Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





VẤN ĐỀ ĐÁM TANG







Đ ời người, sanh lão bịnh tử không ai tránh được nên khi cử hành đám tang, nhiều người bày ra đờn ca để vong hồn người quá cố được ấm cúng. Người ta cũng bày ra ăn uống, nhậu say… làm cho những người chung quanh nhứt là ở thành phố phải bực mình. Ta thử bàn xem trong đám tang, việc nào đáng chê và cần bỏ đi.


1. Việc đờn ca, diễn tuồng


Việc đờn ca, diễn tuồng nầy có từ lúc nào? Học giả Goloubew nghiên cứu giống người Dayak ở đảo Bornéo có cùng giống với người Lạc Việt là Anh-đô-nê-giêng. Hình trên trống đồng Đông Sơn là sanh hoạt tang lễ. Đông Sơn ở Thanh Hóa, dọc theo sông Mã, ở thung lũng núi Rồng nhìn ra sông Mã. Thân trống có hình thuyền, trong thuyền có người mang gươm, búa, đánh trống, bắn cung và lái thuyền đưa linh hồn người Việt cổ về nơi cực lạc. Phải chăng đây thể hiện sự ca múa.

Trong Đại Việt Sử Ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên có kể chuyện di quan vua Nhân Tôn thượng hoàng, dân coi đông đầy đường, quan chỉ hậu Chánh chưởng Trịnh Thượng Tứ tạo ra khúc hát Long ngâm cho binh sĩ hai bên đường vừa đi vừa hát, dân ra nghe hát, lúc bấy giờ mới di quan được. Đời sau bắt chước làm lối vãn ca, mời phường hát tới hát trong đám tang để khoe giàu sang, có thế lực.

Ở miền Nam, trong đám tang, lúc sắp di quan cũng có hát dưới hình thức hát bội mà người ta kể rằng gia đình nọ, người con lớn đi ăn cướp, khi hay tin cha (mẹ) chết, anh ta trở về ăn cắp quan tài đi chôn. Do đó, khi di quan thì chỉ ra hiệu chớ không nói gì.

Cả hai sự kiện nầy kết hợp lại, việc ca, hát, múa, kèn trống… trong đám tang âu là tục lệ của dân ta. Do đó, việc ca hát nầy, ta không nên phiền trách miễn là đừng gây ồn quá và đừng kéo dài nhiều ngày.


2. Việc đãi ăn uống


Xưa ở nông thôn, nhiều người cao tuổi mua quan tài để sẵn trong nhà, khi qua đời, con cháu lo liệm và sau đó nhờ hàng xóm cùng nhau khiêng đi an táng chớ không có đạo tỳ của nhà đồ như ngày nay. Ngoài ra, việc may đồ tang… cũng nhờ láng giềng giúp. Vì vậy nên các nhà giàu bày ra việc đãi ăn để chòm xóm ăn, nhậu để mọi người vui vẻ góp tay vào mọi việc kể cả việc khiêng quan tài đi chôn. Nhà giàu làm vậy thì mọi người bắt chước theo và nó trở thành lệ. Về sau, người ta thấy đám tang thì phải đãi ăn như vậy chớ không tìm hiểu nguyên nhân và ngày nay, nhiều người vẫn đãi như vậy. Ngày nay, nhà đồ có đạo tỳ; tới nhiều đình miếu tôi thấy có dụng cụ di quan. Có lẽ mỗi đình đều có một tổ chức xã hội là di quan giúp khi cần chăng? Do đó, khi cần thì tới nhà đồ mà trước kia mua quan tài hay liên hệ tổ chức di quan của đình, miếu tại địa phương cho tiện. Thay vì tốn tiền đãi ăn mà có khi vì say nên không giúp gì, ta tốn tiền thù lao cho đạo tỳ vậy.

Tang là khó, là hao tốn, theo tôi thì không nên đãi đằng cho lắm, chỉ vài món nhắm đơn sơ để cùng gia tộc và chòm xóm lai rai để đám tang đỡ tẻ nhạt mà thôi.


3. Viếng tang, phúng điếu, chấp điếu hay không chấp điếu


Việc viếng tang người quá cố là tiễn biệt lần cuối để thể hiện tình làng nghĩa xóm, theo tôi là một nghĩa cử tốt và nó kèm theo việc phúng điếu.

Phúng điếu để làm gì? Theo tôi, phúng điếu là để bớt gánh nặng cho gia chủ. Ta không xin mà người góp giúp, ta không nhận là phụ lòng tốt của người có lẽ đó là việc không nên.

Lý do không nhận tiền phúng điếu chỉ vì sợ ông bà cha mẹ ta thiếu nợ mà thôi. Theo tôi, đây chỉ là sự giao thoa giữa người và người trong cuộc sống. Có bao giờ người qua đời đó có phúng điếu cho người khác không? Phải nói chắc chắn là có. Bây giờ nhận phúng điếu để du di món nợ người khác nợ ta, đó là sự công bình.

Do đó, theo tôi là không nên không chấp điếu. Không chấp điếu gây khó cho người viếng tang. Phúng điếu có hai lý do:

a. Phúng điếu để giúp

b. Phúng điếu để trả dĩ nghĩa là trước kia ta đã nhận tiền họ phúng điếu ông bà cha mẹ ta, nay trả lại để dứt nợ mà không nhận thì khó quá.

Cũng có tục là tiền bỏ vô bao thơ đi viếng tang thì không được đem về nhà, phải coi bỏ ở đâu đó. Nếu đem viếng vào buổi đi an táng, tôi thấy họ quăng xuống huyệt mả. Nếu đã hạ rộng rồi thì bỏ bên mộ. Làm như vậy là phí phạm.

Tục phúng điếu đã có từ xa xưa nên ngày nay khi đi viếng tang mà không phúng điếu, nhiều người cảm thấy như thiếu nên bày ra phúng điếu gián tiếp bằng cách cúng vòng hoa hay trái cây. Họ đem tới viếng, tang chủ có nhận hay không? Tôi thấy có lẽ phải nhận. Mà nhận, tôi cho là đã chấp điếu rồi mà cái điếu nầy phiền lắm.

- Vòng hoa thì mất công chở tới phần mộ bỏ đi.

- Trái cây thì để ăn, nhưng tới đám tang, bên xác chết, không ai thiết đến việc ăn. Nhiều quá ăn không hết, nó hư thì bỏ, bỏ thì phí lắm.

Để dung hòa việc nầy, theo tôi thì ta để bên dưới tấm báo tang: Hạn chế tối đa việc cúng vòng hoa, trái cây…

Có lẽ như vậy là ổn nhứt. Ai phúng điếu thì cứ bỏ vô thùng phúng điếu, ai đem vòng hoa, trái cây thì cũng nhận cho vui vẻ với nhau. Không để bao thơ, không nói gì về phúng điếu cả. Nếu có ai hỏi, ta nói thôi đừng phúng điếu là ổn.


4. Việc sư tụng kinh cúng cơm cho người quá cố


Việc tụng kinh cho người quá cố, có lẽ tôn giáo nào cũng có tụng kinh cả.

Việc tụng kinh cúng cơm, sư tụng kinh, con cháu lạy, để thức ăn vô chén cơm. Lạy ba lần, rót nước ba lần mới xong. Theo tôi việc tụng kinh nầy thì bỏ đi. Ta vẫn giữ cúng cơm trưa, cúng cơm chiều nhưng dọn cơm, rót nước tráng miệng, thắp nhang… sau đó thì cúng nước để báo lễ cúng đã xong là đủ. Khi ba tôi qua đời, tôi về quê lo nơi an táng và rước luôn một ông sư lên để tụng kinh cho Ba tôi. Vì phải liệm ngay buổi chiều nên gia đình lại rước một ông sư ở thành phố. Sáng hôm sau, ông sư quê lên, ông nói chiều ông tụng kinh một lần nữa rồi về trước 5 giờ (17 giờ). Tôi nói vậy cúng cơm trưa thì thầy tụng, cúng cơm chiều để ông sư kia tụng thì ông nói ông chưa tụng kinh cúng cơm bao giờ, để ông sư kia tụng vậy. Khi ông sư thành tụng thì ông sư làng ngồi chơi. Ông nói khác phái nên không tụng chung được. Việc tụng kinh không biết sao, ta cứ tùy nghi phiên phiến vậy.


5. Việc rải giấy tiền vàng bạc khi di quan


Tôi suy luận rằng việc rải giấy tiền vàng bạc nầy nhằm hai mục đích:

- Rải để làm dấu cho người chết nhớ đường về

- Rải để ma quỷ dọc đường… không gây khó khăn.

Việc rải cho người chết nhớ đường về tôi cho là vô lý vì linh hồn người chết đi mây về gió. Họ đi theo đường chim bay chớ không đi theo con đường ngoằn ngoèo trên mặt đất như ta đâu.

Nếu nói rải giấy tiền vàng bạc để ma quỷ dọc đường không gây khó khăn cũng vô lý vì chúng lấy giấy tiền vàng bạc bằng cách nào? Giấy vẫn bay lơ phơ trên đường. Con quỷ nào được lấy, chúng lấy để làm gì và cất ở đâu? Có hai hiện tượng giấy tiền vàng bạc cho người chết là:

- Đốt và vái là cho ông bà cha mẹ ta. Nếu nói đốt là các Người lấy được thì không đốt họ có lấy được không?

- Không đốt thì nó bay lung tung thì lấy và giữ bằng cách nào? Tin đốt hay không đốt, ta chỉ chọn một thôi. Người theo đạo thờ Chúa không rải thì sao? Do đó, theo tôi, việc rải giấy tiền vàng bạc nầy là vô ích phải bỏ đi để không làm mất vệ sinh đường phố.


6. Việc chôn cất, đầu người chết quay về hướng nào là đúng?


Bàn về chôn cất người chết, tôi bàn ở mặt đầu quay về hướng nào là chính. Thông thường tôi thấy mộ phần ở gần sông, hồ, ao… thì con cháu sanh sống tốt hơn. Nhưng người ta cũng nói đừng cho dòng sông hay con đường đi thẳng vào đầu mả, hay chưn của mả khác đạp trực tiếp vô đầu ông bà mình. Bàn về đầu quay về hướng nào, phần lớn người Việt ta đều cho rằng đầu quay về hướng Tây là đúng. Họ giải thích:

- Quả địa cầu quay từ Tây sang Đông nên quay đầu về hướng Tây để ngồi dậy cho thuận. Nếu quay về hướng Đông thì bị lộn đầu nên không được.

- Giải thích theo Phật giáo thì có hai ý trái nhau:

+ Quay đầu về hướng Tây là hướng về đất Phật.

+ Có người cho rằng đầu quay về hướng Đông mới đúng, mới hướng về đất Phật được, khi ngồi dậy ta đi thẳng về đất Phật, như vậy mới đúng.

- Người ở vùng núi cao miền Trung, dãy Trường Sơn ở về phía Tây nước ta, họ giải thích là đầu quay về hướng Tây, khi ngồi dậy thì đi xuống đồng bằng mới lao động kiếm sống dễ dàng.

- Người ở vùng biển thì họ nói quay đầu về hướng Đông tức là hướng biển mới tốt vì ngồi dậy là đi vô đất liền mới dễ kiếm sống. Quay đầu về hướng Tây, ngồi dậy là đi xuống biển là chết.

- Người ở vùng đồng bằng mà gần sông, họ nói đầu quay về hướng sông mới đúng vì ngồi dậy thì lên đồng ruộng để trồng trọt kiếm sống cho dễ. Nếu quay đầu vô ruộng thì ngồi dậy là đi xuống sông mò tôm cá khó sống lắm. Cũng có người không giải thích gì cả, họ nói vùng nầy người ta quay đầu thế nào, ta quay đầu thế ấy mà thôi, không cần bàn gì cả.

Có người thì lý giải rằng vòng của từ trường là: Ra Bắc, Vào Nam. Các đại mạch điều hành sự sống của con người thì chạy dọc theo xương sống từ đầu xuống chưn. Do đó, đầu quay về hướng Nam để thuận dòng điện từ mới tốt.

Mỗi người bàn một cách, ta tùy nghi ứng xử. Phần lớn người Việt Nam chôn người chết đặt đầu quay về hướng Tây.


7. Bàn về long mạch


Nói chôn người chết ở long mạch để con cháu phát quan, phát tướng, phát vua… tôi cho là người ta đặt chuyện mà thôi.

Ông Tả Ao, người được cho là coi đất, coi long mạch giỏi nhứt Việt Nam ta nhưng con cháu ông không thấy có ai làm quan, đỗ trạng nguyên hay làm vua cả. Nước Ấn Độ vẫn là một cường quấc của thế giới, chết thì họ thiêu, tro rải xuống sông Hằng thì mạch ở đâu mà phát? Khi Tây Sơn thống lãnh cả Việt Nam, tương truyền là mồ mả của dòng chúa Nguyễn bị đào lên và quăng xác hết nhưng Nguyễn Phúc Ánh lại dựng được ngôi vua và truyền đến mười ba đời thì sao?

Việc tìm long mạch, tìm được đất thì phải định rõ đầu quay về hướng nào, nếu đặt sai cũng không được. Cháu cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nghèo lắm, có thầy địa lý biểu dẫn ra mả cụ xem sao. Tới nơi thì thầy nói mả chôn sai, đầu quay ngược lại mới đúng. Có lẽ vì vậy mà cháu cụ nghèo cũng nên. Khi đào mộ lên để quay ngược lại thì thấy có tấm bảng nhỏ, có chữ. Rửa đọc thì thấy ghi năm mươi năm trước mạch ở đầu, năm mươi năm sau thì mạch ở chưn. Thì ra xưa kia thì đúng, bây giờ thì sai.

Mạch đất thì xoay chuyển cho nên họ nầy đắc lợi một thời gian thì chuyển sang họ khác. Vũ trụ xoay vần nhưng đất phát thì bao lâu, con cháu được hưởng bao lâu? Nếu nói mộ cụ Trạng Trình vì đất xoay, mạch chuyển nên nghèo, vậy thì mồ mả của cha ông của đời tiếp cận bên trên thì sao, sao lại căn cứ vô mộ của ông hằng nhiều chục năm về trước? Đó chẳng qua là một cách nói không có gì đáng tin.


8. Vài cuộc đất phát


Ta hãy xem một số mộ của vua chúa ngày xưa.

Cha của Lý Thái Tổ nghèo, làm thuê ở chùa Tiêu Sơn. Ông lấy vợ, vợ có mang, nhà sư biết được nên đuổi đi. Hai vợ chồng đi tới rừng Báng ngồi nghỉ. Ông khát nước nên đi ngược về giếng nước, ông khom xuống múc nước và bị té xuống giếng. Thấy lâu, người vợ tới giếng thì thấy mối đùn lấp miệng giếng rồi nên tới ở nhờ nơi chùa Ứng Lâm gần đó. Sau đó sanh ra Lý Công Uẩn tức là Lý Thái Tổ. Như vậy đầu của cha Lý Công Uẩn cắm ngược xuống đất chớ không có hướng nào cả.

Mả mẹ của Trịnh Kiểm cũng vậy, bị hàng xóm bắt bỏ xuống giếng cho chết. Người ta bỏ đầu chúi xuống hay quay lên? Không ai biết được. Sau đó mối cũng đùn lấp miệng giếng. Về sau, Trịnh Kiểm được phong làm Thái sư Dực Quấc Công. Con ông là Trịnh Tùng lập phủ chúa lấn áp vua Lê và cũng truyền được nhiều đời.

Trạng nguyên Giáp Hải, cha ông quan hệ bất chánh với người đàn bà nghèo bán quán bên đường rồi chết. Bà sợ quá, đang đêm lôi ra bãi tha ma mà vùi. Và từ đó, bà có mang và sanh ra Giáp Hải. Có lẽ bà chỉ chọn chỗ nào đất mềm dễ đào mà vùi cho mau, bà cũng không cần định xem phải quay đầu về hướng nào cả. (Theo Nam Hải dị nhân của Phan Kế Bính)


Qua ba chuyện trên, tôi cho là nên hư là do âm đức mà gặp được đất tốt mà thôi chớ không phải tìm mà được. Tuy vậy, ta cũng cần lý giải việc quay đầu về hướng nầy hướng nọ để khi cần, ta quyết định một cách tự tin. Tự tin là tốt thì ta sẽ vượt được mọi điều không tốt mà vui sống.

Khi em ruột tôi qua đời, em dâu tôi bảo đem về quê nó. Về đó, các bực ông bà nó nói quay đầu về hướng sông. Một người nói ở đây thì quay đầu như vậy chú đi dọc theo đây mà coi. Sông lớn thì tôi không biết ở đâu nhưng phía trước là con đường, bên kia đường là mương thoát nước. Tôi nói quay đầu vô trong để mặt day ra đường tốt hơn. Khi đang phân vân, cháu trai kêu tôi bằng bác ruột nói: Đây là việc của cha, con theo ý của Bác con, để Ba con quay đầu vô trong ruộng để ngồi dậy, Ba con nhìn và đi ra đường đi chơi cho vui. Sau đó, tôi thấy các cháu tôi đều làm ăn tấn tới cả.


Khánh Hội - Quận Tư Saigòn ngày 26.12.2016



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 19.5.2017.


trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004