Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






Tham Quan Di Tích Thành Luy Lâu Cổ -

huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh








1- V ài dòng lịch sử : Từ lâu, khi được đọc nhiều tài liệu (lịch sử Việt Nam, truyện cổ tích, các bài nghiên cứu, kể cả thông tin trên mạng) tôi ao ước có được một chuyến đi thăm xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh để khảo sát thực địa một khu di tích cổ từ đầu Công nguyên ở nước ta, chỉ nghe nói mà chưa nhìn thấy. Mặc dù trước đây, tôi đã có nhiều dịp qua tỉnh Bắc Ninh nhưng hoàn toàn không có thông tin gì về một khu di tích cổ một thời nổi tiếng là một trị sở của các triều đại phương Bắc cai trị nước ta hơn 1.000 năm, kể từ đời nhà Tây Hán thuộc thế kỷ I sau Công nguyên, sau khi diệt nhà Triệu lấy đất Nam Việt cải làm Giao Chỉ Bộ có 9 quận, trong đó Giao Chỉ là đất gốc của Văn Lang. Phủ trị của Thái Thú đầu tiên thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất đóng ở Lũng Khê thuộc Thuận Thành ngày nay. Thành Luy Lâu có thể đã được nhà Hán xây dựng làm trị sở cai trị kể từ đây.

Tới sau cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40-43 sau CN) bị thất bại trước cuộc xâm lăng áp đảo của Mã Viện, toàn bộ huyện Mê Linh (thuộc Sơn Tây, phía Nam sông Hồng) được nhà Hán cho di dời về Vĩnh Yên phía Bắc sông Hồng để ngăn ngừa dân địa phương nơi dây phản kháng trở lại. Nhà Hán không sử dụng lại cố đô Cổ Loa thành (thuộc huyện Đông Anh – Hà Nội ngày nay) của nhà Triệu.

Thành Cổ Loa được vua An Dương Vương tức Thục Phán nước Âu Lạc xây dựng từ năm 255 trước Công nguyên kế thừa nước Văn Lang của vua Hùng 18 đời (2879-258 trước Công nguyên) đóng đô đầu tiên ở Phong Châu tỉnh Vĩnh Phú ngày nay. Năm 208 trước Công nguyên Triệu Đà ở quận Nam Hải tức Quảng Châu ngày nay dùng kế “thông gia” khống chế nỏ thần của vua Thục mà xâm chiếm Âu Lạc. Triệu Đà sáp nhập Âu Lạc vào quận Nam Hải cùng với Quảng Đông, Quảng Tây lập ra nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Châu ngày nay).

Luy Lâu dưới thời nhà Hán trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa sầm uất nhất thời ấy. Lúc đầu, thế kỷ thứ 1, Thái thú Giao Chỉ là Tích Quang trị dân có nhân chính. Tới thế kỷ thứ II, Sĩ Nhiếp (187-226 sau Công nguyên) được nhà Hán phong làm Thái Thú quận Giao Chỉ, tiếp tục đóng trị sở ở Luy Lâu.

Sĩ nhiếp trị dân có phép tắc và lại chăm sự dạy bảo dân cho nên lòng người cảm mộ công đức, mới gọi tôn tên là Sĩ Vương” (Việt Nam Sử lược của Trần Trọng Kim, NXB Văn hóa thông tin - 1999, trang 53).




Sơ đồ chùa Dâu và Tứ pháp dựng ở góc đường chợ Dâu


2-Về nguồn tìm Tứ Pháp : Khi tôi tới thăm chùa Pháp Lôi nằm trong vòng thành của Thành cổ Luy Lâu thì nhìn thấy khu lăng mộ của Sĩ Nhiếp tọa lạc giữa khu đất ruộng rộng gần đó nhưng không thể tới được vì trời mưa như trút nước. Thật tiếc vì không còn thời gian nhiều cho chuyến đi nhanh trong một ngày nên không đợi được. Theo kế hoạch và chương trình làm việc, tôi tới sân bay Nội Bài lúc 8 giờ sáng ngày 31/3/2017, rất may được một anh làm việc ở bộ phận Đối ngoại của Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng lái xe riêng tới đón và sẵn lòng đưa tôi đi ngay Thuận Thành (tỉnh Bắc Ninh) để thăm di tích ở Luy Lâu.

Lúc tới chùa Pháp Lôi (một trong Tứ pháp : Vân, Vũ, Lôi, Điện) gần 12 giờ trưa thì trời mưa lớn thêm. Theo dự trù, tới 20 giờ chiều tôi phải dự buổi ca nhạc “Xuân Trường Sa năm 2017” do Ban Tuyên Giáo tổ chức ở Hà Nội (mục đích chính của chuyến ra Bắc lần này) và sau đó lúc 23 giờ tôi phải có mặt ở sân bay Nội Bài để kịp chuyến bay cuối trong ngày trở về thành phố Hồ Chí Minh. Rồi sau đó nữa, lúc 3 giờ 30 sáng ngày 1/4/2017 (đã hẹn xe đón) tôi phải đi về miền Tây để kịp dự lễ tảo mộ cha mẹ buổi sáng ở huyện Kế Sách (Sóc Trăng) với gia đình nhân Thanh Minh Đinh Dậu. Do đó, tôi không thể chờ hết mưa để thăm lăng mộ Sĩ Nhiếp mặc dù đứng bên hiên chùa Pháp Lôi đã nhìn thấy khu vườn cây rậm rạp của lăng mộ này. Do anh lái xe – chủ xe con thân thương của tôi chưa từng tới Thuận Thành nên mất nhiều thời giờ, vừa đi vừa hỏi đường, hơn nữa suốt cả chặng đường từ sân bay Nội Bài ngoại thành Hà Nội tới Thuận Thành (tỉnh Bắc Ninh) hôm ấy trời bỗng trở lạnh và mưa tầm tã rất khó chạy xe.

Tới 11 giờ trưa 31/3/2017, từ sân bay quốc tế Nội Bài – Hà Nội chúng tôi mới tới địa phận Thuận Thành (còn gọi Hồ). Khi đã vào trung tâm Thuận Thành, chúng tôi lại loay quay tìm ngôi chùa Dâu. Khi đang ở giữa chợ Dâu mà vẫn chạy tới chạy lui tìm chùa Dâu. Tới khi nhìn thấy tấm bảng sơ đồ chùa Dâu và Tứ Pháp thì mới định ra vị trí và địa điểm từng nơi. Chợ Dâu nằm ngay ngã tư sông Dâu với tỉnh lộ 282 từ Hà Nội tới. Tỉnh lộ ở đọn này trở thành đường phố, hai bên phố xá, hàng quán, công sở và nhà lầu chen chúc khiến cho tầm nhìn rất hạn chế đối với người lạ mới tới đây khi ngồi trên xe đi qua đường phố. Hơn nữa các di tích đều nằm khuất ẩn sâu sau đường phố, lối đi đường dẫn tới đều bị che khó nhận ra do bị lấn chiếm. Tới khi chợt nhìn thấy tấm bảng chỉ đường vào chùa Dâu thì mới giựt mình mừng rỡ.

Hơn nữa khi tới nơi, vào trong khuôn viên chùa Dâu thì mới biết nơi đây thờ cà hai Pháp (được dân chúng tôn vinh như là Phật) “nhất, nhì” là Pháp Vân, Pháp Vũ. Hơn nữa chùa này là chùa Dâu hay Cổ Châu, chùa Thiền Định, chùa Trăm Gian, có tháp Hòa Phong 9 tầng khi xưa mà nay chỉ còn 3 tầng nằm ngay sân chùa rộng sau cổng chính có bảng tên chùa Diên Ứng. Theo các thư tịch cổ, chùa Dâu được khởi dựng từ thời Bắc thuộc Hán vào đầu công nguyên có thể đề thờ một trong Tứ Pháp. Nơi đây được gọi là Chùa Dâu (gọi theo địa danh là khu vực trồng nhiều dâu – có thêm sông Dâu, chợ Dâu) có sẵn nên trở thành cơ sở Phật giáo ngay khi truyền tới nước ta (Luy Lâu làm đầu mối) được chọn làm nơi đào tạo nhiều tăng tài, tiêu biểu như các vị Thiền sư Mâu Tử, Khương Tăng Hội, Chí Cương Lương Tiếp v.v… và trải qua gần hai nghìn năm, chùa có nhiều cao tăng nổi tiếng đến trụ trì như Thiền sư Ma ha Kỳ Vục, Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Tĩnh Ngộ…Chùa Dâu có kiến trúc độc đáo, chính vì thế mà từ xưa chùa Dâu là chốn tùng lâm thu hút được hàng triệu tín đồ Phật tử trong nước và khách du lịch nước ngoài tới chiêm bái, tham quan.

Như vậy, “Dâu” là tên gọi dân giả của làng Khương Tự tổng Khương Từ (còn gọi tổng Dâu, sông Dâu, chợ Dâu..). Thời thuộc Hán có tên Luy Lâu (có nơi viết Liên Lâu hoặc Doanh Lâu). Thời xưa cổ ấy, thời thuộc Hán, Giao Chỉ và nhà Hán có ba trung tâm Phật giáo nổi tiếng là Bành Thành, Lạc Dương ở Trung Quốc và Luy Lâu ở Giao Chỉ - nước ta lúc ấy. Quan sát thực địa, tôi nhận ra vị trí chùa Dâu nằm gần sông có tên Dâu và sát chợ trung tâm chợ Dâu. Còn vị trí thành Luy Lâu cổ nay chỉ còn là di tích được khoanh hình vuông dài trên sơ đồ nằm bên bờ sông Dâu đối xứng với chùa Dâu là chợ Dâu. Sông Dâu ngày nay còn lại nhỏ hẹp chạy dọc theo tỉnh lộ 283 nay là QL 36 đi lên thành phố Bắc Ninh tới sông Cầu (còn xuống phía Nam là đi Hưng Yên, sông Hồng) cắt với tỉnh lộ 282 đi Hà Nội và sông Dâu nơi có chợ Dâu. Đây là khu trung tâm thị trấn. Sông này nối với sông Đuống và sông Hồng nên chợ Dâu xưa là cảng lớn mang tầm cỡ quốc tế, nơi giao thương giữa phía Bắc là nhà Hán (nay Trung Quốc) và phía Nam là biển Đông (đi qua các vương quốc Champa, Phù Nam, Chân Lạp hay Nam Dương (Indonesia, Malaysia…và tới phía Tây là Ấn Độ). Như vậy, Luy Lâu có cảng Dâu là trung tâm thương mại lớn. Thời đó, nhiều thương thuyền của nhiều thương nhân người Hoa, người Ấn, các lái buôn vùng Trung Á (nay là Trung Đông) rồi La Mã – châu Âu đã đến Luy Lâu buôn bán. Có thể liên tưởng tới phố cảng Óc Eo của Phù Nam nay là Thoại sơn (núi Sập) An Giang – trung tâm thương mại của cảng phía Nam từ thế kỷ II tới thế kỷ VII. Sách sử Việt Nam và các nước Đông Nam châu Á đều ghi nhận, vào thời đó (thế kỷ II sau Công nguyên) các thương nhân Ấn Độ khi mang hàng đi trao đổi với các nước thường mang theo một số vị sư để làm lễ cầu nguyện cho trời yên biển lặng. Khi các thương nhân cập bến, lên bờ bán hàng, các vị sư cũng lên bờ tìm hiểu tín ngưỡng, phong tục tập quán của cư dân địa phương vùng Luy Lâu hay xa hơn. Các thương nhân lưu lại buôn bán, trao đổi hàng hóa dài ngày thì các nhà sư (giáo sĩ) cũng ở lại theo. Có thể gợi nhớ tượng Bà Chúa Xứ (gốc là tượng Siva) được thương nhân – giáo sĩ đặt trên núi Sam để làm chỗ tu niệm. Chẳng những thế mà còn dựng am làm nơi tu luyện và truyền đạo. Tương tợ với bộ Linga – Yoni trên núi Sam –Châu Đốc, trong gốc cây cổ thụ (dung thụ) nơi phát tích Tứ Pháp có khối đá hình Linga mà người dân gọi là Pháp Quang (sẽ nói thêm ở phần dưới bài, do sư Khâu Đà La đem tới hay tạo ra) được phát hiện và được đặt thờ bên cạnh tượng Pháp Vân (trong chùa Dâu) từ đó tới nay.

3-Tín ngưỡng thờ Mẫu : Phía Phật giáo thì cho rằng các nhà sư Phật giáo đem đạo của Phật Thích ca vào Luy Lâu trước tiên, trước cả các nhà sự Phật giáo người Hán tới cùng với đạo Khổng, đạo Lão thời Tích Quang và Sĩ Nhiếp. Và chùa Dâu là nơi thờ tự thuận lợi cho các nhà sự Ấn Độ tá túc, truyền đạo.

Sự sầm uất và náo nhiệt của khu vực Luy Lâu làm cho các nhà sư, truyền đạo thời ấy không thể tĩnh tâm để hoạt động, nhất là tu tâm dưỡng tính. Có một số nhà sư tìm một nơi khác yên tĩnh có rừng có núi như ở Mả Mang để tu tập và tịnh dưỡng. Đó là khu vực núi Phượng Hoàng nằm phía Bắc sông Đuống thuộc xã Mãn Xá huyện Tiên Du. Nơi đây hiện có chùa Phật Tích (có di tích Thạch thất – nhà đá – trên ngọn núi gần TL 291 mà tôi đã đi qua để tới Thuận Thành (Hồ) và Luy Lâu vào buổi sáng hôm đó. Chùa Phật Tích có tháp cao nhiều tầng (ở xa còn trông thấy) khi xưa là nơi nhà sư Khâu Đà La tới đây lập am tu luyện và xảy ra câu chuyện liên quan Tứ Pháp (mà hôm đó tôi tới thực địa để tìm hiểu của chuyến tham quan này cũng như đã viết trong Việt Văn Mới tháng 12/2015 nhan đề “Chùa Tứ Pháp ở Luy Lâu Thuận Thành, Bắc Ninh). Nay ở chùa Dâu có lưu giữ bộ ván khắc (bằng gỗ) có tên Cổ Châu Phật bản hạnh”. Bộ ván khắc này do nhà sư Tính Mộ trụ trì chùa Dâu thuê thợ khắc vào năm Cảnh Hưng nhà Lê (1753), mỗi ván hai trang khổ 15x22 cm mà cả bộ là bài thơ lục bát bằng chữ Nôm gồm 496 câu. Xin ghi lại bài thơ sự tích Tứ pháp và trích một số câu có liên quan sự tích như sau :

Từ Sơn phủ, huyện Tiên Du

Phượng Hoàng non ấy có chùa Linh Quang

Rừng xanh gọi đồi Mả Mang

Kề bên thạch thất có làng Non Tiên

Có thầy ở mãi Tây Thiên

Luyện đạo tu Thiền, hiệu Khâu Đà La

Lập am dưới cội cây đa

Trụ trì cảnh ấy nhật đà tụng kinh.

Du phương đến Sĩ Vương thành..

Tu Định hòa đôi ông bà

Sinh được con gái tên là Man Nương…

Man Nương thông ngỏ văn từ

Theo đi học đạo phụng thờ Đà La…

Thủa ấy vào tiết đầu năm

Tăng đồ nam nữ rầm rầm tụng kinh

Mang Nương tín kính lòng thành

Ở nhà một mình nằm ngữa khuê trung

Đà La thầy trở về phòng

Bước qua tâm phúc hư không chuyển đời

Uy thiêng triệu khí Bụt trời

Tự nhiên cảm động hoài thai tâm trường…

Tôi nằm thầy về bước qua

Nhâm thần chuyển động, lòng hòa thụ thai.

Chuyện kể, Mang Nương mang bầu sau một năm thì sinh con gái. Nàng đem con đến trả cho nhà sư Khâu Đà La. Sư dùng phép thuật gởi đưa con vào thân cây cổ thụ. Vài năm sau, cây tróc gốc ngã xuống sông. Dân làng kéo xuống lôi cây vào bờ nhưng không được. Sau phải nhờ có Mang Nương ra tay thì cây cổ thụ mới được đưa vào bờ. Nhà sư Khâu Đà la nghe tin liền tới bảo dân làng cưa thân cây thành bốn khúc và đẽo gọt thành bốn tượng nữ đặt tên Pháp Vân (thần Mây), Pháp Vũ (thần Mưa), Pháp Lôi (thàn Sấm) và Pháp Điện (thần Sét) lập đền thờ ở bốn nơi khác nhau nằm quanh chợ Dâu và gần thành Luy Lâu (phân chia theo bốn thôn liền kề).

Có sách chép là đêm hôm vớt cây cổ thụ lên bờ, Thái thú Sĩ Nhiếp nằm mộng thấy thần bảo đem thân cây cổ thụ tạc thành bốn pho tượng nữ thần có tên theo thứ tự lớn nhỏ như trên. Bốn tượng được thờ ở bốn nơi gần nhau như sau : Pháp Vân ở chùa Thiền Định, Diên Ứng (chùa Dâu), Pháp Vũ ở chùa Thành Đạo (chùa Đậu), Pháp Lôi ở chùa Phi Tướng (chùa Tướng), Pháp Điện thờ ở chùa Phương Quan (chùa Dàn). Khi có đạo Phật, bốn cơ sở tín ngượng dân gian thờ Nữ (Mẫu) này đều trở thành “chùa” thay vì “Đền” , “Đình”.

Hiện nay, trong chùa Dâu có thờ cả Pháp Vân và Pháp Vũ. Người giữ chùa cho biết vì chùa Đậu ở gần đó bị hư hỏng nên dân làng đưa về thờ chung với Pháp Vân. Tôi vào thăm, thấy tượng Pháp Vân được đặt ở vị trí trung tâm của chùa (chính điện). Còn tượng Pháp Vũ thờ trong khánh đặt bên phải chếch phía ngoài. Phía trong bên cạnh tượng Pháp Vân có tượng đá Pháp Quang (hình dáng linga), vật được phát hiện nằm dưới gốc cây cổ thụ mà dân làng tạc thành bốn tượng nữ nói trên. Đây là sự tích cổ có liên quan tới đạo Bà La môn hay Ấn Độ giáo xuất hiện trước Phật giáo ở Luy Lâu, đã trở thành Tín ngưỡng thờ Mẫu đầu tiên ở nước ta.

Rời chùa Dâu tôi tìm tới chùa Phi tướng (Tướng) nằm sát bên khu đất có nhiều cây cao là di tích thành Luy Lâu xưa. Nơi đây cũng gần lăng mộ Sĩ Nhiếp. Người trông coi chùa Phi tướng thờ Pháp Lôi chỉ cho thấy khu đất là di tích Thành cổ Luy Lâu. Khu đất này nằm dọc theo bờ sông Dâu, ngày nay dựng thêm tượng Phật bà Quán Thế Âm. Khi sang bên kia bờ sông Dâu (đường 38), nhìn sang bên này thì thấy tượng Phật Bà Quán Thế Âm. Đoạn cuối khu đất di tích thành Luy Lâu có đoạn sông nhỏ bao lại. Như vậy, thành Luy Lâu trước kia có hình dáng vuông dài sát hai mặt sông. Chợ Dâu ở cách đó không xa, chính là trung tâm thương mại của phố cảng từ đầu Công nguyên.

Rời chùa Pháp Lôi và khu di tích Luy Lâu thì đã quá 12 giờ trưa. Chúng tôi tới một quán ăn đặc sản ở trung tâm ngã tư chợ Dâu, trên bờ sông Dâu mà nơi đây đã cạn hẹp như một lạch nước nhỏ. Sau khi cơm nước xong xuôi, xe chúng tôi trở lại TL 283 tức đường 38 để tới chùa Dàn thờ Pháp Điện. Giờ nghỉ trưa nên nơi đây không ai trông coi. Cửa chùa chỉ khép hờ chớ không khóa. Tôi đẩy cửa bước vào phía trong. Do mất điện nên bên trong tối om. Tôi tới sát bên tượng Pháp Điện chụp ảnh nhưng không thấy rõ. Nói chung, bàn thờ và khánh thờ đặt tượng Pháp Điện giống như các chùa Pháp Vân, Pháp Vũ và Pháp Lôi. Nhưng chỉ có chùa Dâu việc bày biện thờ cúng mới hoành tráng, nhiều thứ trang trí, vật phẩm và bức tượng gỗ cao lớn sơn màu nâu lợt (cánh dán đậm), đầu trùm khăn phủ dài cả thân, ngồi rất phương phi, trang nghiêm. Tượng cao 1,85 mét, cao nhất trong bốn tượng nữ thần là chị em với nhau mà Pháp Vân là Chị cả.

Phía dưới tượng Pháp Vân, bên trái có tượng Kim Đồng, bên phải có tượng Ngọc Nữ. Cả hai đều cao 1,57 mét. Dưới Kim đồng – Ngọc nữ là tượng Bà chúa Đỏ và Bà chúa Trắng. Đặc biệt, tượng Phật Di Đà và Phật Thích Ca và các vị Bồ Tát được bày hai bên và thấp xuống nữa. Điều này cho thấy, chùa Dâu là nơi thờ nữ thần Pháp Vân là chính có trước, còn các vị Phật, Bồ tát đạo Phật được thờ sau, xuất hiện muộn hơn và coi như ở nhờ.

4-Tín ngưỡng thở Mẫu theo Ấn Độ giáo : Điều đặc biệt hơn nữa là bên cạnh khám thờ tượng Pháp Vân là khám thờ Đức Thạch Quang. Đó là khối đá hình trụ tròn, phần đầu khối đá được vê tròn và có khấc. Theo truyền thuyết, khối đá này là biến thể của đứa con Man Nương mà sư Khâu Đà La đã đặt trong cây dung thụ. Và khi thợ cưa thân cây ra bốn khúc thì phát hiện ra khối đá này. Do đó, khi tạc xong bốn nữ thần Pháp Vân (Mây), Pháp Vũ (Mưa), Pháp Lội (sấm) và Pháp Điện (Sét) thì khối đá này được đặt tên Thạch Quang coi như là con của Pháp Vân nên thờ nó bên cạnh. Thực ra, khối đá này chính là Linga (biểu tượng của Thần Siva) một trong ba vị thần của Ấn Độ giáo, là Brahma (Thần sinh sản), Wishnu (Thần bảo tồn), Siva (Thần vừa sinh sản vừa hùy diệt).

Một lần nữa, căn cứ vào khối đá (Linga) và vị trí đặt thờ Pháp Vân và Phật Thích ca, các vị Bồ tát trong chùa Dâu mà chúng ta có thể khẳng định rằng Ấn Độ giáo đã truyền vào Luy Lâu trước cả Phật giáo. Chính nhà sư hay giáo sĩ Khâu Đà La thuộc Ấn Độ giáo làm nên Tứ Pháp và Đức Thạch Quang ở chùa Dâu gần thành cổ Luy Lâu. Hơn nữa, sự tích Khâu Đà La và Man Nương gặp nhau sinh con chỉ có ở giáo sĩ Ấn Độ giáo chớ không là nhà sư Phật giáo. Việc dùng phép thuật của Khâu Đà la cũng thuộc về tín ngưỡng đa thần của Ấn Độ giáo chớ không phải Phật giáo. Chùa Dâu và các ngôi chùa thờ Tứ Pháp (các vị thần) được xây dựng đầu tiên ở Luy Lâu và các tu sĩ Phật giáo tới sau mượn chỗ để phát huy đạo Phật.

Nếu tìm hiểu xa hơn, sự tích Chữ Đồng tử và công chúa Tiên Dung xảy ra ở Dạ Trạch (Hưng Yên) được khẳng định là thuộc về nguồn gốc của Ấn Độ giáo đã du nhập vào Văn Lang nước ta từ thời vua Hùng thông qua sự kiện Chữ đồng tử theo giáo sĩ Ấn Độ đi học đạo một thời gian ở núi Quỳnh Viên (nay biết được thuộc Nghệ An – Khu du lịch sinh thái Quỳnh Viên hiện nay, gần khu công nghiệp Vũng Án, có Formosa) và được nhà sư tặng gậy và nón thần biến thành lâu đài…Phố Hiến ngày xưa (thời Lê Trịnh) nay thuộc Hưng Yên thời đầu Công nguyên phải là chốn phồn hoa, một thị trấn thương mại cổ không xa với Luy Lâu. Chính sông Dâu đã nối liền Luy Lâu với sông Đuống và sông Hồng tạo nên một đường thủy giao thông thuận tiện cho Luy Lâu – Bắc Ninh phát triển thời Bắc thuộc không tách rời với Phố Hiến - Hưng Yên.

Sau khi viếng thăm Pháp Điện ở chùa Dàn, chúng tôi tới Lăng (đền thờ) và mộ (mộ gió) Kinh Dương Vương bên bờ sông Đuống rộng lớn không xa với chùa Bút Tháp. Kinh Dương Vương là vị vua đầu tên của 18 đời Hùng Vương được người dân lập ra thờ ở gần Luy Lâu thuộc Hán thì quả là một công trình vĩ đại đáng lưu danh muôn thuở.

Tới 15 giờ thì kết thúc chuyến tham quan tìm về nguồn Tứ Pháp ở Luy Lâu cổ. Những điều mà tôi muốn tìm nay đã thấy. Những điều mà tôi muốn biết thì nay đã hiểu được phần nào. Tín ngưỡng thờ Mẫu mang tính cách văn hóa – triết học Ấn Độ ở nước ta đã xuất hiện từ đầu công nguyên, nếu có thể xin được phát biểu như vậy.


Ghi chép tháng 4/2017



. @ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 21.5.2017.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004