Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




ÔNG “PHỦ VĨNH TƯỜNG” RẤT NỔI TIẾNG TRONG

“THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG TRUYỀN TỤNG” LÀ AI?









Đ ó là Trần Phúc Hiển, quan Tham hiệp trấn An Quảng ( tương đương như Phó chủ tịch thứ nhất tỉnh Quảng Ninh hiện nay). Trần Phúc Hiển là con Trần Phúc Nhàn, người Đàng Trong. Trần Phúc Nhàn là tướng của Nguyễn Ánh đã tham gia vào trận đánh thắng vua Quang Toản nhà Tây Sơn (con vua Quang Trung Nguyễn Huệ) năm 1802 và tử trận tại Phú Xuân ( Huế). Nguyễn Ánh lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Gia Long, rồi không biết vào năm nào, vua Gia Long cho tìm con của Trần Phúc Nhàn là Trần Phúc Hiển phong cho làm tri phủ Tam Đới để trả ơn. Năm 1822, sau khi Trần Phúc Hiển đã chết ở Quảng Ninh hiện nay, được 3 năm, phủ Tam Đới mới được vua Minh Mạng nhà Nguyễn, đổi tên là phủ Vĩnh Tường, nay là huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc.

Cứ theo lời Tựa Lưu Hương kí của Tốn Phong, thì Lưu Hương kí là tác phẩm duy nhất của Hồ Xuân Hương. Theo nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại, xét từ dạng chữ của chữ Hán, thì Lưu là quê hương tác giả, huyện Quỳnh Lưu, Hương là tên tác giả, còn là ghi lại. Theo Tốn Phong, thì Hồ Xuân Hương nói với Tốn Phong: “Đây là toàn bộ thơ của cuộc đời tôi từ trước đến nay, nhờ ông viết cho một bài Tựa”, như Tốn Phong đã viết trong lời Tựa, trong đó toàn tập thơ của Hồ Xuân Hương, do Hồ Xuân Hương đưa tay cho Tốn Phong, tuyệt đối không có bất cứ một bài thơ nào trong số gần 200 bài thơ Nôm truyền tụng được cho là của bà, kể cả những bài truyền tụng đã rất quen thuộc với bạn đọc, làm thành “thương hiệu Bà chúa thơ Nôm”, cũng tuyệt đối không có. Bốn chữ “Bà chaú thơ Nôm” do giáo sư Lê Tâm đặt cho bà từ năm 1950 ( không phải là chữ của Xuân Diệu như ta vẫn thường biết) trong tập sách biên khảo dùng trong nhà trường. Hồ Xuân Hương chính thức trở thành tác giả, bước vào sách giáo khoa đến tận ngày hôm nay, là bắt đầu từ đây. Vẫn theo công trình nghiên cứu của Trần Thanh Mại, đã công bố, thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương là thơ “ của đám mày râu chúng ta”, do các ông đồ sáng tác và nhuận sắc, theo kiểu văn học dân gian, sáng tác và xuất bản cùng thời với Truyện Trạng QuỳnhTruyện Trạng Lợn. Và theo bài Tựa, trong số bạn bè thường trao đổi chuyện trò, ứng đối thơ văn với Hồ Xuân Hương, năm 1813, tại nhà riêng của bà ở phường Khán Xuân, gần Hồ Tây hiện nay, đã có Trần Phúc Hiển. Rồi hai người yêu nhau. Lúc đó, vợ Trần Phúc Hiển đã mất. Năm đó, Trần Phúc Hiển được vua Gia Long thăng làm Tham hiệp trấn An Quảng. Trần Phúc Hiển rời Tam Đới về trấn lị Quảng Yên, bên bờ sông Bạch Đằng để nhận việc quan. Hồ Xuân Hương đã đến thăm Trần Phúc Hiển bằng thuyền và để lại 2 bài thơ Nôm, chép trong Lưu Hương kí, cùng 5 bài thơ khác bằng chữ Hán rất trang nhã, viết về vùng biển đảo nay là vịnh Hạ Long.

Về tập thơ này, theo nhận định của nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại, thìLưu Hương kí là một tài liệu chân chính, đáng tin cậy, và trong trường hợp này, không thể có vấn đề, có kẻ nào đó muốn chơi khăm, làm ra tài liệu giả mạo để đánh lạc hướng nghiên cứu của chúng ta”

( “Lưu Hương kí” và lai lịch phát hiện nó - Trần Thanh Mại, toàn tập, tập III. Nxb Văn học, 2004.)



Đọc 2 bài thơ Hồ Xuân Hương viết về Trần Phúc Hiển, chúng ta sẽ thấy Hồ Xuân Hương yêu Trần Phúc Hiển đến mức nào, chỉ lo Trần Phúc Hiển không giữ lời hứa với mình. Qua 2 bài thơ này và tất cả các bài thơ khác trong Lưu Hương kí, thơ Hồ Xuân Hương quả thật là “ hào hoa phong nhã”, “ vui mà không buông tuồng, buồn mà không bi lụy”. “ Thơ đúng phép mà văn hoa”, “ bao giờ cũng biết dừng lại ở phạm vi lễ nghĩa” … đúng như Tốn Phong đã viết về thơ Hồ Xuân Hương, tháng 3 năm 1814. Hai bài thơ nguyên văn chữ Nôm như sau


BẠCH ĐẰNG GIANG TẠM BIỆT

Khấp khểnh đường mây bước lại dừng

Là duyên là nợ phải hay chăng

Vun hoa khéo kẻo lay cành gấm

Vục nước mà xem động bóng giăng

Lòng nọ chớ rằng mây nhạt nhạt

Lời kia nay đã núi giăng giăng

Với nhau tình nghĩa sao là trọn

Chớ có lưng vơi cỡ nước Đằng…


Các sách đều chú thích: “Nước Đằng là một quốc gia nhỏ bé bên Trung Quốc”. Theo tôi, chú thích thế là sai. Nước Đằng chỉ là nước sông Bạch Đằng mà thôi, khi lưng, khi vơi theo mức lên xuống của thuỷ triều. Hồ Xuân Hương nhắc Trần Phúc Hiển lòng dạ yêu bà chớ có như thế.

Bài thứ 2


LƯU BIỆT THỜI TẠI AN QUẢNG AN HƯNG NGỤ THỨ

( Ghi lại lúc chia tay tại An Hưng An Quảng )

Người về người ở khéo buồn sao

Tức tối mình thay biết lẽ nào

Tơ tóc lời kia còn nữa hết

Đá vàng lòng nọ xiết là bao

Nổi cơn riêng giận ngày giời ngắn

Mỏi mắt chờ xem bóng nguyệt cao

Sớm biết lẽ giời li có biệt

Thì mười năm trước bận chi nao…


Hồ Xuân Hương ở hẳn An Quảng với chồng từ năm 1815 (khi Trần Phúc Hiển cưới Hồ Xuân Hương làm vợ kế ) đến khi Trần Phúc Hiển bị bắt (tháng 5 năm 1818) chịu án tử hình (1819), vì đã nhận hối lộ 700 quan tiền ở châu Hải Ninh để giải quyết về việc ruộng đất. Hồ Xuân Hương viết đơn xin ân xá, được vua Gia Long cho giảm xuống “tự xử”: Một, được sống thêm 60 ngày. Hai, trong 60 ngày ấy, giam ở đâu cũng được, chuẩn theo ý của người làm đơn. Ba, đến ngày thứ 61 phải chết, bằng cách nào cũng được, tự xử lấy. Lí do: khi nhậm chức, các vị sẽ làm quan phải thề 3 điều: Một, tuyệt đối trung thành với nhà vua. Hai, không được ức hiếp dân. Ba, không được ăn hối lộ ( dù chỉ 1 đồng). Nếu phạm 1 trong 3 tội ấy thì chém đầu mà không phải xử. Việc Trần Phúc Hiển tự chết ở An Quảng năm 1819 cũng đã rõ, vì điều đó còn ghi trong Thực lục của nhà Nguyễn. Cũng theo Thực lục, năm 1820, Minh Mạng lên ngôi vua, tự mình rà soát lại các án tham nhũng của các quan, đến vụ Trần Phúc Hiển, vua Minh Mạng đã phê luôn vào bên cạnh như sau: “ Tham những đến như thế mà không giết thì lấy gì mà khuyến liêm”. Nhân đây xin nói thêm: Ai đã nghiên cứu quan chế phong kiến sẽ thấy việc làm quan là rất nghiêm chỉnh. Có 5 điều nhà nước phong kiến cấm: Một, không được làm quan ở tỉnh quê mình, nơi quan làm việc phải ở tỉnh khác, cách nhà khoảng 500 dặm… ( như ở thời Lê: Trần Thọ, người Hải Dương làm quan ở Tuyên Quang, Hà Giang; Trần Tiến, cháu nội Trần Thọ làm quan ở Thanh Hóa… ở thời Nguyễn: Nguyễn Công Trứ người Hà Tĩnh làm quan ở Thái Bình; Nguyễn Du, người Hà Tĩnh làm quan ở Hưng Yên, Hải Dương; Nguyễn Quang Bích, người Nam Định, nay là Thái Bình, làm quan ở Khánh Hòa, Bình Định… vân vân…). Hai, không được lấy vợ ở tỉnh mình làm quan. Ba, không được tậu ruộng mua nhà tại tỉnh mình làm quan. Bốn, không được đưa đàn bà con gái vào việc quan hoặc nơi ở của quan. ( Trong Bộ luật Gia Long có ghi: Phàm quan văn võ, nếu đưa con hát vào nơi ở hay làm việc - kể cả phục vụ văn nghệ trong bưã ăn như ta thường thấy bây giờ – sẽ bị đưa ra công đường, lột mũ áo, đánh cho 60 hèo ( gậy) rồi đuổi về quê. Và Năm, đã về hưu rồi, không được đến nơi làm quan trước để xin xỏ hay cản trở công vụ.

Trần Phúc Hiển chết năm 1819, 3 năm sau, năm 1822, phủ Tam Đới mới được vua Minh Mạng cho đổi tên thành phủ Vĩnh Tường, Vậy trước đó 3 năm đã có phủ Vĩnh Tường đâu, và bài Khóc ông Phủ Vĩnh Tường, từ 3 năm trước, chả phải là điều vô lí lắm sao. Hồ Xuân Hương mất năm 1822, sau 3 năm mãn tang chồng thì “chết theo chồng”. Chưa bàn cái việc bà vợ khóc chồng bị án tử hình mà khóc cái “ cán cân tạo hóa” của ông “ rơi đâu mất” còn cái “miệng túi càn khôn” của tôi, thì “ khép lại rồi”… rất thiếu văn hóa và rất phản cảm… ( chúng ta đều biết hai cái đóhai cái gì rồi và thử nghĩ xem, nếu chồng chết vì án tử hình ( hay vì bất cứ lí do gì), liệu có bà vợ nào nỡ khóc chồng như thế không? Và anh em con cháu nhà chồng liệu có để cho bà được yên thân mà khóc như thế không? ) chỉ nói chắc gì trước khi mất, Hồ Xuân Hương đã biết có phủ Vĩnh Tường ở đâu… mà khóc chồng. Bài thơ nguyên văn như sau:


KHÓC ÔNG PHỦ VĨNH TƯỜNG

Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ơi

Cái nợ ba sinh đã trả rồi

Chôn chặt văn chương ba thước đất

Tung hê hồ thỉ bốn phương trời

Cán cân taọ hóa rơi đâu mất

Miệng túi càn khôn khép lại rồi

Hăm bảy tháng trời đà mấy chốc

Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ơi…


Chưa kể 26 bài thơ chữ Nôm và 24 bài thơ chữ Hán khác rất sang trọng, trang nhã, chỉ đọc 3 bài thơ Nôm trên ( 2 bài trong Lưu Hương kí và 1 bài truyền tụng, ) chúng ta đã thấy, thơ của bà trong Lưu Hương kí và thơ truyền tụng được cho là của bà, khác hẳn nhau là như thế nào. Xin nói thêm, trong tập Lưu Hương kí, còn có bài thơ tình gửi người yêu cũ là “ Hầu Nghi Xuân Tiên Điền nhân” tức Đại thi hào Nguyễn Du, người được Gia Long phong chức “Cần Chánh học sĩ ” để đi sứ Trung Quốc năm 1813 và phong tước Hầu ( Du Đức hầu ) người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tác giả Truyện Kiều vĩ đại, mà theo tôi là 1 trong số ít bài hay nhất trong thơ Hồ Xuân Hương. Đây mới chính là thơ do Hồ Xuân Hương sáng tác. Nguyên văn bài thơ chữ Nôm như sau:


CẢM CỰU KIÊM TRÌNH

CẦN CHÁNH HỌC SĨ NGUYỄN HẦU

(Hầu Nghi Xuân Tiên Điền nhân)

Dặm khách muôn ngàn nỗi nhớ mong

Mượn ai tới đấy gửi cho cùng

Chữ tình chốc đã ba năm vẹn

Giấc mộng rồi ra nửa khắc không

Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập

Phấn son càng tủi phận long đong

Biết còn mảy chút sương siu mấy

Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.


Nguồn: THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG Nxb Hội Nhà văn, 2008



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 21.5.2017.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004