Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



ÁP DỤNG ĐẠO PHẬT

VÀO CUỘC SỐNG









H ầu hết những người theo Đạo Phật đều nghe nói rằng Đạo Phật là đạo “Độ Khổ” và muốn Thoát Khổ thì phải thực hành. Nhưng biết thực hành thế nào khi lý thuyết của Đạo rất nhiều. Pháp nào nghe giảng cũng thấy hay, nhưng chưa chắc đã hiểu. Có hiểu cũng không biết nên áp dụng vào cuộc sống như thế nào? Rốt cuộc là công sức nghe pháp, học pháp không đưa đến thực tế cho người nghe, khi gặp pháp thì lúng túng, không biết áp dụng như thế nào? Có phải lý thuyết của Đạo Phật chỉ để thuyết giảng, không thể áp dụng vào cuộc sống? Chúng ta nghĩ về điều này ra sao?

Nói đến phần áp dụng Đạo Phật vào cuộc sống làm tôi nhớ đến một sự việc khá nghiêm trọng chứng tỏ người tu hành mà thiếu thực hành thì cũng dính mắc không khác gì người đời. Tôi xin lỗi phải kể lại, không nhằm mục đích hạ thấp phẩm giá người khác, vì đó là câu chuyện có thật, liên quan đến đề tài. Cũng may mà phút chót nhờ có chút duyên may nên hậu quả nghiêm trọng đã không xảy ra.

Số là thời gian vài năm đầu khi Miền Nam vừa được Giải Phóng. Lúc đó tôi mới vừa biết đến Đạo Phật do một người cựu thầu khoán đưa đến gặp một vị Cư Sĩ, sau trở thành Thầy dạy Đạo cho tôi. Ông cựu thầu khoán này trước kia đã trúng thầu xây tường rào cho Sân Bay Tân Sơn Nhất và cũng là người khởi công xây Chùa Một Cột ở Thủ Đức. Sau Giải Phóng thì ai cũng thất nghiệp nên ông thường tới lui chuyện trò với chúng tôi. Do vậy mà gia đình tôi và gia đình ông trở thành thân thiết. Ông có chiếc xe La Dalat, nhiều lần đưa gia đình tôi đi chơi chỗ nọ chỗ kia. Có một lần ông chở vợ chồng tôi đi Đức Hòa Đức Huệ, nói là để thăm vài người bạn.

Nơi đầu tiên chúng tôi ghé, là nhà Bà vợ thứ ba của Học Giả NGUYỄN VĂN VĨNH. Tôi còn nhớ đó là một ngôi nhà nho nhỏ, rất giản dị, nền đất như những ngôi nhà bình thường khác ở miền quê. Nhà không có hàng rào, cửa cũng không đóng, nên chúng tôi bước vô nhà luôn. Không thấy chủ nhân, ông bạn cất tiếng gọi thì chủ nhà từ trong mới bước ra. Trong khi chờ đợi thì tôi quan sát quanh phòng, thấy trên chiếc tủ thờ đơn sơ giữa nhà là ảnh thờ của Học Giả Nguyễn Văn Vĩnh. Ra tiếp chúng tôi là một bà cụ đứng tuổi, dáng người khá cao lớn, khuôn mặt rất Tây. Ông bạn có vẻ khá thân nên được bà tiếp đãi rất lịch sự. Bà mời chúng tôi dùng trà và trò chuyện rất vui vẻ.

Rời nhà bà cụ, chúng tôi ghé lại một ngôi Chùa. Chùa này không lớn lắm. Trụ trì ra tiếp đón chúng tôi nồng hậu và mời ở lại dùng cơm chay.

Khi từ biệt, ra xe, ông bạn mới kể: Sở dĩ ông thân với Trụ Trì này cũng do một dịp rất tình cờ. Một lần ông chạy xe ngang qua thì thấy trong Chùa đang xôn xao, có một giàn củi chất cao, một vị Sư đang đứng trên đó, chung quanh là một đám người già có, trẻ có, đang khóc lóc thảm thiết. Ông lấy làm lạ ghé vô xem việc gì đang xảy ra. Những người đang khóc lóc kể cho ông biết là Sư trụ trì đang định tự thiêu, vì Chùa là do Sư thành lập, vừa sửa lại khang trang thì bị buộc phải giao cho Sư khác, nên Sư bức xúc muốn tự thiêu để phản đối. Giàn hỏa đã chất xong, Sư đã lên đó, Tín đồ không ngăn được nên chỉ biết đứng vây quanh khóc lóc, khuyên Thầy bỏ đi ý định tự thiêu nhưng Sư vẫn cương quyết giữ lập trường.

Ông bạn tôi nghe vậy bèn thuyết phục vị Trụ Trì. Ông kể lại cho chúng tôi nghe, là sau cả giờ đồng hồ hùng hồn thuyết phục với đủ thứ lý lẽ thì vị Trụ Trì đó mới chấp nhận bước xuống khỏi giàn hỏa, thôi không tự thiêu nữa! Các đệ tử của Sư rất mừng, cảm ơn ông rất nhiều vì nhờ ông mà thầy của họ bỏ ý định tự thiêu. Sau đó, ông trở thành bạn của vị Trụ Trì đó, thỉnh thoảng ông vẫn ghé Chùa ăn cơm chay với Sư. Tôi ít quan tâm đến chuyện người khác, nên dùng cơm chay ở chùa mà không nhớ Chùa đó tên gì? Sư đó pháp danh chi? Chỉ thấy vị Sư lúc đó chắc khoảng trên dưới 60 tuổi, người vừa tầm, không cao lớn. Có lẽ nhờ cuộc tự thiêu bất thành, tiếng đồn đến tai bên có ý định lấy Chùa, nên họ cũng thôi không tranh giành, nhờ đó nên Trụ Trì mới được yên. Ông bạn thầu khoán đó cũng đã qua đời cách đây đã hơn 20 năm, vợ con ông cũng xuất cảnh hết, nên muốn xác minh cũng không được. Nhưng tính từ thời gian tôi gặp tới nay, nếu còn sống thì có lẽ Sư cũng phải hơn 90 tuổi rồi. Dù vậy tôi tin rằng những đệ tử đã chứng kiến chắc chắn không thể quên.

Thêm một câu chuyện nữa có liên quan đến dính Pháp, là vừa mới đây, có người cũng thường đọc bài viết của tôi đã đặt cho tôi một số câu hỏi. Lần trước là: “Tại sao có nhiều nước sùng bái Đạo Phật mà cũng không thấy Phật phù hộ, để cho họ vẫn đói, nghèo?”. Tôi đã giải thích như vẫn viết trong nhiều bài phân tích: Phật không phải là Thần Linh, không có khả năng phù hộ cho ai. Những người tin rằng Phật quyền phép vô biên, có thể phù hộ cho bá tánh là sai lầm, là Nhị Thừa, không đúng Chánh Pháp. Phật chỉ là người đã Giác Ngộ, đã Thoát Khổ nên mở ra một phương pháp để chỉ lại những điều cần làm cho những ai muốn Thoát Khổ như Ngài mà thôi.

Lần khác, ông lại đặt cho tôi một số câu hỏi, tôi nhớ hình như tất cả là 11 câu. Nhưng tóm lại, điểm mấu chốt là: “khi bị người khác lấn át, tấn công, nếu ta không phản ứng thì họ sẽ đánh giá là mình hèn thì sao?”. Ông nói: “Nghèo khổ thì chấp nhận được. Bệnh hoạn cũng chấp nhận vì không ai tránh khỏi. Nhưng cứ bị hiếp đáp, lấn lướt một cách vô lý mà không ai binh vực cho. Mang ra chính quyền để nhờ can thiệp thì chính quyền còn binh họ, trong khi mình có đầy đủ giấy tờ. Vậy thì nên cư xử như thế nào?”. Lúc đó, tôi có trả lời là nếu là người theo Đạo Phật, có hiểu Lý Nhân Quả thì chúng ta nên nghĩ rằng hẳn là quá khứ chúng ta đã làm điều không phải với họ nên bây giờ họ đòi nợ, để được nhẹ lòng. Có lẽ ông ta khó lòng chấp nhận được lối suy nghĩ như thế, nên tiếp tục ôm đau khổ, bực tức!

Qua hai câu chuyện dính Pháp của một người tu hành và người đời, chúng ta thấy: Dù có học Đạo Phật, có hiểu một số lý thuyết của Đạo, thậm chí như Trụ Trì nọ, hẳn là cũng từng giảng dạy Đạo. Tuy nhiên, có lẽ do thiếu công năng Soi, Quán để thấm nhuần lời Phật dạy, thì dù Tăng hay Tục, khi gặp nghịch pháp thì cũng đều bị khảo đả như nhau. Không phải chỉ cần khoác áo tu sĩ là đương nhiên Thoát Pháp. Do vậy, câu hỏi được đặt ra là: Có nên đối phó một cách tiêu cực nhưng quyết liệt như vị Sư kia, cuối cùng Pháp mới chịu buông tha? Hay im lặng, không có thái độ, không dám đối phó rồi cứ ấm ức như người bị hiếp đáp kể trên? Chừng nào Pháp mới kết thúc? Đạo Phật có giải thích thế nào về những tình huống như vậy không? Phật sẽ cứu như thế nào khi tín đồ lâm nạn như vậy?

Đơn cử hai trường hợp bị vướng mắc để chúng ta thấy: Kinh Thủ Lăng Nghiêm viết: Nếu người học Đạo mà không biết cái Gút của mọi vướng mắc, đau khổ nằm ở đâu thì không bao giờ cởi trói để Thoát Khổ được. Người vào tu Phật mà chỉ học Pháp, thiếu phần tư duy rồi ứng dụng thì không bao giờ đạt đến kết quả của Đạo. Kinh Đại Bát Niết Bàn viết: “Này Thiện Nam Tử! Tất cả pháp lành đều do Tư Duy mà được. Vì có người dầu trải qua vô lượng vô biên vô số kiếp chuyên tâm thính pháp, nếu chẳng Tư Duy thời trọn không thể được Vô Thượng Bồ Đề. Đây cũng là do Tư Duy mà được gần Đại Niết Bàn”.

Nhưng Tư Duy là gì? Tư Duy về vấn đề gì?

Tư Duy là sự suy nghĩ một cách thấu đáo một vấn đề nào đó. Người vào Đạo Phật thì phải biết mục đích của Đạo Phật là để Giải Khổ cho con người. Vậy thì người muốn Thoát Khổ phải tìm hiểu nỗi khổ do đâu mà có? Đạo Phật Giải Khổ cho con người cách nào?

Con người thường cho rằng sở dĩ mình Khổ vì các pháp tấn công mình, người khác hiếp đáp mình. Nhưng Đạo Phật cho rằng sở dĩ con người phải Khổ là vì CHẤP LẤY CÁI THÂN, cho đó là TA. Cũng do có TA, nên mới có nhà cửa, ruộng vườn, đất đai, tài sản, cha mẹ, vợ con v.v… Tất cả là CỦA TA, ta có trách nhiệm phải bảo vệ. Với người tu hành thì Chùa của Ta, do ta xây dựng, thành lập. Đệ tử của ta nay lại phản ta chẳng hạn! Hai trường hợp kể trên là rõ ràng nhất, bị người khác muốn xâm phạm, lấn chiếm những gì thuộc về Ta, trong khi mọi lý lẽ, giấy tờ đều chứng minh đó là tài sản thuộc về Ta. Điều đó hoàn toàn đúng. Luật đời cũng không ủng hộ việc đi tranh cướp, lấn át người khác.

Tất nhiên, về mặt đời thường, khi gặp rắc rối mọi người hoàn toàn có quyền phản đối, đưa ra chính quyền để nhờ can thiệp. Nhưng có nhiều việc Chính quyền không giải quyết thỏa đáng. Chính vì vậy mà nhiều trường hợp xô xát đã xảy ra. Hàng ngày, qua báo chí ta thấy nhiều cái chết lãng xẹt, nhiều người phải mang thương tật suốt đời chỉ vì bảo vệ cái đúng, cái phải, nhưng do hành động trong nhất thời, khi cả hai bên đều thiếu kiềm chế! Hai bên suôi gia chỉ vì tranh nhau một cái cây ở giữa ranh đất, bán được có hai chục ngàn mà suôi nọ chém suôi kia chết! Người khác chỉ vì vô vườn bẻ mấy trái chanh, bị chủ nhà mắng chưởi, thế là xách dao giết cả vợ con chủ nhà để trả thù, để rồi bản thân anh ta phải lãnh án tử! Những mạng người bị đánh đổi chỉ bằng vài chục ngàn, vài trái chanh, thật hết sức vô lý!

Làm thế nào để những điều tương tự không xảy ra? Đó là những gì mà Đạo Phật giải thích và hướng dẫn để những ai tin và thực hành theo thì sẽ không bao giờ rơi vào thảm cảnh như thế, nhờ trong quá trình học Đạo được hướng dẫn cho quán sát để biết diễn tiến của các pháp.

Về động cơ xui khiến con người hành động một cách lỗ mãng, theo Đạo Phật, đó là vì thấy cái TA bị xúc phạm, nên bực tức, không làm chủ được suy nghĩ, hành vi của mình. Người thì thấy tài sản của mình bị xâm phạm, người thì thấy bị xúc phạm, rồi do thiếu tự chủ, thiếu sáng suốt, không kiềm chế được cảm xúc, không tính tới hậu quả, do để cho cái SÂN điều khiển. Lúc nguôi giận, hối hận thì đã muộn màng. Cái giá phải trả không hề nhỏ! Có khi là cả tính mạng của mình, vì “sát nhân giả tử”. Chính vì vậy mà Đạo Phật ngăn ngừa cho con người để không phải đưa bản thân đến những hoàn cảnh nghiệt ngã khi phải đối pháp để không bị nó làm hại.

Cũng theo Đạo Phật, tất cả mọi việc xấu, tốt, gây nghiệp, làm tội, làm phước đều bắt nguồn từ cái THÂN TA. Người chèn ép, tranh giành với người khác cũng để kiếm thêm, tích lũy cho cái Thân họ được hưởng. Người thấy mình bị thiệt thòi, bị chèn ép, phải tự vệ. Người ý thức một chút, tin có kiếp sau thì Bố Thí, làm Phước thì để dành cho mình, cho con cháu mình. Trong khi đó, Đạo Phật cho rằng cái THÂN này không phải là TA, mà chỉ là cái THÂN NGHIỆP mà ta phải mang cho đến khi trả xong những món nợ mà trước kia ta đã vay. Hết nợ hay hết Nghiệp là cái Thân sẽ tan rã để hoàn về cho Tứ Đại những gì nó đã vay mượn.

Tuy nhiên, những hiểu biết trên là của Đức Thích Ca. Phần chúng ta có quyền nghi ngờ, không tin, kiểm chứng. Việc đầu tiên chúng ta cần tìm là quan sát cái Thân này, xem nó có phải là Mình hay không? Có cứng chắc, tồn tại lâu dài hay không? Theo Đức Thích Ca, Thân người là một khối xương thịt được kết hợp bằng Tứ Đại, tức Đất, Nước, Gió, Lửa. Hiện tại thấy mạnh mẽ, vững vàng là vậy. Nhưng chỉ cần một cơn gió độc, một chứng bệnh bất ngờ, một cú va chạm là nó sẽ đổ vỡ hoặc nằm im không động đậy được. Rõ ràng bản chất nó không bền chắc. Nó lại không tồn tại mãi, mà nhiều lắm là trăm năm sẽ đi vào hư hoại theo hành trình SINH, LÃO, BỆNH, TỬ. Biết bao thế hệ đi trước đã chứng minh điều đó. Do vậy mà Đức Thích Ca kết luận rằng cái Thân mỗi người chỉ là GiẢ TƯỚNG mà mỗi người tạm ở trong đó để Trả Nghiệp. Không phải là Thật Mình. Nếu ai cứ đeo bám nó thì phải Khổ vì nó mà thôi. Hoặc nó chính là thủ phạm, chèn ép, lấn người, hại vật để mang lợi ích về cho chính mình. Hoặc yếu thế hơn thì trở thành nạn nhân của người khác. Và vì nó không phải là MÌNH THẬT, nên dù có yêu thương, quý mến, chìu theo mọi sở thích của nó thì cũng có ngày phải xa lìa nó mà thôi. Người hiểu được như thế thì chắc chắn thời gian sống chung với nó không bao giờ vì nó mà tạo Ác Nghiệp, gây gổ, chèn ép người khác để kiếm chút lợi lộc bởi biết rằng khi chết cũng đâu có mang theo được? Người tự đặt câu hỏi cho chính mình rồi tìm cách giải đáp và thực hành theo đó sẽ không còn bị lợi danh, hơn thua, tranh chấp làm khổ.

Nhiều người không tin và không chấp nhận Nhân Quả, Luân Hồi. Nhưng có bao giờ họ thử hỏi tại sao có người được giàu sang, sung sướng, có người lại phải chịu cảnh nghèo khổ, khó khăn? Nếu đồng là con của Thượng Đế thì rõ ràng là không công bằng, vì Thượng Đế đâu thể đứa yêu, đứa ghét như thế. Do đó, chỉ có thể lý giải theo Nhân Quả, là có thể buổi đầu mọi người đều bình đẳng như nhau, nhưng người ăn xài phung phí nên trở thành thiếu thốn, còn người biết làm ăn, tích lũy thì được đầy đủ, sung túc. Một khi đã thiếu nợ thì phải trả, không cách này cũng cách khác. Không lúc này cũng lúc khác. Như vậy mới có sự công bằng tuyệt đối, và cũng vì vậy mà phải có Luân Hồi để Nhân Quả được thể hiện. Hiểu được điều đó, ta sẽ chấp nhận hoàn cảnh của mình. Thiếu nợ thì phải trả, rồi nếu muốn thay đổi thì phấn đấu một cách lương thiện. Người tìm những cách bất lương để làm giàu hay thay đổi hoàn cảnh thì chẳng những pháp luật của đời không tha thứ mà luật Nhân Quả cũng ghi thêm, như án chồng án, kiếp sống sẽ ngày càng tồi tệ thêm.

Tu Phật chính là để thay đổi số phận cho chính mình. Nhưng không phải cầu xin Phật hay Thần Linh ban cho, mà phải tự mình hành động theo Luật Nhân Quả. Những gì xấu phải bỏ đi, việc tốt nên học, nên làm. Tuy hiện tại ta có thấy thiệt thòi đôi chút, nhưng không tạo thêm quả xấu cho tương lai. Và vì biết cuộc đời là giả tạm, cuộc sống rồi cũng sẽ qua đi khi cái Thân hết Nghiệp nên không bám lấy cái Thân để tạo thêm Nghiệp xấu, mà chỉ gây Nhân Thiện để có Quả Lành. Nhờ đó Tâm của ta sẽ được an mà cuộc đời cũng sẽ dần thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Nhờ không thấy cái Thân là Mình thì ta cũng bớt gây hấn, bớt chấp nhất, nhờ đó bản thân ta và mọi người chung quanh cũng được yên.

Tuy vậy, Phật dạy, dù cái Thân này tuy không thật, không bền, là nguyên nhân của mọi tội lỗi, nhưng trong đó cũng có dược liệu quý. Khi chưa Giác Ngộ thì cái Thân dắt ta tạo Nghiệp để bị đọa. Nhưng khi Giác Ngộ rồi thì chính cái Thân là ân nhân của người tu. Vì nhờ có Mắt mà đọc được Kinh sách, lời dạy của các bậc đi trước. Nhờ có Tai để nghe những lời dạy dỗ, nhắc nhở. Nhờ có tay chân mà đóng góp được những điều tốt đẹp cho xã hội, cho cuộc đời. Được tốt hay bị xấu là tùy theo hành động của mỗi người, vì cái Nghiệp không cố định, có thể thay đổi. Đức Thích Ca cũng nhờ có cái Thân mới tu hành đạt đạo. Thánh nhân cũng nhờ cái thân này mà đạt đến địa vị thanh cao. Mỗi người chúng ta cũng không khác. Thành kẻ tội đồ cũng do mình, mà thành bậc cao quý được mọi người nể trọng cũng do mình. Muốn được như vậy thì sau khi Quán, Soi về cái Thân ta tìm cái đã Chấp Thân để cải tạo nó. Cái xui nên sự Chấp Thân chính là Cái Vọng Tâm. Cần phải tháo gỡ, giải tỏa sự hiểu lầm cho nó. Người tu thành công hay không là do tìm ra và điều khiển được Cái Vọng Tâm hay không.

Khi ý thức Nghiệp, Quả, ý thức về Cái Thân và cuộc sống, chúng ta sẽ chấp nhận những tốt hay xấu đến với mình. Chấp nhận Trả những gì đã gieo. Không oán trách hoàn cảnh xấu, người xấu, pháp xấu mà mình phải gặp. Không cầu xin Thần Linh hay ơn trên để đổi xấu lấy tốt, vì biết điều đó là cái Quả mình phải trả, nhờ đó Nghiệp cũng nhẹ đi dần. Chúng ta cũng an tâm mà trả cho đến hết.

Đạo Phật thường giải thích các pháp bằng những lý lẽ nghe chừng cao siêu. Nhưng xét kỹ thì chỉ nhằm mục đích để cho con người Cải Ác, Hành Thiện mà thôi. Cứ thử suy nghĩ, giả sử chúng ta không chấp nhận lời khuyên dạy của Đạo Phật để tiếp tục thấy mình thiệt thòi, bị hiếp đáp, rồi phản ứng mạnh thì điều gì sẽ xảy ra? Mang hung khí đi nói chuyện với kẻ thù để rồi nếu họ bị thương tích thì ta cũng sẽ phải đi tù, phải trả tiền viện phí, phải bồi thường thiệt hại, thuốc thang cho họ. Chẳng may họ mất mạng và ta cũng có thể mang thương tật, hoặc bị án nặng, thì vợ con ta sẽ ra sao? Như vậy, nếu phải đánh đổi chút tiếng tăm, chấp nhận bị cho là hèn nhát, hoặc mất chút ranh đất mà được cuộc sống bình an, gia đình không bị xáo trộn, so với tranh giành quyết liệt, muốn tiêu diệt, muốn cho kẻ thù đã hiếp đáp mình một bài học cho đã nư, gây hậu quả nặng nề thì những ngày sau đó vợ con mình sẽ ra sao?

Như vậy Giáo pháp của Đạo Phật có giúp gì được cho con người hay không?

Nếu không có Tham Sân Si thì mọi việc xấu đã không diễn ra, không có việc người này chèn ép người khác, gây nên những cảnh bất bình trong cuộc sống. Vì thế Đạo Phật dạy con người phải trừ Tham Sân Si đi. Và rồi, nếu trước mỗi hành động, chúng ta để thì giờ suy nghĩ, phân tích hơn thiệt để dừng lại đúng lúc, thì Đạo Phật gọi đó là trong ta có Quán Thế Âm Bồ Tát đang cứu độ cho chúng sinh của ta. Chúng sinh trong ta thì bao giờ cũng chồm lên, cũng muốn ăn thua đủ. Không muốn bị thua thiệt. Nhờ bình tĩnh, suy nghĩ trước khi hành động mà ta biết cư xử cho đúng mức để không bị thiệt hại thêm. Chính sự hiểu biết về Giáo Pháp của Đạo Phật làm cho ta có cái nhìn đúng hơn về cuộc đời, về các pháp để có sự bình tĩnh, sáng suốt. Không chạy theo các pháp một cách hồ đồ khi bực tức, là ta đã được Giải Thoát khỏi Pháp Địa Ngục đang chờ! Đó là sự cứu độ của Phật trong ta. Chỉ có Phật của mình mới cứu được mình mà thôi, Phật ngoài không thể can thiệp vào Nghiệp Quả của mỗi người. Chúng ta nên biết, Phật không phải là Thần Linh, nên không thể cứu độ, hộ trì cho ai, Ngài chỉ đưa ra đường lối để hướng dẫn cho ta hiểu rồi tự cứu mình. Vì thế, Đạo Phật gọi là Tự Độ.

Đạo cũng không khác với Đời. Mỗi người có hai cách để chọn lựa. Hoặc Nhẫn Nhục, đổi sự thua thiệt nhỏ để được an ổn. Hoặc chạy theo cái Thân rồi hành động trong lúc Sân Si để nỗi Khổ càng lớn hơn, đến lúc nghĩ lại thì hối không kịp. Đối Pháp như thế không phải là hèn nhát, mà là sự sáng suốt để không làm nặng thêm cho cái Pháp mà ta phải đối đầu, không thể tránh né. Nếu vị Sư kia cũng có công năng Soi, Quán, có hiểu lẽ Vô Thường, thì lẽ ra phải biết cái Thân này còn không giữ được, nói gì đến cái Chùa? Ngày nào chết đi cũng đâu có mang Chùa theo được? Cũng may cho Sư, nếu không có sự can ngăn kịp lúc thì ông đã phạm trọng Giới của Đạo Phật! Người tu phải có lòng Từ Bi, phải có đức Hiếu Sinh. Con kiến, con muỗi còn không giết mà lại muốn tự thiêu, giết chính bản thân mình để bảo vệ cái Chùa! Quên cả lời Phật dạy phải Nhẫn Nhục, phải Từ Bi, Hỉ Xả. Quên cả công ân sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ chưa báo đền! Thân mỗi người là công trình, là sự hy sinh, là tình yêu thương của cha mẹ. Bất kỳ vì lý do gì cũng không được tự hủy. Tội đó rất nặng.

Người muốn Tu Phật thành công không phải Tụng Kinh cho nhiều, Ngồi Thiền cho lâu, Giữ Giới cho kiên cố, mà là Quán sát các pháp, tìm hiểu thật kỹ lời Phật dạy để mang ra áp dụng. Mỗi người có BA ĐỘC phải trừ, thì cái SÂN là cái Độc lớn nhất, vì nó thiêu hủy cả rừng Công Đức mà ta tích lũy bao lâu. Sở dĩ con người SÂN là vì SI, tức là u mê, nhận lầm, cái Thân không phải là Mình mà cho đó là Mình rồi ra sức tranh giành, bảo vệ cho nó, hơn thua với bất cứ ai xúc phạm nó. Khi hiểu ra thì không chạy theo nó mà còn phải chuyển hóa cái Tâm. Công việc Chuyển Hóa cái Tâm gọi là Tu Hành, cũng gọi là ĐỘ SINH, vì đưa chúng sinh, tức tư tưởng của mình, từ đang lo buồn sầu khổ đến tính trạng chấp nhận, an ổn. Đó là công năng mà hàng ngày mỗi người tu cần luyện tập.

Bỏ được Tham Sân Si thì cái Tâm của ta sẽ được thanh tịnh. Làm những Thiện Hạnh là ta đang đúc Tượng Phật, biến đất tâm của ta từ đầy gò nỗng, rắn rít, thuồng luồng… bởi giận, hờn, thương, ghét, trở thành Từ, Bi, Hỉ, Xả. Đó là ta xây Chùa cho Phật ngự. Chùa đó, Phật đó mới đúng Chánh Pháp, mới không bị thời gian làm cho hư hao, không phải là Chùa xây bằng gạch, cát hữu vi, Tượng đúc bằng xi măng, gỗ của trần tục. Tụng Kinh không phải là đọc lên xuống giọng, có ca có kệ, mà là thường đọc để hiểu, để ghi nhớ lời dạy trong đó. Gõ mõ, thỉnh chuông, không phải là gõ vào chuông, mõ vô tri, vì đó là việc làm vô ích. Phật đâu cần ta Tụng Kinh cho Ngài nghe, và gõ chuông, mõ để nhắc nhở Ngài thức tỉnh, vì đó là lời Ngài đã giáo huấn để ta hành theo. Do đó, hãy luôn gõ vào Tâm của mình là nghĩa tượng trưng của việc luôn nhắc nhở nó thức tỉnh. Xây Chùa, Tạc Tượng, Tụng Kinh, Gõ Mõ như thế mới có Công Đức, mới đạt kết quả của Đạo. Tuy nhiên, dù chúng ta tu hành cũng vẫn sống cuộc sống một cuộc đời như mọi người thế gian thường tình. Bị ức hiếp vẫn có quyền tự vệ một cách chính đáng, tất nhiên không phải bằng vũ lực. Không phải nhắm mắt, ngó lơ, vờ như không biết, rồi tự cho là đã Thoát! Người tại gia thì không để mặc kệ vợ con đau khổ, buồn phiền, mà phải làm hết sức mình. Khi hết cách mà cuộc diện vẫn không thay đổi thì biết đó là Nghiệp, đành phải chấp nhận. Như vậy cuộc sống của chúng ta cũng sẽ được nhẹ nhàng,thanh thản hơn. Khi ta chấp nhận những gì sẽ đến với mình, chấp nhận trả Nghiệp một cách vui vẻ, thì Nghiệp dù nặng cũng trở thành nhẹ hơn, gọi là “Biến Nghiệp thành Nguyện” vậy.


(Tháng 4/2017)


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 19.5.2017.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004