Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






Kinh Thi Hay Là Khi Dân Viết Sách   









A. BA QUAN ĐIỂM


Đọc kinh Thi hay bất cứ kinh nào của Nho giáo, mà đọc chạy đuổi thì sẽ không thể nào thấy đâu là những cái thâm trầm như người ta đồn đại, nên rất nhiều người đã thất vọng, trong số đó phải kể tới Hegel, đã nói lên sự thất vọng của ông trong lúc đọc kinh điển Nho giáo. Sở dĩ có như thế là vì Hegel đã không đọc được chính văn thì chớ, lại còn không theo khía cạnh của chính Kinh điển và tiêu chuẩn của người viết nó. Vì có nhiều loại tiêu chuẩn, tuỳ thuộc theo giới nào đã viết: như tư tế, trí thức quý tộc hay bàn dân. Thế mà Kinh điển viết theo quan điểm của bàn dân, còn Hegel lại đọc theo quan điểm của trí thức quý tộc làm sao nhận thấy được cái hay của nó. Giới trí thức hiện nay hay ít ra thế hệ vừa qua cũng đều đã từng đọc Nho theo lối Hegel, nên thất vọng về Nho là phải, vì họ có thấy được điều gì đâu. Để tránh vấp phải điều đó, chúng ta cần phải tìm hiểu thế nào là tiêu chuẩn của bàn dân. Chữ dân (chữ hán) người Tàu đọc là minh, mân. Xem ra chữ minh, mân này có liên hệ với chữ man (chữ hán) cũng là bàn dân, đã từng làm chủ miền Trường giang. Vì trường giang phát xuất tự núi gọi là Dân sơn (hán) (Min) trong vùng nước Ba, nên cũng có núi mang tên Ba, hoặc Ba Trủng (chữ hán) (có liên hệ nào giữa Tam và Ba chăng?) Vì thế ta có quyền nghĩ rằng có một mối liên hệ nào đó giữa mấy danh hiệu Man, Mân (Việt), Môn (Mon Khmer)… tất cả đều là những giọng khác nhau của chữ minh (dân), và tất cả các tên đó đều chỉ bàn dân đối với Vương triều. Trong cách đọc chữ dân của người Tàu là minh thì chữ minh lại gợi lên ý tối tăm. Vì chữ (chữ hán) cũng đọc là minh (u minh). Do đó có chữ “dân ngu”. Còn với Việt tộc thì chữ minh (chữ hán) lại có nghĩa là sáng láng. Do đó mà có quan niệm dân với trời là một. Thế mà trời đâu có ngu, nên dân cũng đâu có ngu, cả hai đều thông minh nên trong Kinh Thư nói “thiên thông minh tự ngã dân thông minh”. Và dân đã chứng tỏ óc thông minh của mình bằng cách sáng tác ra kinh điển, dân viết sách nhưng không phải sách tầm thường mà là kinh điển. Vương triều chỉ có giúp vào bằng việc đặt ra bộ “Nạp ngôn” để thâu thập các lời phán quyết của dân đúc kết lại vào kinh điển (1). Vì thế, có chức quan “Thái nhi, chữ hán” giữ việc thâu thập thi ca trong dân. “Thái nhi” cũng như “Nạp ngôn” đều là một thực thể nói lên phần đóng góp của dân trong việc hình thành văn hóa. (1) Theo sách Nhật giảng thì đó là ca dao và nhiều khi được phổ vào nhạc: “dân gian sở nạp chi ca dao, ngôn chi hợp vu ngũ thanh…” (Legge III.80) Đến đây, chúng ta gặp một vấn đề then chốt, mà xưa nay chưa ai đặt ra, nhưng lại có tác dụng làm đảo lộn các nền văn hóa là: ai sáng tác kinh điển? Chữ ai đây phải hiểu theo nghĩa rộng là giai cấp nào? Tư tế, trí thức quý tộc hay bàn dân. Tác giả kinh điển thuộc giới nào? Lúc ấy chúng ta sẽ nhận thấy nét đặc trưng của văn hóa phương Đông; là vì mỗi giới có những bận tâm riêng. Khi giới đó viết sách thì những mối bận tâm kia trở nên đối tượng của sách, nên chỉ cần xét đối tượng sách, thì cũng nhận ra được tác giả thuộc đối tượng nào. Nếu đối tượng là Thượng Đế với các việc tế tự, các ca vịnh ngợi khen, nguyện cầu… thì ta biết tác giả thuộc hàng tư tế, như Thánh kinh hay Veda. Khi đọc triết Tây ta thấy đối tượng của nó là những ý niệm trừu tượng cao vút mây xanh ta biết là tác giả của nó thuộc giới trí thức quý tộc. Trong xã hội cổ La-Hy, giới này, vì quen thói sống trên lưng nô lệ, không chịu lao tác nên bị cắt đứt khỏi đời sống thực tế sự giao liên với tha nhân… nên đối tượng của họ rất xa thực tế: đặt mãi tận trên lý giới (le monde des idées). Trái lại khi đọc kinh điển ta thấy sự lo lắng cho dân trổi bật: (1)

Lo cho dân giàu (phú chi)

Lo thực hiện ý dân (vì ý dân là ý trời)

Muốn điều dân muốn, ghét điều dân ghét, gọi là Hiệt củ…

Cùng đích của chính quyền là hạnh phúc của dân…

Giáo sư Creel cho điều cuối cùng này là một sự lạ lùng hiếm có trên đời. Đây là một nhận xét rất chính xác, miễn biết hạn cục vào lối thế kỷ 18, 19 về trước. Sở dĩ nó lạ lùng hiếm hoi vì xưa kia các nền văn minh khác không có kinh điển hay nói cách khác các sách nền tảng của văn hóa không do dân gian sáng tác, mà do quý tộc hay tư tế. Vì thế sứ mạng của chính quyền không còn là hạnh phúc của dân nhưng là sự hùng cường “quốc gia”, trong thực chất là của Vương triều, của uy quyền cá nhân. Nên hoặc là xây dựng một quân đội hùng mạnh để đi chinh phục, mở mang bờ cõi, hầu tăng quyền uy, không kể đến chết chóc đau thương như các chính quyền chuyên chế quen làm. Hoặc dồn hết tài sản quốc gia vào việc kiến trúc những cung điện nguy nga tráng lệ, để ướp xác chết của vua như kim tự tháp hay chùa Đế thiên, là những thí dụ cụ thể về sự bất toàn dân phụng sự cho một gia tộc hay cho những ý niệm trừu tượng xa xôi (xem Việt lý… tr. 258 và 263). Ngược lại, mục tiêu kinh điển là lo cho dân, và lúc ấy thì tiêu chuẩn là “lấy tự gần” như đã được nói đến trong kinh Dịch là:

Cận thủ chư thân chữ hán

Viễn thủ chư vật chữ hán

(Hệ từ hạ truyện II)

Có người hồ nghi giá trị của luận cứ, cho rằng nhân gian là tác giả cổ điển, lấy cớ rằng câu tiền đề (gọi là A) đúng: tức dân gian là tác giả của nhiều sách kinh điển, nhưng z tức câu kết luận không thể chắc. Thử hỏi tại sao lại không, khi mà ta có thể kiểm soát nội dung z, tức nội dung kinh điển. Bởi vì khi xét thấu triệt ta nhận thấy có đủ lý chứng cho cả các đoạn hai: Thứ nhất là có bộ “Nạp ngôn” thâu thập ca dao, cũng như “Thái thi” gồm có các bài thi ca. Thứ hai lại nhận thấy trong kinh điển hiện còn rất nhiều ca dao, tục ngữ làm chứng tích cho câu trên. Thứ ba xét toàn bộ nội dung kinh điển, không có gì xa lạ với những thắc mắc ưu tư của dân gian. Hai câu 1, 2 đã được bàn đến trong VIỆT LÝ TỐ NGUYÊN, câu 3 chính là đối tượng chương này. Kết z: như vậy, ta có đủ lý do để kết luận là dân gian quả đã góp phần vào việc hình thành kinh điển, nên nội dung của nó hợp với những gì dân gian thường bận tâm. Thí dụ: kinh Thi toàn nói về những việc làm ăn của dân không có gì xa lạ cả. Như vậy đã đủ để đưa ra kết luận vững chắc. Ta có thể tóm lược luận cứ như sau:

Tiền đề A: Ta nhận thấy rất nhiều sách cổ điển đã được nhân gian trước tác. Vậy thử hỏi cũng có phải như thế không về kinh điển. (câu này xin xem trong VIỆT LÝ TỐ NGUYÊN bài ĐỊA VỊ TIẾNG DÂN).

Tiểu đề gồm từ B tới Y bao gồm ba điểm trên: nạp ngôn

có ca dao trong kinh điển nội dung kinh điển hợp thế giới bận tâm của dân gian

Như vậy, ta có thể đi đến Z TỨC KẾT LUẬN rằng dân gian có góp phần trong việc trước tác kinh điển. Sở dĩ chúng ta cần phải thêm chú thích này vì câu kết rất quan trọng, vì nó làm nên nét đặc trưng căn bản, sinh ra các nét đặc trưng khác như bình đẳng, bình sản… Các hệ quả đó làm thành nền dân chủ vừa trung thực vừa lâu đời hơn hết trên thế giới. Tất cả các hệ luận cũng như hệ quả trên đều dựa trên những luận cứ vững chắc. Vậy không nên vì thành kiến ghét Nho giáo, rồi nhắm mắt trước tất cả bao lý lẽ, và sự kiện, để chú ý hết tâm trí vào một thành kiến duy nhất là văn chương, ngoài ra chẳng thấy chi cả.


GẦN LẤY Ở MÌNH, XA LẤY Ở CÁC VẬT


Đấy là câu nói dễ đọc phớt qua, không mấy ai nghĩ rằng đó là một tiêu chuẩn đã phải trả giá qua bao đợt biến hóa mới đạt tới. Trên kia, tôi nói từ thế kỷ 18, 19 trở về trước là vì từ đó về sau Âu Châu rồi sau này đến cả Ấn Độ, cũng dần dần biết lo lắng cho con người, lấy con người làm đối tượng học hỏi cũng như phục vụ. Vì thế, nay đọc câu “cận thủ chư thân” chúng ta thấy rất thường, mà không ngờ nó đã gói ghém cả một cuộc cách mạng đang

được hiện thực dưới mắt chúng ta, mà tinh hoa có thể tóm vào câu này, tất cả những gì đã đặt ở bên kia thì đều được đưa về bên này, được đặt ngay ở dưới gầm trời này. Như vậy có nghĩa là hai nền văn hóa kia đang cố giũ bỏ tiêu chuẩn tự xa, tự trời, tự đất để đi về gần: về người, tức là đang lần lần theo về nẻo văn hóa của chúng ta, và do đó kinh điển đang dần dần phục hồi uy tín cũ. Thế nhưng, đặt được tiêu chuẩn “lấy tự gần” là một việc rất nhiêu khê. Vì tâm trạng con người hầu hết quý cái gì tự xa. Cho nên khiến cho người ta biết quý cái gần là một công trình dài, mà một khi đã đạt được phần nào, thì cũng vẫn còn dễ mất, nghĩa là con người vẫn thích “lấy tự xa”. Vì thế dầu trải qua bao thế hệ đã thấm nhuần trong bầu khí văn hóa “bên này”, mà cho đến nay biết bao trí thức, biết bao “nhà văn” chưa nhận định ra được giá trị kinh điển, vẫn chê bai văn hóa Á Đông không trước tác được những anh hùng ca kiểu Ấn Độ, hay những bài Thánh vịnh bay vút trời xanh như Tây Âu. Thì ra tại các “nhà văn” đó đã được đào luyện bằng sách vở của Tây Âu nên nay họ sống trên đất mẹ với tâm hồn xa lạ. Trong bài dẫn lộ vào kinh Thi (C III, p.114), James Legge đã cực lực bác bỏ ý kiến của thừa sai Công giáo vì đã ca ngợi kinh Thi, cho rằng có thể đặt ngang hàng với các Thánh vịnh của vua David đứng trong thế tôn giáo nên có thể bay vút tầng mây với những lời nồng nàn thiết tha, khi ngợi khen chúc mừng, khi xám hối van xin… Còn kinh Thi lại chỉ sà sà mặt đất với việc gieo trồng cấy hái, với việc trai gái yêu thương, với những lời nói bình dân, về những việc tầm thường trước mắt, làm sao có thể so sánh được với Thánh Vịnh. Vì thế, mấy thừa sai Công giáo khen kinh Thi kiểu ấy, không giúp gì thêm vào việc nhận ra giá trị kinh Thi, nên J.Legge phản đối là đúng. Thế nhưng, không phải vì vậy mà James Legge có lý để hạ thấp giá trị tất cả những bài trong kinh Thi. Chúng có giá trị của chúng, miễn là người ta biết đặt mình vào đúng quan điểm của chúng. Đó là quan điểm con người sống trong xã hội với những mối liên hệ bình thường: ái ân, trao đổi, làm việc…… và nếu định hướng đúng như vậy, thì không những nó có giá trị, mà còn là thứ giá trị đang có mòi đi lên, vì nó đón trước cuộc cách mạng của nhân loại hiện nay, đang lo tháo gỡ những bận tâm đặt trên Trời hay dưới đất để mang về trang bị cho con người. Nhiều học giả Việt Nam chưa nhận ra điểm ấy, nên đề cao Lão Thích vì bay bổng cung mây, mà tỏ ý khinh miệt Nho giáo là quá ư tầm thường, chưa nhận ra địa vực tam tài Thiên, Địa, Nhân, nên cứ thích ngao du ở Thiên và Địa và không chịu về với Nhân thế rồi nỏ mồm kêu “thiếu nhà”. Nếu chịu về nhà của con người thì sẽ nhận ra tại sao Nho lại chủ trương “đôn hồ nhân” và không cho đạo là xa người, và nếu làm cho đạo xa người thì không còn phải là đạo. Vậy thì cương vị Nho giáo cũng chính là nhân giáo hay nói nôm na là đạo làm người. Có đặt đúng chiều hướng như vậy, khi mở kinh Thi ra chúng ta mới mong hiểu được những lời mộc mạc hồn nhiên mà ngày nay ta vẫn còn bảo tồn được, như là ấn tích của tiên tổ trối lại để làm đạo sống. Đạo ấy đặt nền tảng trên con người nên không vong thân, và chính vì vậy những chế độ chuyên chế muốn tha hóa con người vẫn nuôi một mối thù ngấm ngầm đối với kinh điển, mà trong đó đứng đầu là kinh Thi. Đọc kinh Thi ta lấy làm lạ khi thấy toàn những lời lẽ hiền lành, có vẻ vô thưởng vô phạt mà tại sao lại gây nên căm thù nơi nhà cầm quyền như Tần Thuỷ Hoàng. Nhưng vì kinh Thi nghiêng hẳn về phía dân gian, nói đến những việc làm của dân: giá sắc, ái ân, ăn uống, làm lụng, ngắm trăng sao, mây nước, xướng ca, mưa gió…… Có nhận định như thế mới nhìn thấy chỗ hợp thời của kinh Thi, hay ít nhất khỏi vô tình đứng vào phe kẻ mạnh hiếp yếu. Hiện nay khi đọc kinh Thi chúng ta cần phải dè dặt đối với những chú sớ, vì hầu hết là do bọn Hán Nho tay sai của vương triều đã đem ý hệ của họ trùm lên cái lương tri nguyên thủy, đưa óc luận lý thanh giáo vào làm át tiếng nói của tâm tình, của yêu thương như Maspero nhận xét: “la remarque moralisatrice remplace le cri d’amour” (đọc thêm Việt lý tr.125 và Cửa Khổng bài Hưng ư Thi). Lấy một thí dụ, bài Hoàng hĩ Đại nhã, câu 77-78:

Bất thức bất trí chữ hán

Thuận Đế chi tắc chữ hán

Không nên theo lý trí, tri thức, nhưng phải theo Đế, tức theo tâm linh.” Ai đã biết đến sự sụp đổ của triết học cổ điển và những âu lo của thời đại (đều đặt trọn vẹn trên ý thức mà bỏ tiềm thức) sẽ hiểu giá trị sâu xa của câu nói bề ngoài coi rất mộc mạc đó. Tất cả quyển Tâm tư có thể nói là chỉ quảng diễn câu “bất thức bất, thuận Đế chi tắc” trên vậy.


THI CA TRƯỚC KINH THI


Kinh Thi là sự tập hợp các bài dân ca, mà dân ca thì muôn vàn. Triều đình có thu thập thì cũng chỉ được một phần nhỏ nào đó thôi. Tương truyền là kinh Thi có ba ngàn bài. Sau Khổng Tử san định lại còn ba trăm bài. Rất có thể chữ ba ở đây (ba ngàn, ba trăm) thuộc huyền sử “Tam Miêu” đại diện dân gian với Vương triều. Phần quốc phong gồm 15 quốc thì rất có thể 15 là số của Lạc Thư cùng một loại với 15 bộ của nước Văn Lang. Các bài trong kinh Thi dầu là phần quốc phong cũng chỉ còn là đại biểu vì đã bị thi ca của Vương triều lấn át và đè bẹp; tuy nhiên nhờ sự chấp nhận đó mà còn tới ngày nay, chứ như tất cả các thi ca trước, gọi là tiền kinh Thi thì đến nay kể như đã thất lạc hết. Có nhiều người cố gắng tìm lại và đã thu thập được chừng một trăm bài nhưng cũng không có tiêu chuẩn nào để xác định là chân truyền hay giả tạo, còn nguyên vẹn hay đã sứt mẻ. Sau đây chúng tôi dùng quan điểm Viêm Việt phản kháng Vương triều xâm lăng, để chọn ba bài làm đại biểu cho khối dân ca tiền kinh Thi. Đó là:

Kích nhưỡng ca chữ hán

Nam phong ca

Thái vi ca

- Kích nhưỡng ca: chép trong sách Đế vương bản kỉ và Cao sĩ truyện của Hoàng Phu Mật.

Nhật xuất nhi tác chữ hán

Nhật nhập nhi tức

Tạc tỉnh nhi ẩm,

Canh điền nhi thực

Đế lực hà hữu ư ngã tai?

Mặt trời mọc thì làm việc

Mặt trời lặn thì nghỉ ngơi

Đào giếng mà uống

Cày ruộng mà ăn.

Quyền lực của nhà vua cần chi cho ta đâu?

Nhưỡng là một thứ đồ chơi bằng gỗ có lẽ giống với lối chơi quăng ngày nay. Tương truyền Kích nhưỡng ca làm vào đời vua Nghiêu. Đó là điều khó có thể xác định, nhưng cứ nghe giọng trong bài thì có thể đoán là thuộc một người dân Viêm Việt đang sống trong chế độ bộ lạc làng xóm nên coi thường quyền lực của vương triều xâm lăng.

- Nam phong ca

Nam phong chi huân hề chữ hán

Khả dĩ giải ngô dân chi uẩn hề

Nam phong chi thời hề

Khả dĩ phụ ngô dân chi tài hề

Gió nam mát hề Có thể khuây nỗi giận của dân ta

Gió nam phải thời hề Có thể tăng tài sản của dân ta.

Bài này chép trong Khổng Tử gia ngữ (biên nhạc giải)

Tương truyền là vua Thuấn khi lên ngôi được hai năm có chế ra đàn 5 dây để hát bài ca Nam phong. Theo quan điểm Việt Nho có thể hiểu như sau: khi Bắc phương xâm lấn phương Nam thì phương Nam uất ức. Nhưng khi vua Thuấn là người có khuynh hướng theo văn hóa phương Nam lên nắm chính quyền, thì quyết định áp dụng văn hóa đó và đã tuyên dương ý chí trong bài hát này. Sự kiện xảy ra nhiều lần về sau mà lần cuối cùng là lúc nhà Thanh từ phía Bắc bắt dân Tàu kết tóc đuôi sam để tỏ lòng thần phục phương Bắc, nhưng cuối cùng dòng tộc Mãn Thanh lại thấm nhuần Nho giáo là một thứ nam phong.

- Thái vi ca

Đăng bỉ Tây Sơn hề chữ hán

Thái kỳ vi hĩ

Dĩ bạo địch bạo hề!

Bất tri kỳ phi dã.

Thần Nông, Ngu, Hạ hốt Yên một hề

Ngã an thích quy hĩ

Vu ta tồ hề!

Mệnh chi suy hĩ!

Lên núi Tây ca hề

Ta hái rau vi.

Lấy bạo thay bạo hề

Chẳng hay là mình trái.

Thần Nông, Ngu, Hạ mau khuất hề.

Ta còn biết theo ai?

Than ôi! Đi hề!

Mệnh ta suy rồi.

Bài ca trên tương truyền là của hai ông Bá Di, Thúc Tề can Vũ Vương đừng diệt nhà Thương nhưng không được nên không chịu ăn thóc nhà Chu, lên núi Thủ dương (huyện Yên Sư, tỉnh Hà Nam) hái rau vi ăn rồi chết đói (sử ký Bá Di liệt truyện). Bá Di, Thúc Tề đại diện cho Việt Nho đứng ra can Chu Võ Vương xâm lăng nhưng không được nên than thở nhắc tới nhà vua Viêm Việt: Thần Nông, Ngu, Hạ mà không nói đến Hoàng Đế. Ngu là vua Thuấn, Hạ là ông Vũ trị thuỷ, tức áp dụng triết lý Lạc Thư.



Đăng tải theo nguyên bản của cố giáo sư ngày 21.5.2017 .

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004