Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


VIỆT SỬ TẠP LUẬN










GIAO CHÂU - TỔNG QUẢN PHỦ


1.Trong bài Khảo sát dòng họ Lý từ khởi nguồn đến Lý Công Uẩn của tác giả Nguyễn Việt có viết: “Hơn nữa, Lý thị (Lý thị tác kính) không chỉ đúc gương mà còn làm gốm, đúc các đồ đồng thông dụng khác. Trên một đồ đựng bằng đồng khai quật tại Quảng Đông còn nguyên dòng minh văn: “Nguyên Sơ ngũ niên thất nguyệt trung Tây Vu Lý Văn Sơn trị xạ trước (chú) hữu”. Tạm dịch: Vào trung tuần tháng bảy năm thứ năm đời Nguyên Sơ (năm 143 sau Công nguyên) Lý Văn Sơn người Tây Vu điều hành việc đúc đồng. Huyện Tây Vu khi này đã là huyện nhỏ do Mã Viện tách ra từ huyện Tây Vu cũ thành ba huyện: Tây Vu, Phong Châu và Vọng Hải. Huyện Tây Vu đời Nguyên Sơ bao gồm cả vùng đất Bắc Ninh, Bắc Giang trọng tâm là các vùng Quế Võ, Phả Lại, Thiên Thai (…). Trên một chiếc vò sành đời Hán được Clemant Huet sưu tầm tại Thanh Hóa trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, hiện trưng bày tại gian Việt Nam của Bảo tàng Hoàng gia Bỉ về Nghệ thuật và Lịch sử (Brussel) có khắc dòng chữ: “Kiến hòa tam niên nhuận nguyệt trấp nhật Lý thị tác”. Tạm dịch: Họ Lý sản xuất ngày hai mươi tháng nhuận năm thứ ba đời Kiến Hòa (năm 149 sau Công nguyên)”.

Trong bài Họ Lý trong mộ gạch đầu công nguyên ở Yên Hưng (Quảng Ninh) viết: “Tháng 11 vừa qua (2013), Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á phối hợp với các cơ quan Văn hóa, Bảo tàng huyện Yên Hưng tiến hành làm vệ sinh, bảo tồn một hầm mộ gạch lớn có tên gọi dân gian là “Hố Của” tại Thôn Năm, xã Song Khoai, huyện Yên hưng, tỉnh Quảng Ninh. Hầm mộ này có niên đại thế kỷ thứ 2 sau công nguyên, tức là cách chúng ta ngày nay hơn 1800 năm. Qua chỉnh lý những đồ sành sứ bị vỡ vứt lại từ những lần khai đào cổ vật trước đó, nhóm nghiên cứu có một phát hiện đặc biệt có ý nghĩa trong việc xác định chủ nhân ngôi mộ. Đó là một chiếc đĩa vỡ có khắc chìm dưới men mỏng hai chữ “Lý thị” – Họ Lý. Điều này cho phép giả định hoặc chính chủ nhân ngôi mộ là một quý tộc họ Lý hoặc dòng họ Lý đã cúng viếng người chết chiếc đĩa này. Dù thế nào thì chủ nhân ngôi mộ cũng là một nhân vật quan trọng đương thời gắn bó mật thiết với dòng họ Lý”.

Qua những sử liệu của người Hán, chúng ta biết rằng có rất nhiều người họ Lý sinh sống và làm quan từ rất sớm ở Giao Châu. Do vậy có thể khẳng định họ Lý là một dòng họ có thế lực ở phương nam, ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình châu Giao. Tôi giả thuyết rằng người Lí được các sách sử phương bắc chép lại chính là để chỉ nhóm người họ Lý.

Nam Tề thư chép: “Giao Châu xa cách ở biển đảo, liền nối với nước ngoài, cho nên dựa vào chỗ hiểm trở nhiều lần không thần phục. Đầu năm Thái Thủy(năm 468) thời Tống, Thứ sử Trương Mục chết, người quận Giao Chỉ là Lí Trường Nhân giết bộ khúc của Mục đến từ phương bắc đến, chiếm Giao Châu làm phản. Được vài năm thì bệnh chết. Em họ là Thúc Hiến nối nghiệp chủ việc, hiệu lệnh chưa ban ra, sai sứ giả đến xin làm Thứ sử. Nhà Tống lấy Nam Hải Thái thú Thẩm Hoán làm Giao Châu Thứ sử, lấy Thúc Hiến làm Ninh Viễn Tư mã, Vũ Bình, Tân Xương Thái thú của Hoán. Thúc Hiến nhận lệnh của triều đình, lòng người phục theo, bèn phát binh giữ chỗ hiểm yếu không đón Hoán vào, Hoán ở lại quận Uất Lâm rồi mắc bệnh chết. Năm Kiến Nguyên đầu tiên (năm 479) thời Thế Tổ, vẫn lấy Thúc Hiến làm Giao Châu Thứ sử, đến vỗ về ông ta. Thúc Hiến nhận lệnh, rồi lại chia cắt làm nước ngoài, cống nạp thiếu ít. Thế Tổ muốn đánh Thúc Hiến, năm Vĩnh Minh thứ ba (năm 485), lấy Tư nông Lưu Khải làm Giao Châu Thứ sử, phát binh của các quận Nam Khang, Lư Lăng, Thủy Hưng đánh Giao Châu. Thúc Hiến nghe tin, sai sứ giả đến xin tha cho vài năm, nạp 12 cái mũ trụ bạc ròng cùng lông chim trĩ, Thế Tổ không cho. Thúc Hiến sợ bị Khải đánh úp, ngầm đi đường từ Tương Xuyên vào chầu. 

Năm thứ sáu (năm 488), lấy Thủy Hưng Thái thú Phòng Pháp Thặng nối chức Khải. Pháp Thặng đến giữ, mắc bệnh không coi việc, chỉ ưa đọc sách. Trưởng sử Phục Đăng Chi nhân đó nắm lấy quyền, thay đổi các tướng, quan lại, không để Pháp Thặng biết. Lục sự Phòng Tú Văn báo cho Pháp Thặng. Pháp Thặng giận lắm, bắt trói Đăng Chi vào ngục. Hơn 10 ngày, Đăng Chi đem của hối lộ cho chồng của em Pháp Thặng là Thôi Cảnh Hiến mới được ra, đem bộ khúc đánh úp lấy châu bắt được Pháp Thặng, bảo Pháp Thặng nói: "Sứ quân đã có bệnh, không nên khổ sở". Bắt giam ở nhà riêng. Pháp Thặng không có việc gì làm, lại đến Đăng Chi xin đọc sách, Đăng Chi nói: "Sứ quân ở yên một chỗ còn sợ mắc bệnh, há lại xem sách". Rồi không cho. Lại tấu lên nói Pháp Thặng mắc bệnh tim, không thể làm việc, Thế Tổ vẫn lấy Đăng Chi làm Giao Châu Thứ sử. Pháp Thặng trở về đến núi Ngũ Lĩnh thì chết. Pháp Thặng, người huyện Thanh Hà. Giữa năm Thăng Minh(năm 478) làm Kiêu kị Trung binh của Thái Tổ, làm đến Tả Trung lang tướng. Tính ngay thẳng giản dị, người cao 8 thước 3 tấc, đi ra cao hơn người khác, thường tự mình cúi xuống. Thanh Châu Thứ sử Minh Khánh Phù cũng cao sánh với Pháp Thặng, triều đình chỉ có hai người này”.

Như vậy là năm 468 nhân việc Thứ sử Trương Mục chết, người quận Giao Chỉ là Lý Trường Nhân giết bộ khúc của Mục đến từ phương bắc, chiếm cứ Giao Châu, tuy nhiên được vài năm thì mất, em họ là Lý Thúc Hiền nối nghiệp, sai sứ đi phương bắc để xin làm Thứ sử. Phương bắc không cho, lấy Nam Hải Thái thú Thẩm Hoan làm Giao Châu Thứ sử, Thúc Hiền chống lệnh. Nhà Nam Tề thế nhà Lưu Tống cho Hiền làm Thứ sứ, vỗ về Giao Châu. Phương bắc sau thời kỳ tam quốc, tiếp tục bị chia cắt, các cuộc chiến tranh diễn ra liên miên giữa các thế lực, các triều đại dựng lên nhưng chỉ kiểm soát được một phần của lãnh thổ Tây Hán thời trước. Đây chính là thời điểm mà phương nam thoát ra khỏi phương bắc để trở thành vùng lãnh thổ độc lập.

Có một câu hỏi xung quanh cái chết của vị Thứ sử Trương Mục là có liên quan gì tới thổ nhân Giao Chỉ Lý Trường Nhân hay không? Mục thực chết vì bệnh hay vì bị ám hại bằng độc? Sau cái chết của vị Thứ sử này, bộ khúc của Mục đến từ phương bắc cũng bị giết. Rõ ràng là Trường Nhân đã chuẩn bị kỹ càng cho tình huống này và chắc chắn rằng, trong chính quyền đô hộ tại địa phương, Trường Nhân cũng có một vị thế nhất định. Việc Trường Nhân và Thúc Hiền chiếm châu làm phản cho thấy ý đồ thoát phương bắc, ý đồ này trở nên rõ ràng hơn khi Thúc Hiền chia cắt với lãnh thổ, bất tuân chiếu lệnh, cống nạp thiếu, ít. Tuy nhiên, tại thời điểm của anh em họ Lý chiếm cứ châu Giao, ý tưởng về một quốc gia độc lập vẫn còn là một điều mới mẻ, nên việc sai sứ sang bắc triều xin làm Thứ sử có thể phản ánh nếp cũ trong nhận thức hoặc có thể là sự khôn ngoan trong ngoại giao. Nhưng dù là gì thì ý tưởng về một vùng lãnh thổ ở phương nam độc lập đã xuất hiện, nhận biết được điều này, phương bắc đã tiến hành một cuộc hành quân do Tư nông Lưu Khải làm chủ tướng với mục đích đập tan ý tưởng ấy của người Giao Châu năm 485. Sau khi không được nhà Nam Tề đồng ý cho quy thuận lại, Thúc Hiền đã đích thân vào triều, từ đây thông tin về Thúc Hiền cũng không còn được ghi chép. Chỉ biết rằng Lưu Khải vào trấn được khoảng 3 năm thì đến năm 488 Phòng Pháp Thặng nối chức Khải làm Thứ sử Giao Châu.

Giao Châu dưới thời của Trường Nhân và Thúc Hiền độc lập khoảng 20 năm, khoảng thời gian này, đủ để Giao Châu có lực khoẻ. Trước và sau khi Khải vào trấn đã không xảy ra cuộc chiến nào, vậy thì những tổn thất của châu Giao là không có. Trước khi Thúc Hiền vào triều hẳn là đã sắp xếp nhân sự cũng như chuẩn bị mọi trường hợp khi xảy ra biến. Thế nên bộ tướng của Thúc Hiền và họ Lý (người Lý) ở châu Giao vẫn còn rất mạnh. Pháp Thặng tuy làm Thứ sử nhưng toàn bộ quyền bính ở châu Giao lại nằm trong tay của Trưởng sử Phục Đăng Chi. Tôi đồng ý với học giả K W Taylor rằng vị Trưởng sử này là Giao Châu thổ nhân, Việt Nam khai quốc viết: “Sử sách không nói rõ Đặng Chi là một thủ lãnh sinh quán địa phương hay là một người miền Bắc di dân xuống. Nhưng dựa trên những chứng cứ khác, có lẽ ông là người địa phương vì ông giữ chức Trưởng Sử trước. Giống như Cố Thọ, ngày xưa ở thế kỷ thứ 4, muốn nắm quyền Giao Châu, hành động của ông đầu tiên là giết chết viên Trưởng Sử Hồ Triệu. Trong hành chánh Trung Quốc, ở cấp địa phương, Trưởng Sử chỉ dưới Thứ Sử về quyền hành, và trên thực tế điều hành tất cả mọi công việc hàng ngày. Ở Giao Châu, nơi mà quyền hành của triều đình đặt vào một xã hội phi Trung Quốc, Trưởng Sử rõ ràng là cấp lãnh đạo có tăm tiếng đại diện cho các quyền lợi địa phương để thi hành chính sách triều đình. Đặng Chi có thể điều động những người thuộc phe mình vào các chức vị cao cấp ngay trước mũi một ông Thứ Sử lơ là như Pháp Thừa. Và khi ông Thứ Sử có phản ứng thì Trưởng Sử lại có cách mua chuộc, hối lộ, để ra khỏi khám đường và mộ quân. Nếu ông là một người Bắc được bổ nhiệm đến, khó mà ông có thể làm được những việc ấy”.

Sau khi ra ngục, Chi tụ tập quân sĩ, lên kế hoạch đánh úp, Thặng bị bắt giam, Chi chủ quản việc trong châu, tấu báo với triều đình tình hình, xin lĩnh giữ chức Thứ sử, đến năm 490 thì nhận chiếu lệnh. Pháp Thặng được gọi về, nhưng chết dọc đường do bệnh (Thặng vốn là người ốm yếu, ham mê đọc sách) tuy nhiên nếu Thặng về triều đình, tâu báo sự tình thì kế hoạch của Chi sẽ bị lộ, do vậy trong trường hợp này, có cơ sở để tin rằng Chi có liên quan tới cái chết của Thặng.

Nam tề thư chép: “Năm Long Xương (năm 494) (…) tháng 1 (…) Thân Hi Tổ làm Giao Châu Thứ sử (…). Năm Diêm Hưng (năm 494) (…) tháng 8 (…) quan quân ti mã Tang Linh Trí làm Giao Châu Thứ sử (…) tháng 9 tân tị, lấy tiền Thái thú Cửu Chân là Tống Từ Minh làm Thứ sử Giao Châu”.

Việt Nam khai quốc chép: “Năm 494, Trung Quốc lại rơi vào cảnh nội chiến và ba vị vua liên tiếp đổi ngôi chỉ trong một thời gian một năm. Cùng với ba vị vua là việc ba lần bổ nhiệm Thứ Sử Giao Châu được ghi lại năm ấy, chỉ là trên giấy tờ để tưởng thưởng cho công lao của những người đã tranh đấu cho ngai vàng, nhưng chả có vị nào đến nhiệm sở cả. Có một lần dưới triều vua Tề Minh Đế (494-498), Lý Khai vốn thuộc một gia đình địa phương, được lên thay thế Đặng Chi làm Thứ Sử”.

Lương thư chép: “Thiên Giản năm thứ 4 (năm 505) (…) tháng 2 (…) Thứ sử Giao Châu Lý Khải làm phản chiếm cứ châu, Trưởng sử Lý Tắc đánh dẹp. Xá tội cho châu Giao (...). Thiên Giản năm thứ 15 (năm 516) (…) tháng 11 (…) Thứ sử Giao Châu Lý Tắc chém Nguyễn Tông Hiếu làm phản, đưa đầu về kinh. Xá tội cho châu Giao”

Tư trị thông giám chép: “Thiên Giản năm thứ 4 (năm 505) (…) tháng 2 (…) Thứ sử Giao Châu Lý Khải làm phản chiếm cứ châu, Trưởng sử Lý Tắc đánh dẹp (…)Thiên Giản năm thứ 15 (năm 516) (…) tháng 11 (…) Thứ sử Giao Châu Lý Tắc chém Nguyễn Tông Hiếu làm phản, đưa đầu về Kiến Khang”.

Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Năm Ất Dậu (505). (Lương, Vũ đế, năm Thiên Giám thứ 4). Tháng 2, mùa xuân. Thứ sử Giao Châu nhà Tề là Lý Khải chiếm giữ Giao Châu, chống lại nhà Lương, bị trưởng sử Lý Tắc giết chết.

Lý Khải thay Đăng Chi làm thứ sử. Khải thấy nhà Lương mới được nhà Tề truyền ngôi vua cho, bèn giữ Giao Châu, chống lại nhà Lương. Đến đây, Lý Tắc đem quân giết Lý Khải. Nhà Lương dùng Lý Tắc làm thứ sử Giao Châu.

Lời cẩn án - Lý Khải, Sử cũ chép lầm là Lý Nguyên Khải.

Năm Bính Thân (516). (Lương, năm Thiên Giám thứ 15). Tháng 11, mùa đông. Thứ sử Giao Châu nhà Lương là Lý Tắc đánh dư đảng của Lý Khải là bọn Nguyễn Tôn Hiếu, chém được Tôn Hiếu, dẹp yên được đất Giao Châu. Nhà Lương tha hết tội cho tất cả người theo đảng làm loạn ở Giao Châu.

Lời chữa - Tôn Hiếu: Sử cũ chép lầm là Tôn Lão.

Năm Quý Mão (523). (Lương, năm Phổ Thông thứ 4). Nhà Lương chia đất Giao Châu, đặt ra Ái Châu.

Theo Sử ký của Ngô [Thì] Sĩ, từ đời Hán trở về sau, cho đơn vị châu kiêm quản các quận. Suốt đời Lục triều1 vẫn theo như thế, hễ gọi là Giao Châu tức là lỵ sở của thứ sử, thống lĩnh cả Thái thú bảy quận; các quận thú không được gọi là châu.

Lời chữa - Ái Châu: Tức là đất quận Cửu Chân”.

Chúng ta không biết chính xác thì Lý Khải làm Thứ sử châu Giao khi nào, nhưng chắc chắn là ông có làm Thứ sử vì cả Lương thư và Tư trị thông giám đều ghi nhận. Năm 502 nhà Lương lên thay nhà Nam Tề, theo tôi việc này đã tác động trực tiếp tới sự kiện Lý Khải chiếm châu làm phản. Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép rằng: Khải thay Đăng Chi, K W Taylor cũng đồng ý với điều này! Và vì Khải thay Chi nên việc Khải làm phản được cho là có nguyên nhân từ việc nhà Lương chưa có uy đức gì ? Thế nhưng chúng ta có thể nghĩ rằng Lý Khải muốn chiếm châu là vì ý muốn tự chủ. Như Taylor viết trong Việt Nam khai quốc Lý Khải vốn là người địa phương, tôi cũng đồng ý với giả thuyết này, vì nếu là người phương bắc được cử sang làm Thứ sử Giao Châu, thì chắc chắn là Hán sử sẽ chép lại ngày tháng. Nhưng sử phương bắc lại không có ghi chép gì về ông nên rất có thể họ không biết gì về Khải. Thời điểm năm 494 Đăng Chi đang làm thứ sử, tuy rằng có chiếu lệnh cho 3 vị khác làm Giao Châu Thứ sử nhưng các vị này quả thực chỉ nhận chức trên danh nghĩa và như thế thì thực quyền ở châu Chi vẫn nắm. Hơn nữa chiếu lệch của triều đình được ban bố ở phương bắc, chưa chắc đã được truyền đến phương nam, do vậy Chi không những nắm thực quyền ở châu mà còn danh chính ở vị trí Thứ sử. Chi có hướng tự chủ nhưng về bên ngoài vẫn quy thuận triều đình. Do vậy mà khi nhà Nam Tề mất, danh chính của Đăng Chi cũng không còn và đây là thời điểm cho một cuộc binh biến thay đổi châu Giao là hợp lý.

Câu hỏi là: Thế lực nào ở châu Giao có khả năng làm việc này? Tôi đang nghĩ đến gia tộc họ Lý của Trường Nhân và Thúc Hiền đã từng làm chủ Giao Châu cách đó 20 năm. Như chúng ta biết, tại thời điểm Thúc Hiền vào triều, sức mạnh có họ Lý vẫn còn y nguyên, thân tín của Hiền có thể đã lui về giữ đất cũ của tổ tiên, làm hào trưởng một vùng. Trong trường hợp Lý Khải là người bản địa thì vì sao phương bắc lại bãi nhiệm một Thứ sử có chính sách quy thuận triều đình bằng một người bản địa khác? Tôi cho rằng dưới triều đại nhà Nam Tề, Khải không được làm Thứ sử, nhưng đến khi Nam Tề mất, Lý Khải đã hợp binh, nhân sự kiện này, làm cuộc binh biến tại Giao Châu, phế Đăng Chi, nắm giữ châu Giao, xưng là Thứ sử, nhà Lương dựng nghiệp, ban bố khắp nơi, Khải không chịu quy thuận nên bắc triều nhìn nhận hành động ấy là chiếm châu làm phản, năm 505 Khải bị Trưởng sử là Lý Tắc chém. Vì nhà Lương mới dựng, hai mối đe doạ cấp thiết ở phía nam là Trần Bá Chi tại Giang Châu và Lưu Quý Liên tại Ích Châu, cũng như chiến tranh xảy ra với Bắc Nguỵ vào năm 503, do vậy mà chưa thể sắp đặt được Giao Châu nên Lý Tắc làm Trưởng sử phải từ thời Phục Đăng Chi. Bản thân Phục Đăng Chi là người bản địa thì khả năng cao Lý Tắc cũng là người bản địa. Nhưng nếu Lý Tắc và Lý Khải là người bản địa lại cùng họ Lý, thì có khi nào cùng họ hàng không? Nếu vậy thì vì sao lại sát hại nhau? Lý Tắc là người có chính sách quy thuận bắc triều và ngay sau khi giết Lý Khải vị Trưởng sử này được nhận chức Thứ sử, ông nắm giữ Giao Châu một thời gian dài, tới khi Tiêu Tư sang thay, trong thời gian giữ chức Thứ sử Giao Châu, có Nguyễn Tôn Hiếu làm phản và bị vị Thứ sử này giết, Tôn Hiếu là người bản địa, do vậy mà Taylor nhìn nhận thời gian này, châu Giao diễn ra sự xung đột giữa các thế lực địa phương. Nếu như Lý Khải làm Thứ sử dưới thời Nam Tề thay cho Phục Đăng Chi, thì chức Trưởng sử của Lý Tắc có khả năng là do Khải cân nhắc, nếu vậy 2 người này phải có mối quan hệ tốt đẹp, như thế việc xung đột giữa 2 người là rất khó giải thích. Có khi nào sau những năm tháng thăng trầm, họ Lý ở châu Giao đã lớn mạnh và phân tách thành các gia tộc khác nhau, cứ những vùng lãnh thổ khác nhau. Hoặc có khi nào, việc bất tuân ra mặt nhà Lương của Lý Khải không phải là một chính sách ngoại giao khôn ngoan, có thể làm tổn hại tới sự độc lập của Giao Châu nên họ Lý đã bày ra kế sách này để lừa gạt phương bắc, thành thử họ đã gửi về kinh sư đầu giả của Lý Khải và tất nhiên với việc ấy, Lý Tắc là người sáng giá nhất (trong mắt bắc triều) để ngồi vào cái ghế Thứ sử Giao Châu.

Lương thư (Diêu Tư Liêm người đời Đường) chép: “Niên hiệu Đại Đồng thứ 7 (năm 541) (…) tháng 12, Lý Bôn ở Giao Chỉ đời đời là Hào hữu (Hào trưởng) làm quan bất đắc chí. Có Tinh Thiều, là người giỏi về từ chương, đến (kinh đô) xin tuyển làm quan, Thượng thư Lại bộ là Sái (Thái) Tốn cho rằng họ Tinh trước không có ai làm quan, cho giữ chức Quảng Dương môn lang. Thiều lấy làm nhục. Bôn cùng với Thiều trở về làng xóm, mưu nổi loạn. Gặp khi Vũ lâm hầu Tiêu Tư tàn bạo, hà khắc, mất lòng dân chúng. Lúc này, Lý Bôn đang là Giám quân ở Đức châu (châu Cửu Đức), liền liên kết với hào kiệt ở các châu cùng nhau làm phản. Tiêu Tư đưa hối lộ cho (Lý) Bôn, chạy trốn về Quảng Châu. Nhà vua bèn sai Tiêu Tư cùng Thứ sử Cao Châu là Tôn Quýnh, Thứ sử Tân châu là Lư Tử Hùng đem quân sang đánh. Tư là con của (Tiêu) Khôi (…). Niên hiệu Đại Đồng thứ 11 (năm 545) (…) Mùa hè tháng 5, Lương Vũ đế sai Thứ sử Giao Châu là Dương Phiêu đi đánh dẹp Lý Bôn, cho Trần Bá Tiên giữ chức Tư mã, lệnh cho Thứ sử Định Châu là Tiêu Bột dẫn quân hội họp tại Tây Giang. Bột biết quân lính sợ đi xa đánh trận, liền dụ dỗ (quân lính), khéo léo nói với Dương Phiêu dừng quân không tiến nữa. Phiêu tập hợp các tướng lĩnh đến hỏi kế sách. Trần Bá Tiên nói: ''Giao Chỉ nổi loạn, tội đáng trách ở các ông tôn thất, vì thế khiến cho một số châu hỗn loạn, tùy ý bắt bớ, giết chóc người nhiều năm. Thứ sử Định Châu muốn cầu an trước mắt, không nghĩ được kế lớn. Tiết hạ (chi Dương Phiêu) là người phụng mệnh đi dẹp yên kẻ có tội, phải nên bất chấp sống chết, sao có thể dừng lại không tiến được. Như thế sẽ khiến cho kẻ địch phấn khích mà làm tiêu diệt uy phong của quân ta''. Nói xong, Trần Bá Tiên dẫn đoàn quân của mình xuất phát đầu tiên. Dương Phiêu cho Trần Bá Tiên làm tiên phong. Đến Giao Châu, Lý Bôn dẫn ba vạn quân kháng cự, bị đánh thua ở Chu Diên, sau lại bị đại bại ở cửa sông Tô Lịch. Lý Bôn phải trốn đến thành Gia Ninh, các quân lính bao vây thành. Tiêu Bột là con của Tiêu Bính (…). Niên hiệu Trung Đại Đồng thứ 1 (năm 546) (...) Mùa thu, tháng 7, Nhâm Dần, Lý Bôn lại đưa 2 vạn tướng sĩ từ trong động Khuất Liêu (Lão) ra đồn trú tại hồ Điển Triệt, đóng hàng loạt các chiến thuyền, chật kín trong hồ. Quân sĩ (của Bá Tiên) sợ hãi, dồn ứ ở cửa hồ, không dám tiến. Trần Bá Tiên nói với các tướng lĩnh: ''Quân ta sang đây đã lâu ngày, tướng sĩ đều mỏi mệt, hơn nữa lại là quân cô không có cứu viện, lại đã vào sâu trong đất tâm phúc của người ta, nếu đánh một trận không thắng, khó lòng bảo toàn mạng sống. Nay ta nhân giặc (chỉ quân Lý Bôn) đã mấy lần tháo chạy, lòng người chưa được ổn định, (chúng) lại là đội quân Di, Lão ô hợp, rất dễ tiêu diệt. Chính giữa lúc này cùng nhau quyết chiến một phen để giành chiến thắng. Vô cớ dừng lại, thời cơ sẽ đi qua mất''. Các tướng đều im lặng không ai hưởng ứng. Đêm hôm đó, nước sông dâng lên đến 7 trượng, tràn vào hồ. Bá Tiên thúc giục quân lính thừa cơ tiến vào, quân lính đánh trống reo hò cùng tiến. Quân của (Lý) Bôn đại bại, lẩn vào trong động Khuất Lão”.

Lương thư chép: “Niên hiệu Đại Đồng năm thứ 7 (năm 541) mùa xuân, tháng Giêng. Năm đó, Thổ nhân Giao Châu là Lý Bôn tiến đánh Thứ sử Tiêu Tư, Tiêu Tư phải hối lộ (cho Lý Bôn) mới về được Việt châu (...). Niên hiệu Đại Đồng năm thứ 8 (năm 542) mùa xuân, tháng 3, sai Thứ sử Việt châu là Trần Hầu, Thứ sử La Châu là Ninh Cự, Thứ sử An Châu là Lý Trí, Thứ sử Ái Châu là Nguyễn Hán, cùng nhau đi chinh phạt Lý Bôn ở Giao Châu (...). Niên hiệu Đại Đồng năm thứ 9 (năm 543) mùa hạ, tháng 4, vua Lâm Ấp đánh phá Đức Châu, tiến đánh Lý Bôn. Tướng của Bôn là Phạm Tu lại đánh tan vua Lâm Ấp tại Cửu Đức, vua Lâm Ấp thua chạy (...). Niên hiệu Thái Thanh năm thứ 2 (năm 548) tháng 3, ngày Kỷ Mùi, động Khuất Lão chém được Lý Bôn, chuyển thủ cấp về Kinh sư”.

Trần thư (Diêu Tư Liêm người đời Đường) chép: “Đầu đời Đại Đồng, Tân Du hầu Tiêu Ánh làm Thái thú Ngô Hưng, rất quý trọng Cao Tổ (chỉ Trần Bá Tiên), thường nhìn Cao Tổ nói với liêu thuộc: người này đường đường làm tướng triển vọng to lớn''. Đến khi Tiêu Ánh giữ chức Thứ sử Quảng Châu, Cao Tổ là Trung trực binh Tham quân, trấn giữ theo phủ. Tiêu Ánh sai Cao Tổ chiêu tập sĩ nhân lên đến nghìn người, vẫn giao cho Cao Tổ là Giám quân của quận Tống Long... Trước đây, Vũ lâm hầu Tiêu Tư làm Thứ sử Giao Châu vì tham tàn mất lòng dân chúng. Thổ nhân là Lý Bôn liên kết hào kiệt mấy châu đồng thời làm phản. Vua sai Thứ sử Cao Châu là Tôn Quýnh, Thứ sử Tân châu là Lư Tử Hùng đem quân sang đánh. Bọn Quýnh không tiến quân ngay, đều bị trị tội ở Quảng Châu.

Mùa đông năm đó, Tiêu Ánh chết. Năm sau, nhà vua làm lễ tang đưa về kinh đô, đến núi Đại Dũ, có Chiếu cho nhà vua (Trần Bá Tiên) làm Tư mã Giao Châu kiêm lĩnh Thái thú Vũ Bình cùng Thái thú Dương Phiêu đi đánh dẹp phương nam. Nhà vua chiêu mộ nhiều người dũng cảm và khí giới tinh nhuệ. Dương Phiêu mừng nói: Có thể thắng được giặc chính là Trần tư vũ, giao cho làm Kinh lược. Nhà vua đưa quân lính xuất phát từ Phiên Ngung (Quảng Đông). Khi đó Tiêu Bột là Thứ sử Định Châu đem quân hội tụ tại Tây Giang, Bột biết quân sĩ sợ đi chiến đấu, ngấm ngầm dụ dỗ (binh lính), khéo léo nói với Dương Phiêu (dừng chân không tiến nữa). Dương Phiêu tập trung các tướng lĩnh hỏi mưu kế. Nhà vua (Trần Bá Tiên) nói: Giao Chỉ nổi loạn, tội đáng trách ở tôn thất, vì thế khiến cho một số châu hỗn loạn, tùy ý bắt bớ, giết chóc người nhiều năm. Thứ sử Định Châu muốn cầu an trước mắt, không nghĩ được kế lớn. Ông là người phụng mệnh đi dẹp yên kẻ có tội, phải nên bất chấp sống chết, sao có thể dừng lại không tiến được. Như thế sẽ khiến cho kẻ địch phấn khích mà làm tiêu diệt uy phong của quân ta. Nói xong, Trần Bá Tiên thúc giục quân lính của mình đánh trống hò reo xuất hành.

Tháng 6 năm thứ 11 (545) quan quân đến Giao Châu. Quân của Lý Bôn vài vạn người lập thành trại đóng ở cửa sông Tô Lịch để chống lại. Dương Phiêu cho Trần Bá Tiên làm tiên phong vây hãm. Lý Bôn vào địa giới Khuất Lão lập trại, cho đóng nhiều thuyền chiến, chật kín trong hồ. Quân sĩ (của Bá Tiên) sợ hãi, dồn ứ ở cửa hồ, không dám tiến. Trần Bá Tiên nói với các tướng lĩnh: ''Quân ta đã già, tướng sĩ đều mỏi mệt, giằng dai nhiều năm, e không phải kế sách hay. Hơn nữa lại là quân cô, không có cứu viện, lại vào sâu trong đất tâm phúc của người ta, nếu đánh một trận không thắng, khó lòng bảo toàn mạng sống. Nay ta nhân giặc (chỉ quân Lý Bôn) đã mấy lần tháo chạy, lòng người chưa được ổn định, (chúng) lại là đội quân Di, Lão ô hợp, rất dễ tiêu diệt. Chính giữa lúc này cùng nhau quyết chiến một phen giành chiến thắng. Vô cớ dừng lại, thời cơ sẽ đi qua mất''. Các tướng đều im lặng không ai hưởng ứng. Đêm hôm đó, nước sông dâng lên đến 7 trượng, tràn vào hồ, nước chảy xiết mạnh. Bá Tiên thúc giục quân lính thừa cơ tiến vào, quân lính đánh trống reo hò cùng tiến. Quân của (Lý) Bôn đại bại, lẩn vào trong động Khuất Lão. Chém được Lý Bôn trong hồ, truyền đưa thủ cấp về Kinh sư. Năm đó là năm Thái Thanh thứ nhất (547).

Anh trai của Lý Bôn là Thiên Bảo trốn vào đất Cửu Chân cùng với Lý Thiệu Long thu thập hơn hai vạn quân lính giết Thứ sử Đức Châu là Trần Văn Nhung, tiến quân bao vây Ái Châu. Nhà vua lại đem quân đánh dẹp, được phong làm Trấn viễn tướng quân, Đốc hộ Tây Giang, Thái thú Cao Yếu, phụ trách mọi việc quân của 7 quận”.

Trần thư chép: “Đỗ Tăng Minh tên tự là Hoằng Chiếu, người Quảng Lăng, Lâm Trạch... Khi Thổ hào Giao Châu là Lý Bôn làm phản, đuổi đánh Thứ sử Tiêu Tư, Tư chạy về Quảng Châu. Nhà vua lệnh cho Tử Hùng và Thứ sử Cao Châu Tôn Quýnh đi dẹp Bôn. Khi đó vào mùa xuân, cỏ cây đã sinh sôi, chướng khí đang thịnh, Tử Hùng xin đợi mùa thu sẽ đi dẹp Bôn, Thứ sử Quảng Châu là Tiêu Du hầu Tiêu Ánh không cho, Tiêu Tư lại thúc giục thêm, bọn Tử Hùng bất đắc dĩ phải tiến quân. Đến Hợp Phố, số chết chiếm đến 6, 7 phần 10, quân lính lại sợ ra trận nên tan vỡ tán loạn, ra lệnh cấm cũng không được, bọn Tử Hùng đành phải dẫn số quân còn lại lui về. Tiêu Tư dâng bản khải lên vua cho rằng Tử Hùng cùng Tôn Quýnh thông đồng với giặc, dừng lại không tiến, Lương Vũ đế ban sắc (bọn Tử Hùng) phải chết ở Quảng Châu”.

Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Vua họ Lý, tên húy là Bí, người Thái Bình [phủ] Long Hưng. Tổ tiên là người Bắc, cuối thời Tây Hán khổ về việc đánh dẹp, mới tránh sang ở đất phương Nam, được 7 đời thì thành người Nam. Vua có tài văn võ, trước làm quan với nhà Lương, gặp loạn, trở về Thái Bình. Bấy giờ bọn thú lệnh tàn bạo hà khắc, Lâm Ấp cướp phá ngoài biên, vua dấy binh đánh đuổi được, xưng là Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên .

Tân Dậu, năm thứ 1 [541], (Lương Đại Đồng năm thứ 7). Thứ sử Giao Châu là Vũ Lâm hầu Tiêu Tư, vì hà khắc tàn bạo, mất lòng người. Vua vốn con nhà hào trưởng, thiên tư lỗi lạc, làm quan không được vừa ý. Lại có người là Tinh Thiều giỏi từ chương từng đến [kinh đô nhà Lương] xin được chọn làm quan. Thượng thư bộ Lại nhà Lương là Sái Tôn cho rằng họ Tinh trước không có ai hiển đạt, nên chỉ bổ cho chức Quảng Dương môn lang. Thiều lấy làm nhục, trở về làng, theo vua mưu việc dấy binh. Vua bấy giờ làm chức Giám quân ở châu Cửu Đức , nhân liên kết với hào kiệt mấy châu, đều hưởng ứng. Có Triệu Túc tù trưởng ở Chu Diên phục tài đức của vua, bèn dẫn đầu đem quân theo về. Tiêu Tư biết việc, đem của đến hối lộ cho vua, rồi chạy về Quảng Châu. Vua ra chiếm giữ châu thành (tức là Long Biên).

Nhâm Tuất, năm thứ 2 [542], (Lương Đại Đồng năm thứ 8). Mùa đông, tháng 12, vua Lương sai Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng sang xâm chiếm. Quýnh lấy cớ là chướng khí mùa xuân đương bốc, xin đợi đến mùa thu. Bấy giờ Thứ sử Quảng Châu là Tân Dụ hầu Hoán không cho, Vũ Lâm hầu cũng thúc giục. Bọn Tử Hùng đi đến Hợp Phố, 10 phần chết đến 6, 7 phần, quân tan rã mà về. Tiêu Tư tâu vu [với vua Lương] rằng Quýnh và Tử Hùng dùng dằng không chịu đi, đều bị buộc phải tự tử.

Quý Hợi, năm thứ 3 [543], (Lương Đại Đồng năm thứ 9). Mùa hạ, tháng 4, vua Lâm Ấp cướp quận Nhật Nam, vua sai tướng là Phạm Tu đánh tan ở Cửu Đức.

Giáp Tý, [Thiên Đức] năm thứ 1 [544], (Lương Đại Đồng năm thứ 10). Mùa xuân, tháng giêng, vua nhân thắng giặc, tự xưng là Nam Việt Đế, lên ngôi, đặt niên hiệu, lập trăm quan, dựng quốc hiệu là

Vạn Xuân, ý mong cho xã tắc truyền đến muôn đời vậy. Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Lấy Triệu Túc làm Thái Phó, bọn Tinh Thiều, Phạm Tu đều làm tướng văn, tướng võ”.

Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Năm Giáp Tí (544). (Lý, Nam Việt đế Bôn, năm Thiên Đức thứ 1; Lương, năm Đại Đồng thứ 10). Tháng giêng, mùa xuân. Lý Bôn tự xưng là Nam Việt đế, đặt niên hiệu là Thiên Đức, tên nước là Vạn Xuân.

Lý Bôn nhân thắng quân địch, tự xưng đế, đặt niên hiệu gọi tên nước là Vạn Xuân, có ý mong xã tắc lâu dài đến muôn đời; dựng điện Vạn Xuân để làm chỗ triều hội.

Lời chữa - Vạn Xuân: Theo sách Thái Bình hoàn vũ ký của Nhạc Sử triều Tống, huyện Long Biên có đài Vạn Xuân. Đài này của Lý Bôn ở Giao Chỉ làm năm Đại Đồng triều Lương. Nay ở xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, có hồ Vạn Xuân, còn gọi là đầm Vạn Phúc. Vậy điện Vạn Xuân có lẽ ở đấy. Đặt ra trăm quan. Dùng Triệu Túc làm thái phó, Tinh Thiều làm tướng văn, Phạm Tu làm tướng võ”.

Thời Lương Vũ Đế cải cách hành chính trong nước, miền Giao - Quảng được chia tách, đặt quận huyện. Năm 541 Tiêu Tư đang làm Thứ sử Giao Châu, những người tài giỏi ở Giao Châu như Tinh Thiều, Lý Bôn không được trọng dụng, Tư lại tham lam hà khắc do đó Lý Bôn đã khởi binh, liên kết với các hảo trưởng, những người biết đến gồm có Tinh Thiều, Phạm Tu và Triệu Túc. Tư phải chạy về phương bắc (Việt Châu, Quảng Châu). Bôn chiếm giữ Giao Châu.

Có một điểm khác biệt khá lớn giữ sử bắc và sử nam. Hán sử thì không đề cập việc Lý Bôn xưng đế, lập quốc hiệu Vạn Xuân trong khi sử Việt thì lại đồng nhất trong việc ghi chép này. Thế nhưng sử Việt, những bộ ghi chép gần nhất với sự kiện cũng cách quá xa, tuy nhiên lại có một nguồn tham khảo khác, mà Hán sử không có, đó là nguồn tư liệu dân gian, thế nhưng nguồn tư liệu này rất khó để đánh giá độ xác tín. Hán sử không ghi chép, nhưng rõ ràng những sử gia phương bắc ít nhiều bị ảnh hưởng bởi tâm thế tự tôn. Do đó thật khó để xác định sự kiện xưng đế lập nước quốc hiệu của Lý Bôn. Tôi cho rằng với những chiến thắng lớn trước cả thế lực phương bắc và phương nam, việc xưng đế cũng hoàn toàn có thể. Có một câu hỏi ở đây là: Thời của Lý Thúc Hiền về cơ bản là độc lập với phương bắc và bản thân vị Thứ sử này cũng có ý đồ độc lập, vậy ông có xưng đế hay không? Như chúng ta biết, Thúc Hiền đã tự ý chia cắt lãnh thổ, cống nạp thiếu, ít. Nếu như Giao Châu được tách ra khỏi lãnh thổ phương bắc, thì có lý gì Thúc Hiền vẫn xưng là Thứ sử? Khi châu Giao trở thành lãnh thổ độc lập, không còn là một phần của lãnh thổ phương bắc, thì hẳn Thúc Hiền (người đứng đầu) phải xưng danh thế nào đó, để dẫu không ngang hàng với hoàng đế phương bắc thì cũng không thể nằm trong hệ thống tước phẩm do hoàng đế bắc triều sắp xếp được.

Lý Bôn được cho là có tổ tiên từ phương bắc, sinh sống ở Giao Chỉ từ nhiều đời, luôn là hào trưởng một vùng. Bôn được cho làm Giám quận ở Đức Châu, châu Đức là châu mới thành lập thời Lương Vũ Đế, tách ra từ Cửu Đức. Đức Châu có lẽ là vùng đất khó quản lý, dân bản địa bất tuân triều đình. Việc Bôn được làm Giám quận, lại là hào trưởng, có thể kêu gọi các hào trưởng, thì thực thế lực của Bôn rất mạnh. Lý Bôn có quan hệ gì với anh em Lý Trường Nhân hay Lý Khải, Lý Tắc không? Họ đều là thổ nhân Giao Chỉ, đều là những người có thế lực và đều mang họ Lý. Dù có hay không nhưng rõ ràng họ Lý đã mang đến sự độc lập cho Giao Châu một khoảng thời gian dài với những cái tên: Lý Trường Nhân, Lý Thúc Hiền, Phục Đăng Chi, Lý Khải, Lý Tắc, Lý Bôn, Lý Thiên Bảo và Lý Phật Tử. Dẫu có những thời điểm bị gián đoạn bởi những hoạt động quân sự của phương bắc tại châu Giao, song về cơ bản những hoạt động này không làm mất đi tính độc lập. Thời kỳ độc lập này khác hẳn với thời kỳ tự trị trước đó, ở thời kỳ tự trị, những điều động nhân sự ở phương bắc có ảnh hưởng khá lớn tới châu Giao, thế nhưng ở thời kỳ độc lập này, những cất nhắc của bắc triều không có ý nghĩa gì, châu Giao hoàn toàn tự quyết vấn đề nhân sự, việc thông qua bắc triều chỉ là mang tính hình thức và cuối cùng. Châu Giao vẫn “xin” phương bắc là bởi chính sách ngoại giao và cũng là nhận thức tư tưởng độc lập vẫn đang ở mức độ phôi thai, chưa rõ ràng, rõ rệt như thời kỳ sau này.

Tính độc lập biểu hiện rõ nét hơn khi xảy ra xung đột giữa bắc triều và phương nam, khi phương nam đề bạt, phương bắc gạt đi thì việc chiếm giữ châu, bất tuân xảy ra. Đó chính là biểu hiện của độc lập. Biểu hiện này rõ ràng hơn khi Tiêu Tư được phương bắc cử làm Thứ sử Giao Châu, việc này chính là lời tuyên bố của bắc triều về quản lý châu Giao và nó được đáp trả bằng một hành động khác (khởi binh tiến đánh chiếm giữ châu Giao) và một tuyên bố khác (lập quốc đặt niên hiệu) mà bắc triều đã cố lờ đi. Chúng ta nên nhìn nhận sự kiện Lý Bôn xuất binh đánh đuổi Thứ sử Tiêu Tư dưới góc nhìn của một cuộc chiến bảo vệ sự độc lập của vùng lãnh thổ, chứ không phải là một cuộc nổi dậy đánh đuổi một thứ sử tham lam hà khắc. Rõ ràng là có một sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức độc lập của dân tộc ở thời kỳ này.

Sau cuộc nam tiến của Trần Bá Tiên, gánh nặng được đặt lên vai của người anh họ Lý Thiên Bảo và Lý Thiệu Long. Họ Lý vẫn tiếp tục cự giữ vùng Cửu Chân và sau này là toàn bộ châu Giao.

2. Tuỳ thư chép: “(Lệnh Hồ) Hy phụng chiếu lệnh Giao châu cừ súy là Lý Phật Tử vào triều. Phật Tử muốn làm loạn, xin đến trọng đông mới lên đường. Hy ý muốn ràng buộc theo kiểu kimi nên đồng ý. Có người đến cửa khuyết tố cáo Hy nhận hối lộ của Phật Tử. Hoàng thượng nghe được nên có ý nghi ngờ. Đến khi tin Lý Phật Tử làm phản đến nơi, Hoàng thượng nổi giận, lấy (chuyện tố cáo cũ) là thật, sai sứ giả bắt giam Hy đưa về cửa khuyết. [Lược một đoạn] Đến khi Hành quân Tổng quản Lưu Phương bắt được Lý Phật Tử đưa về kinh sư, nói Hy quả thực không ăn của đút, Hoàng thượng mới ngộ ra, mời bốn người con (của Hy), cho phép được làm quan” và “Năm Nhân Thọ thứ 2 (năm 602), mùa đông, tháng 12, người Giao châu là Lí Phật Tử dấy binh phản, sai Hành quân tổng quản là Lưu Phương đánh dẹp hắn” và “Lưu Phương là người huyện Tràng An quận Kinh Triệu. Tính cương quyết, có đảm khí. Thời nhà (Hậu) Chu làm Thừa ngự thượng sĩ, rồi vì đánh trận có công làm Thượng nghi đồng. Vào thời Cao Tổ làm Thừa tướng thì Phương theo Vi Hiếu Khoan đánh phá Uất (Trì) Quýnh ở Tương châu, vì lập công bái thêm làm Khai phủ, phong tước Hà Âm Huyện Hầu, ăn lộc 8 trăm hộ. Cao Tổ lên ngôi, tiến phong tước Công. Năm Khai Hoàng thứ 3, theo Vệ Vương tên là Sảng đánh phá quân Đột Quyết ở núi Bạch Đạo, tiến chức Đại tướng quân. Sau đó trải qua làm Thứ sử 2 châu Cam-Qua, vẫn chưa nổi tiếng. Kịp đến giữa năm Nhân Thọ (năm 601 - năm 604) gặp lúc người Lí ở Giao châu là Lí Phật Tử làm loạn, giữ thành cũ Việt Vương, sai con anh hắn là (Lí) Đại Quyền giữ thành Long Biên, sai cừ soái khác của hắn là Lí Phổ Đỉnh giữ thành Ô Diên. Bấy giờ Tả bộc xạ là Dương Tố nói Phương có tài lược của tướng soái, do đó vua hạ chiếu lấy Phương làm Hành quân tổng quản đạo Giao châu, lấy Độ chi thị lang là Kính Đức Lượng làm Trưởng sử, đem 27 doanh mà đi đánh. Phương đặt pháp lệnh nghiêm túc, quân dung chỉnh tề, có kẻ phạm cất tất ồn ào chém ngay. Nhưng có lòng nhân mà yêu quân lính, có kẻ bệnh tật thì tự mình chăm sóc. Trưởng sử là Kính Đức Lượng theo quân đến Doãn châu thì bệnh nặng không đi được, ở lại châu quán. Trong lúc chia tay, Phương xót cảnh ốm nặng của hắn mà khóc lóc nức nở, cảm động cả mọi người. Người này có oai huệ đến như vậy, những kẻ bàn tán đều khen là tướng tốt. Đến núi Đô Long thì gặp hơn 2 nghìn quân giặc chặn quan quân, Phương sai Doanh chủ là bọn Tống Toản-Hà Quý-Nghiêm Nguyện đánh phá chúng. Tiến binh đến gần chỗ Phật Tử, sai người đem điều họa phúc để dụ trước, Phật Tử sợ mà hàng, đưa về kinh sư, còn những kẻ kiệt hiệt của hắn thì sợ về sau gây loạn thì đều chém chúng. Rồi trao chức Hành quân tổng quản đạo Hoan châu, lấy Thượng thư hữu thừa là Lí Cương làm Tư mã đi đánh cướp nước Lâm Ấp. Phương sai Thứ sử Khâm châu là Ninh Trường Chân-Thứ sử Hoan châu là Lí Vận-Thượng khai phủ là Tần Hùng đem quân bộ kị xuất từ huyện Việt Thường, còn Phương tự dẫn Đại tướng quân là Trương Tốn-Tư mã là Lí Cương đem quân thuyền đến huyện Tỉ Cảnh. Kịp lúc Cao Tổ băng, Dạng Đế lên ngôi, vào năm Đại Nghiệp thứ 1 (năm 605) tháng 1 quân đến cửa biển, vua Lâm Ấp là Phạn Chí sai quân giữ chỗ hiểm, Phương đánh đuổi hắn. Quân đến sông Xà Lê, giặc dựng rào ở bờ nam, Phương bày đầy cờ xí, đánh trống vàng, giặc sợ mà tan. Đã qua sông, đi được 3 chục dặm thì giặc cưỡi voi lớn bốn bề xông đến, Phương đem nỏ bắn voi, voi trúng thương, dày xéo lại trận giặc, quan quân đánh gắt, giặc chạy về rào, nhân đó đánh phá chúng, chém hơn 1 vạn đầu giặc. Do đó qua thành Khu Túc được 6 dặm, trước sau gặp giặc, hễ đánh là bắt, đi đến sông Đại Duyên, giặc dựng rào giữ chỗ hiểm, lại đánh phá chúng. Đến thẳng cột đồng Mã Viện, đi về phía nam 8 ngày thì đến kinh đô nước ấy, vua Lâm Ấp là Phạn Chí bỏ thành ra biển, bắt được tượng người vàng miếu chủ, khoắng sạch cung thất nước ấy, khắc đá ghi công rồi về. Quân lính sưng phù chết đến 4-5 phần 10, Phương bị bệnh trên đường mà chết, vua rất thương tiếc hắn”.

Như vậy là nhà Tuỳ chiếu lệnh cho cừ suý người Lí ở Giao châu là Lí Phật Tử vào triều, Phật Tử đã biết âm mưu của triều đình phương bắc nên chống lệnh, chính danh chiếm giữ châu Giao, tháng 12 năm 602 nhà Tuỳ cử Lưu Phương tiến đánh, Phật Tử đầu hàng, bị bắt đưa về phương bắc, các tướng kiệt hiệt đều giết cả. Năm 605, Phương tiến đánh diệt Lâm Ấp, khi quay về bị bệnh chết trên đường.

Tuỳ thư chép: “Cuối năm Đại Nghiệp, vua vì thấy miền Nam Hải xa lánh, quan lại phần nhiều xâm lấn dân đánh cá, trăm họ đều oán giận, nhiều lần gây loạn phản, do đó chọn quan Thái thú tốt lành để vỗ về họ. Hoàng môn thị lang là Bùi Củ tấu rằng: "Khâu Hòa làm quan trải qua 2 quận đều nổi tiếng ân huệ, rộng rãi mà chẳng lo gì." Dạng Đế nghe theo, sai Hòa làm Thái thú Giao Chỉ, đến nơi, vỗ về các hào kiệt, rất được lòng người Man-Di. Kịp lúc Dạng Đế bị (Vũ Văn) Hóa Cập giết, quan Hồng lô khanh là Ninh Trường Chân đem các đất quận Uất Lâm-Thủy An theo về Tiêu Tiển, Phùng Áng đem đất các quận Thương Ngô-Cao Lương-Nhu Nhai-Phiên Ngu theo về Lâm Sĩ Hoằng, đều sai người dụ Hòa. Bấy giờ Hòa lúc đầu chưa biết nhà Tùy mất, đều không theo. Các nước ở phía tây nước Lâm Ấp đều sai người dâng các đồ minh châu-văn tê-vàng quý cho Hòa, giàu ngang vương giả. (Tiêu) Tiển ham lợi ấy, sai (Ninh) Trường Chân đem quân người Bách Việt vượt biển đánh Hòa, Hòa sai Cao Sĩ Khiêm đem các thủ lĩnh miền Giao-Ái đánh lại, Trường Chân rút chạy, trong cõi được yên, người trong quận dựng bia khen đức. Kịp lúc gặp quân kiêu dũng trước đây từ quận Giang Đô quay về mới dò biết được chuyện nhà Tùy mất, bèn đem cả châu theo Tiển. Vào lúc Tiển bị dẹp, Hòa đem các quận miền nam theo về nhà nước (nhà Đường). Vua hạ chiếu sai Lí Đạo Dụ đến trao tước Thượng trụ quốc-Đàm Quốc công, chức Tổng quản Giao châu. Hòa sai Tư mã là Cao Sĩ Khiêm dâng biểu xin vào chầu, hạ chiếu cho phép. Cao Tổ sai con mình tên là (Lí) Sư Lợi đón Hòa. Kịp lúc gặp vua, Cao Tổ tự dâng dậy, dẫn vào chỗ nằm, nói chuyện thời bình sinh, rất vui vẻ, sai tấu bài 'Cửu bộ nhạc' để tặng Hòa, bái làm Tả võ hậu đại tướng quân. Bấy giờ Hòa đã già yếu, bèn bái làm Thứ sử Tắc châu, vì đấy là quê mình, sai tự nghỉ quan. Năm (Trinh Quan) thứ 9, thêm hiệu Đặc tiến. Năm Trinh Quan thứ 11 thì chết, bấy giờ 86 tuổi, tặng chức Tổng quản Kinh châu, thụy là Tương, ban đồ dùng Đông Viên, bồi táng ở Hiến Lăng. Có 15 con trai, phần nhiều làm quan to, chỉ có (Khâu) Hành Cung là nổi tiếng”.

Những năm Đại Nghiệp do chính sách tàn bạo của triều đình, dân chúng ở các địa phương đồng loạt khởi nghĩa, trong đó có Nam Hải. Dạng Đế sai Khâu Hoà làm thái thú Giao Chỉ, sau Giang Đô chính biến, Tuỳ Dạng Đế bị Vũ Văn Hoá Cập giết năm 618, cùng năm Lý Uyên tuyên bố thành lập triều đại nhà Đường, cùng năm Tiêu Tiển xưng đế lập triều Lương, các quan lại cũ của nhà Tuỳ ở khu vực Quảng Tây theo về với Tiêu Tiển, Phùng Áng cát cứ Lĩnh Nam theo về với Lâm Sĩ Hoằng, Khâu Hoà cát cứ Giao Chỉ. Đến năm 621 Lý Tĩnh diệt nhà Lương, năm 622 Phùng Áng ở Lĩnh Nam hàng phục, cùng năm Khâu Hoà ở Giao Chỉ hàng phục, được phong Tổng quản Giao Châu (gồm 10 châu). Khâu Hoà nắm giữ Giao châu phía bắc cự được Tiêu Tiển, phía nam buộc các nước phía tây Lâm Ấp cống, cho thấy Hoà thực tài ở châu, nhà Đường đang trong quá trình bình loạn, nên phương nam tạm để Phùng Áng và Khâu Hoà giữ, sự ràng buộc của nhà Đường đối với Lĩnh Nam rất lỏng lẻo, ngay cái cách vua Đường đối xử với Hoà cũng cho thấy chính sách mềm mỏng này của triều đình phương bắc.

Thế nhưng phương bắc luôn có binh loạn, năm 623 nhà Đường diệt Lưu Hắc Thát bình Hà Bắc, năm 624 diệt Phụ Công Thạch, Đỗ Phục Uy bình Giang Hoài, Giang Nam. Năm 626 Đông Đột Quyết (chính bắc biên giới) đem quân tiến đánh gần kinh đô Trường An, năm 628 thủ lĩnh Hạ châu là Lương Sư Đô bị giết, tình hình cát cứ địa phương chấm dứt, nhà Đường thống nhất lãnh thổ, cùng năm Lý Thọ làm đô đốc Giao châu tham ô phải tội, triều đình cử Lư Tổ Thượng thay, nhưng Thượng từ chối vì sợ lam chướng, nên bị giết.

Năm 630 Tiết Diên Đà một chư hầu của Đột Quyết (biên giới phía bắc của Đông Đột Quyết) đã liên minh với nhà Đường đánh bại Hãn quốc Đông Đột Quyết, tiểu khả hãn Đột Lợi khả hãn và đại khả hãn Hiệt Lợi khả hãn bị bắt, Tiết Diên Đà kiểm soát trên thực tế lãnh thổ của Đông Đột Quyết, trong khi nhà Đường ủng hộ khả hãn Đông Đột Quyết Sĩ Lực Bật khả hãn, đồng thời lập Tây Y châu gồm 7 thành ở phía tây bắc. Năm 632 Tiết Diên Đà đẩy lùi cuộc tấn công của Tứ Diệp Hộ khả hãn của Tây Đột Quyết, năm 634 đối thủ lớn của Tiết Diên Đà là Đột Lục khả hãn, người cai trị phần lớn lãnh thổ phía đông của Tây Đột Quyết chết, cùng năm Tùng Tán Cán Bố đăng cơ ở phía tây nam Đại Đường, đã đánh bại Thổ Dục Hồn (phía tây bắc Đại Đường) ở gần hồ Thanh Hải, liền 3 năm 634 – 635 – 636 Đại Đường tấn công và đánh bại Thổ Dục Hồn. Năm 635 Lý Uyên và Lý Đạo Hưng chết.

Tân Đường thư chép: “[Lý Đạo Hưng] Năm Trịnh Quán thứ 9 (năm 635) làm đô đốc Giao châu, phương nam chướng khí, chết ở nơi làm việc”.

Năm 640 Đại Đường tấn công và chiếm vùng lãnh thổ trước đây là chư hầu của Đột Quyết do họ Khúc cai trị là Cao Xương lập An Tây đô hộ phủ. Năm 641 Đại Đường gả Văn Thành công chúa cho vua của Thổ Phồn là Tùng Tán Cán Bố, xung đột giữa Đại Đường, Thổ Phồn và Thổ Dục Hồn diễn ra. Sau khi diệt Đông Đột Quyết, một đồng minh quan trọng của Câu Cao Ly (phía đông bắc Đại Đường) Đại Đường liên kết với Tân La tấn công Câu Cao Ly từ những năm 642 – 645. Năm 646 Tiết Diên Đà bị liên minh giữa Đại Đường với vùng lãnh thổ của người Duy Ngô Nhĩ là Hồi Hột (vốn trước đây bị Tiết Diên Đà khống chế) diệt, Y Đặc Vật Thất khả hãn Đốt Ma Chi đầu hàng, Hồi Hột chiếm lấy lãnh thổ trước đây của Hãn quốc Tiết Diên Đà. Năm 647 Đại Đường lập An Bắc đô hộ phủ, cùng năm bình định Yên Kì, năm 648 bình định Quy Từ. Năm 650 Đại Đường lập Thiền Vu đô hộ phủ [năm 682 Cốt Hốt Lộc xưng hãn trên lãnh thổ Đông Đột Quyết, gọi tên Hậu Đột Quyết, năm 744 Đại Đường và Hồi Hột diệt Hậu Đột Quyết, người Hồi Hột tự lập quốc].

Năm 654 giải cứu Tân La, năm 656 - 657 bình định Tây Đột Quyết, năm 660 liên minh Đường – Tân La diệt Bách Tế, năm 661 – 662 tấn công Câu Cao Ly, năm 663 Thổ Phồn chiếm Thổ Dục Hồn, năm 668 liên minh Đại Đường – Tân La diệt Câu Cao Ly, cùng năm Đại Đường lập An Đông đô hộ phủ, xung đột giữa Tân La và Đại Đường xảy ra [năm 673 – 674 bình Tân La, năm 677 Tân La đánh bại Đại Đường, buộc phải rời An Đông đô hộ phủ về Liêu Đông] cùng năm Thổ Phồn đánh bại Đại Đường. Năm 678 Thổ Phồn đánh bại quân Đường ở Thanh Hải. Năm 679 vua Thổ Phiên là Mang Tùng Mang Tán Khất Lê Bát Bố qua đời, Đỗ Tùng Mang Ba Kiệt Khí Nô Tất kế vị, Đại Đường thắng Tây Đột Quyết [Năm 680 Bùi Hành Kiệm bình định hẳn Tây Đột Quyết].

Cựu Đường thư chép: “Năm điều lộ thứ nhất (năm 679) (…) Tháng 8 (…) ngày tân mão, cải Giao châu thành An Nam đô hộ phủ”.

Như vậy là năm 679 nhà Đường đổi Giao Châu thành An Nam đô hộ phủ. Khảo sát sự hình thành An Tây đô hộ phủ (năm 640), An Bắc đô hộ phủ (năm 647), Thiền Vu đô hộ phủ (năm 650) và An Đông đô hộ phủ (năm 668) thì chúng ta đều nhận thấy rằng: những Đô hộ phủ này đều được lập ra sau khi nhà Đường bình định một vùng lãnh thổ nào đó, đây là một cấp hành chính đặc biệt với mục đích quản lý vùng lãnh thổ mà có sự hiện diện của tộc người không phải Hán. An Nam đô hộ phủ có điểm giống với những Đô hộ phủ khác là phần lớn cư dân sinh sống ở đây không phải là người Hán, nhưng lại có điểm khác biệt rất lớn là không hề có cuộc chiến tranh nào giữa Đại đường với dân bản địa An Nam như những đô hộ khác và điểm khác biệt này trở nên khó hiểu khi mãi tới năm 679 nhà Đường mới lập An Nam đô hộ phủ, câu hỏi là nếu như phương bắc kiểm soát hoàn toàn Giao châu thì sao không đổi lập Đô hộ phủ từ những năm 630?

Chúng ta sẽ tìm hiểu thêm một trường hợp, đó là nhân vật Phùng Áng. Như chúng ta biết Trung Nguyên và Giao châu bị chia cách bởi Lưỡng Quảng, từ cuối thời Tuỳ, Phùng Áng đã cát cứ Quảng Đông, năm 622 thì quy phục triều Đường, Cao Tổ cho quản 8 châu thuộc Lưỡng Quảng và Hải Nam ngày nay. Thế nhưng một sự kiện khá thú vị diễn ra vào khoảng những năm đầu Trịnh Quán (năm 627 – 649), Phùng Áng cử binh tới biên cảnh, Thái Tông hạ chiếu lệnh Lận Mộ thảo phạt tuy nhiên chiến tranh đã không xảy ra, năm 635 Phùng Áng đến Trường An yết kiến Thái Tông và được ban thưởng rất hậu, Phùng Áng cai trị địa phương tốt đẹp, tất cả cho thấy rằng: Lưỡng Quảng bị ràng buộc rất lỏng lẻo với triều đình phương bắc, vẫn tồn tại thế lực địa phương cai trị vùng đất này, tôi nghĩ nên dùng từ cát cứ - quy thuận cho trường hợp này, từ đây chúng ta mở rộng sự suy luận đối với Giao châu, châu Giao còn bị ngăn cách với triều đình bởi Lưỡng Quảng thì sự ràng buộc còn lỏng lẻo hơn nữa, tôi cho rằng: Châu Giao quy thuận Phùng Áng có khi còn hơn Đại Đường.

Tư trị thông giám chép: “Năm Thuỳ Củng thứ 3 (năm 687) (…) Tháng 7 (…) Lĩnh Nam Lí hộ nộp thuế theo lệ một nửa, Giao Chỉ đô hộ Lưu Diên Hựu bắt nộp hết, Lí hộ không theo, Diên Hựu giết người thủ lĩnh, đồng đảng làm loạn, công phá An Nam phủ thành, giết Diên Hựu. Quế châu ti mã Tào Huyền Tĩnh đem binh dẹp chúng”.

Tân Đường thư chép: “Năm Thùy Củng thứ 3 (năm 687) (…) Giao Chỉ nhân Lý Tự Tiên giết An Nam đô hộ Lưu Diên Hựu, chiếm Giao Châu, Quế Châu ti mã Tào Huyền Tĩnh đánh dẹp”.

Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Theo Đường thư, trước kia, đám người Lý hằng năm nộp tô có một nửa số đã quy định. Diên Hựu bắt phải nộp cả số ấy. Mọi người đều oán, mưu định cùng nhau dấy loạn. Diên Hựu giết chết người cầm đầu là Lý Tự Tiên. Dư đảng của Tự Tiên là bọn Đinh Kiến nổi lên làm phản, họp nhau lại vây phủ thành. Trong thành quân ít, không thể chống lại được, bèn đóng cửa thành, đợi quân cứu viện. Phùng Tử Du là một đại tộc ở Quảng Châu, nhân dịp đó, mong để lập công, đóng quân lại không đi cứu. Diên Hựu bị giết. Về sau, tư mã Quế Châu là Tào Huyền Tĩnh đem quân sang đánh, chém được Đinh Kiến”.

Đây là một thông tin khá quan trọng, năm 687 đô hộ An Nam là Lưu Diên Hựu bắt các hộ người Lí nộp đủ số thuế, trong khi theo như hàng năm thì các hộ người Lí chỉ phải nộp có một nửa mà thôi, các hộ người Lí đứng đầu là Lí Tự Tiên không chịu, làm loạn thì bị Diên Hựu giết, tướng của Tự Tiên là Đinh Kiến đã hợp binh tấn công phủ thành giết Hựu, triều đình phái Tào Huyền Tĩnh đi đánh dẹp. Ở đây có 2 thông tin cần khai thác: Thứ nhất là theo lệ thường thì các hộ người Lí chỉ phải nộp một nửa số thuế, đây rõ ràng là một chính sách ưu ái các hộ người Lí, một nửa số thuế này là so với gì, có phải là so với số thuế mà người Hán ở Trung Nguyên phải nộp không? Nếu vậy thì ít nhất là tới năm 687 sự quản lý của nhà Đường đối với An Nam vẫn rất khác so với quản lý các châu quận ở Trung Nguyên và nếu đúng như thế thì việc Lưu Diên Hựu bắt nộp cả không phải do sự tham lam của Hựu mà đó là sự thay đổi chính sách thuế, hay chính là sự thay đổi chính sách trong việc quản lý An Nam. Thứ hai là các hộ người Lí này có gì đặc biệt mà chỉ phải nộp có một nửa số thuế? Chúng ta xem lại một đoạn trích trong Tuỳ thư: “Kịp đến giữa năm Nhân Thọ (năm 601 - năm 604) gặp lúc người Lí ở Giao châu là Lí Phật Tử làm loạn, giữ thành cũ Việt Vương, sai con anh hắn là (Lí) Đại Quyền giữ thành Long Biên, sai cừ soái khác của hắn là Lí Phổ Đỉnh giữ thành Ô Diên”. Câu hỏi là người Lí ở Giao Châu năm 602 trong Tuỳ thư có phải là người Lí năm 687 trong Tư trị thông giám? Năm 602 người Lí ở Giao châu rất có thế lực, thủ lĩnh của họ là Lí Phật Tử đã đầu hàng, những tướng tài có mưu đồ phản loạn đều bị giết, dù vậy người Lí vẫn rất mạnh, nên tất yếu dẫn đến sự hình thành thủ lĩnh mới của người Lí, do đó 2 nhóm người Lí này khả năng cao chỉ là một, kết luận này được củng cố khi khoảng thời gian của 2 nhóm người Lí này là 85 năm tức là khoảng 2 đời. Nếu vậy thì các hộ người Lí này là những nhóm người tiếp xúc sớm với hệ thống quản lý của nhà Đường, những nhóm người tạm gọi là “tân tiến”, vậy mà họ mới chỉ phải chịu có một nửa số thuế, thì những nhóm người ở các vùng lãnh thổ miền núi, tạm gọi là “thiểu số” có lẽ vẫn đang dừng ở chế độ quản lý cống nạp. Việc các hộ người Lí có thủ lĩnh, cũng như các tướng lĩnh có thể tập hợp quân lính để đánh hạ phủ thành, giết được quan đô hộ, lại chỉ phải nộp có một nửa số thuế cho thấy mức độ quân chủ (tự trị) ở những vùng lãnh thổ này, chúng ta cũng không đủ bằng chứng để giả thuyết rằng, sự tiếp nối về việc quản lý từ Lí Phật Tử tới Lí Tự Tiên?

Như vậy rõ ràng việc nhà Đường đặt An Nam đô hộ phủ, đã chứng tỏ triều đình phương bắc muốn quản lý An Nam một cách có hệ thống và chặt chẽ, mà những bước đầu là việc thay đổi cấp độ hành chính và các chính sách về thuế.

Cuối cùng chúng ta bàn thêm về 2 chi tiết nữa, đó là: sự thiếu vắng các quan lại ở Tổng quản Giao châu trước năm 679 và lại dày đặc những cuộc nổi loạn của người An Nam sau khi Đô hộ phủ được lập? Từ năm 622 đến năm 679 sự hiện diện của các quan do triều đình phương bắc cử đến quản lý An Nam rất ít (những người được biết đến đều bị chết) triều đình phương bắc quản lý một cách êm đềm, không xảy ra bất cứ một sự kiện nào, không khỏi khiến chúng ta không đặt câu hỏi? Trong khi kể từ lúc đặt An Nam đô hộ phủ năm 679 thì liên lục các cuộc nổi loạn ở An Nam do người bản địa thực hiện như: Năm 687; năm 713 - 722; năm 791; năm 819.

Tiểu kết, trong bài này chúng ta đã tìm hiểu các ý sau:

- Khâu Hoà và Phùng Áng tuy quy thuận bắc triều nhưng vẫn cát cứ phương nam, vua Đường đối xử rất đặc biệt với 2 người này, Phùng Áng thậm chí còn đem binh đe doạ phương bắc.

- Sau khi chiếm được vùng lãnh thổ nào là nhà Đường lập Đô hộ phủ để quản lý, ở Giao Châu nhà Đường cũng lập Đô hộ phủ nhưng rất muộn và không có bất cứ cuộc chiến nào diễn ra.

- Nhà Đường thực hiện chính sách thuế đặc biệt ở Giao Châu, tại An Nam vẫn tồn tại các thế lực địa phương. Sau khi đặt Đô hộ phủ thì liên tiếp diễn ra các cuộc khởi binh của người bản địa.

Từ đó tôi cho rằng:

- Cuối thời nhà Tuỳ, xã hội loạn lạc, các cuộc khởi nghĩa nổ ra khắp nơi, tình trạng cát cứ xuất hiện. Nhà Đường hình thành và bắt đầu quá trình bình loạn, phương nam có 2 vùng lãnh thổ cát cứ là Lưỡng Quảng do Phùng Áng cai trị và Giao châu do Khâu Hoà cai trị. Cả hai vùng lãnh thổ này đều quy thuận triều đình.

- Ngay từ khi bắt đầu quá trình bình loạn phương bắc, phương tây nhà Đường rơi vào xung đột với các thế lực bên ngoài như Thổ Phồn, Đột Quyết và Câu Cao Ly (phía đông) vì thế mà đối với phương nam Đại Đường thực hiện chính sách hoà hợp. Khi phương bắc, phương tây và đông tạm ổn, nhà Đường mở rộng sự cai trị phương nam qua việc lập An Nam đô hộ phủ, đã gây tổn hại tới nền tự trị của vùng lãnh thổ này do đó mà dẫn tới các cuộc khởi nghĩa của cư dân bản địa.

... CÒN TIẾP...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển ngày 30.5.2017.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004