừa từ trần vì bị ung thư, đã thiếu ông ta, và số còn lại sẽ do Makonen , vị toàn quyền mới của Harar , trả cho Arthur.
Arthur lại phải lên đường đến Harar cùng với nhà thám hiểm Jules Borelli để được Makonen thanh toán số tiền còn thiếu. Rốt cuộc, như Arthur đã viết cho vị phó lãnh-sự Pháp ở Aden ngày 30 tháng 7 : chẳng được lời đồng nào nếu không " 21 tháng mệt nhọc khủng khiếp ".
Cuối tháng 7, Arthur đến Caire để nghỉ ngơi; Arthur đã quá mệt mỏi, kiệt sức, già hẳn đi, bệnh hoạn. Trong một lá thư viết vào ngày 23 tháng 8 cùng những bức thư viết vào cuối năm này gởi cho gia đình ở Charleville , Arthur đã mô tả tình trạng thê thảm và sự mất can đảm của mình vào khi đó . Cùng lúc, Arthur viết gởi cho người giám đốc một tờ báo điạ phương, "Bosphore Egyptien", để thuật lại chuyến đi tại Abyssinie và tại Harar. Arthur than phiền về bệnh thấp khớp quan trọng nhất là ở đầu gối trái tuy thế vẫn còn đủ nghị lực để viết và cho xuất hiện trên tờ Bosphore Egyptien một bài nghiên cứu về sự lợi ích kinh tế của Choa. Việc làm này sau đó đã được chuyển đến cho Société de Géographie . Cũng có những lúc Arthur nghĩ đến việc đi Zanzibar hoặc Beyrouth nhưng một vụ kiện cáo dính líu đến Ménélik mà ông phải có mặt vào tháng 10 tại Aden đã không làm ông thực hiện được những dự định này.

Arthur lại có mặt ở Aden vào đầu năm 1888. Tháng 3 năm này, ông đã nhận lời để chuyển vận một chuyến tàu chuyên chở súng đến Harar và từ chối không làm chuyến thứ hai. Một thời gian ngắn sau đó, ông làm quen với một thương gia quan trọng tại Aden, César Tian, và nhận lời làm đại diện cho cơ sở của người này tại Harar vì ngoài công việc này ông còn có thể làm những việc thương mại của chính ông. Suốt 3 năm, Arthur xuất, nhập cảng, hướng dẫn những đoàn lạc đà chuyển vận hàng hoá về mé biển, tuy thế, Arthur vẫn buồn chán, ngoài ra ông chỉ liên lạc với nhóm nhỏ bé những người Âu châu hiện diện tại chỗ hoặc đi qua và trao đổi nhiều thư tín quan trọng với họ.
Arthur Rimbaud đã bị mắc bệnh ung thư nơi đầu gối phải mà bệnh giang mai cũ càng làm cho tình trạng sức khoẻ suy sụp thêm. Ngày 15 tháng 3 năm 1891 Arthur không thể đứng dậy nổi được nữa bắt buộc người ta phải di chuyển ông đến Zeilah trên một chiếc cáng mang xuống tầu trở lại Aden. Trong bức thư viết gởi mẹ dưới đây , vào ngày 30 tháng 4 , Arthur đã tự mô tả mình " Con đã trở thành một bộ xương đến độ con phải sợ chính con nữa ..." :

Aden, le 30 avril 1891.

Ma chère maman,

J'ai bien reçu vos deux bas et votre lettre, et je les ai reçus dans de tristes circonstances. Voyant toujours augmenter l'enflure de mon genou droit et la douleur dans l'articulation, sans trouver aucun remède ni aucun avis, puisqu'au Harar nous sommes au milieu des nègres et qu'il n'y a point là d'Européens, je me décidai à descendre. Il fallait abandonner les affaires : ce qui n'était pas très facile, car j'avais de l'argent dispersé de tous les côtés; mais enfin je réussis à liquider à peu près totalement. Depuis déjà une vingtaine de jours, j'étais couché au Harar et dans l'impossibilité de faire un seul mouvement, souffrant des douleurs atroces et ne dormant jamais. Je louai seize nègres porteurs, à raison de 15 thalaris l'un, du Harar à Zeilah; je fis fabriquer une civière recouverte d'une toile, et c'est là dessus que je viens de faire, en douze jours, les 300 kilomètres de désert qui séparent les monts du Harar du port de Zeilah. Inutile de vous dire quelles horribles souffrances j'ai subies en route. Je n'ai jamais pu faire un pas hors de ma civière; mon genou gonflait à vue d'oeil, et la douleur augmentait continuellement.
Arrivé ici, je suis entré à l'hôpital européen. Il y a une seule chambre pour les malades payants : je l'occupe. Le docteur anglais, dès que je lui ai montré mon genou, a crié que c'est une synovite arrivée à un point très dangereux, par suite du manque de soins et des fatigues. Il parlait tout de suite de couper la jambe ; ensuite, il a décidé d'attendre quelques jours pour voir si le gonflement diminuerait un peu après les soins médicaux. Il y a six jours de cela, mais aucune amélioration, sinon que, comme je suis au repos, la douleur a beaucoup diminué. Vous savez que la synovite est une maladie des liquides de l'articulation du genou, cela peut provenir d'hérédité, ou d'accidents, ou de bien des causes. Pour moi, cela a été certainement causé par les fatigues des marches à pied et à cheval au Harar. Enfin, à l'état où je suis arrivé, il ne faut pas espérer que je guérisse avant au moins trois mois, sous les circonstances les plus favorables. Et je suis étendu, la jambe bandée, liée, reliée, enchaînée, de façon à ne pouvoir la mouvoir. Je suis devenu un squelette : je fais peur. Mon dos est tout écorché du lit ; je ne dors pas une minute. Et ici la chaleur est devenue très forte. La nourriture de l'hôpital, que je paie pourtant assez cher, est très mauvaise. Je ne sais quoi faire. D'un autre côté, je n'ai pas encore terminé mes comptes avec mon associé, mr Tian. Cela ne finira pas avant la huitaine. Je sortirai de cette affaire avec 35000 francs environ. J'aurais eu plus ; mais, à cause de mon malheureux départ, je perds quel ques milliers de francs. J'ai envie de me faire porter à un vapeur, et de venir me traiter en France, le voyage me ferait encore passer le temps. Et, en France, les soins médicaux et les remèdes sont bon marché, et l'air bon. Il est donc fort probable que je vais venir. Les vapeurs pour la France à présent sont malheureusement toujours combles, parce que tout le monde rentre des colonies à ce temps de l'année. Et je suis un pauvre infirme qu'il faut transporter très doucement ! Enfin, je vais prendre mon parti dans la huitaine.
Ne vous effrayez pas de tout cela, cependant. De meilleurs jours viendront. Mais c'est une triste récompense de tant de travail, de privations et de peines ! Hélas ! que notre vie est misérable !

Je vous salue de coeur.

Rimbaud.
P.-S. - Quant aux bas, ils sont inutiles. Je les renvendrai quelque part.

Ngày 9 tháng 5, người ta phải chuyển Rimbaud về Pháp và ngày 22 đến Marseille ngày 22 và được đưa vào bệnh viện Conception. Các bác sĩ khám nghiệm đã quyết định phải cắt ngay chân của Arthur. Mẹ Arthur cũng từ Charleville tức tốc xuống Marseille với con vào ngày 23 tháng 5.
Ngày 25, cuộc giải phẫu đã diễn ra, Arthur mất hẳn niềm tin và viết cho người em gái, Isabelle trong bức thư đề ngày 23 tháng 6 dưới đây : « Cuộc đời chúng ta chỉ là một sự khốn cùng, sự khốn cùng không ngưng. Tại sao chúng ta lại phải hiện diện ? » :

Marseille, le 23 juin 1891.

Ma chère soeur,

Tu ne m'as pas écrit; que s'est-il passé ? Ta lettre m'avait fait peur, j'aimerais avoir de tes nouvelles. Pourvu qu'il ne s'agisse pas de nouveaux ennuis, car, hélas, nous sommes trop éprouvés à la fois !
Pour moi, je ne fais que pleurer jour et nuit, je suis un homme mort, je suis estropié pour toute ma vie. Dans la quinzaine, je serai guéri, je pense ; mais je ne pourrai marcher qu'avec des béquilles. Quant à une jambe artificielle, le médecin dit qu'il faudra attendre très longtemps, au moins six mois ! Pendant ce temps que ferai-je, où resterai-je ? Si j'allais chez vous, le froid me chasserait dans trois mois, et même en moins de temps ; car, d'ici, je ne serai capable de me mouvoir que dans six semaines, le temps de m'exercer à béquiller ! Je ne serais donc chez vous que fin juillet. Et il me faudrait repartir fin septembre.
Je ne sais pas du tout quoi faire. Tous ces soucis me rendent fou : je ne dors jamais une minute.
Enfin, notre vie est une misère, une misère sans fin ! Pour quoi donc existons-nous ? Envoyez-moi de vos nouvelles.

Mes meilleurs souhaits.

Rimbaud.
Hôpital de la Conception,

Cuối tháng 7, Arthur Rimbaud quá chán ngán khi phải nằm trong bệnh viện và đã xin xuất viện về Roche, tại đây Isabelle , cô em gái Arthur đã săn sóc thật tận tình cho người anh. Nhưng bệnh tình phát triển mạnh để Arthur phải quay trở lại Marseille hy vọng tại đây với khí hậu nóng ấm và có thể có cơ hội trở lại Phi Châu nơi những người bạn Arthur vẫn luôn nhắn gọi.
Arthur đến Marseille vào cuối tháng 8 cùng với Isabelle, và Arthur bắt buộc phải nhập viện khẩn cấp vì tình trạng trở thành rất nguy ngập. Sau một thời kỳ thuyên giảm thật ngắn ngủi, Arthur đã phải chịu đựng trong mấy tuần lễ những cơn đau đón khủng khiếp. Isabelle đã thuyết phục được người anh chấp nhận sự viếng thăm của một vị linh mục của bệnh viện để làm phép cho một kẻ đang hấp hối.

Trước khi nhắm mắt từ trần, Arthur đã đọc trong tình trạng mê sảng cho cô em gái viết một lá thư gởi vị giám đốc Messageries Maritimes - vận chuyển đường thủy - : « Tôi hoàn toàn tê liệt nên tôi ước muốn được lên tầu trước giờ ấn định, xin cho tôi được biết mấy giờ tội sẽ có thể được chuyển lên tầu .» :

Marseille, 9 novembre 1891.

UN LOT : UNE DENTSEULE.
UN LOT : DEUX DENTS.
UN LOT : TROIS DENTS.
UN LOT : QUATRE DENTS.
UN LOT : DEUX DENTS.

Monsieur le Directeur,

Je viens vous demander si je n'ai rien laissé à votre compte. Je désire changer aujourd'hui de ce service-ci, dont je ne connais même pas le nom, mais en tout cas que ce soit le service d'Aphinar. Tous ces services sont là partout, et moi, impotent, malheureux, je ne peux rien trouver, le premier chien dans la rue vous dira cela.
Envoyez-moi donc le prix des services d'Aphinar à Suez. Je suis complètement paralysé: donc je désire me trouver de bonne heure à bord. Dites-moi à quelle heure je dois être transporté à bord.

Arthur Rimbaud

Arthur Rimbaud mất ngày 10 tháng 10 năm 1891 hưởng dương 37 tuổi và được an táng tại nghĩa trang thành phố Charleville - Mézières.

Arthur Rimbaud chỉ sáng tác những tác phẩm quan trọng nhất của ông trong khoảng 4 năm, một thời gian thật ngắn ngủi, nhưng ông đã là một trong những thi sĩ lớn nhất của nền văn chương Pháp.

II - NHỮNG SÁNG TÁC CỦA RIMBAUD :

2.1 - THƠ

A la musique - Accroupissements - Age d'or - Au cabaret vert - Bannières de mai - Bonne pensée du matin - Bruxelles - Ce qu'on dit au poète à propos de fleurs - Chanson de la plus haute tour - Chant de guerre parisien - Comédie de la soif - Entends comme brame... - Fêtes de la faim - Fêtes de la patience - Honte - Jeune ménage - L'éclatante victoire de Sarrebrück - L'éternité - L'étoile a pleuré... - L'homme juste - L'orgie parisienne ou Paris se repeuple - La maline - La rivière de Cassis - Larme - Le bal des pendus - Le bateau ivre - Le buffet - Le châtiment de Tartufe - Le coeur volé - Le dormeur du val - Le forgeron - Le loup criait... - Le mal - Les étrennes des orphelins - Les assis - Les chercheuses de poux - Les corbeaux - Les douaniers - Les effarés - Les mains de Jeanne-Marie - Les pauvres à l'église - Les poètes de sept ans - Les premières communions - Les réparties de Nina - Les soeurs de charité - Mémoire - Ma bohème - Mes petites amoureuses - Michel et Christine - Morts de Quatre-vingt-douze - O saisons, ô châteaux... - Ophélie - Oraison du soir - Première soirée - Qu'est-ce pour nous... - Rêvé pour l'hiver - Rêve - Rages des Césars - Roman - Sensation - Soleil et chair - Tête de faune - Vénus Anadyomède - Valse - Voyelles

2.2 - VĂN XUÔI :

Les déserts de l'amour Proses évangéliques Les Illuminations Une saison en enfer Album zutique Les stupras

2.3 - THƯ TÍN

Théodore de Banville, I Georges Izambard, I Georges Izambard, II Georges Izambard, III Paul Demeny, I Paul Demeny, II Théodore de Banville, II Paul Demeny, III Ernest Delahaye, I Ernest Delahaye, II Ernest Delahaye, III


TỪ VŨ

Pháp, đêm 26-2-2005




TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN TRUYỆN NGẮN ÂM NHẠC