Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (43)



Hoàng Thành Thăng Long và Văn Hiến







T heo các nhà nghiên cứu. Sự ra đời của Văn hiến Thăng Long có thể bắt đầu từ Chiếu dời đô. Từ ngày kinh đô Thăng Long ra đời (1010). Hàng ngàn năm lịch sử Bách Việt, đã chuẩn bị cho sự ra đời và phát triển của Văn hiến Thăng Long. Văn hiến Thăng Long là sự tiếp nối và nâng cao của những phẩm chất bất diệt của con người Việt. Đã được rèn đúc suốt bao nhiêu thế kỷ chiến đấu, để tồn tại và phát triển. Không thể hiểu được Văn hiến Thăng Long, nếu bỏ qua những giá trị vật chất và tinh thần mà Tổ Tiên Việt đã tạo dựng từ mấy ngàn năm trước, mà Trống Đồng là minh chứng hùng hồn.

Chiếu dời đô là văn bản được Ngô Sỹ Liên ghi lại sớm nhất trong Đại Việt sử ký toàn thư. Bài văn do vua Lý Thái Tổ ban hành vào mùa xuân năm 1010 để chuyển kinh đô của nước Đại Cồ Việt từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (Hà Nội). Chiếu dời đô khẳng định vai trò của kinh đô Thăng Long. Đó là bản lĩnh cao cường, là tư tưởng, là tầm nhìn thiên niên kỷ của đức vua Lý Thái Tổ. Là ngôn ngữ của vua Lý Thái Tổ, là tác phẩm khai sáng Văn học Thăng Long.

Vua nhà Minh tặng nước Đại Việt từ Văn Hiến

Theo tác giả Mặc Giao (website Cộng đồng Việt Nam Nam Florida):

Văn Hiến là một từ của người Trung Hoa, không có từ tương đương trong tiếng Việt, tiếng Anh hay tiếng Pháp. Câu "Duy ngã Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang" trong phần đầu bài Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, đã được Bùi Kỷ diễn nôm: "Như nước Việt ta từ trước vốn xưng văn hiến đã lâu". Đây là lần đầu tiên từ Văn Hiến được dùng trong sách Việt. Chính vua nhà Minh của Trung Hoa đã tặng hai chữ Văn Hiến đó cho ta.

Giáo sư Phạm Cao Dương, căn cứ vào sách Dư Địa Chí được chuyển dịch, cho biết Lý Tử Tấn trong phần thông luận của cuốn sách này, đã nói tới việc vua Trần Dụ Tông (1341-1269) sai Doãn Thuấn Thần sang sứ nhà Minh… Vua nhà Minh tặng cho bốn chữ "Văn Hiến Chi Bang" và thăng địa vị cho sứ thần Đại Việt, lên trên sứ thần Triều Tiên ba cấp. Như vậy, từ Văn Hiến là của vua nhà Minh tặng, không phải dân ta tự khoe.

Đức Khổng Tử nói tới Văn Hiến đầu tiên nhưng không giải thích. Tự điển Từ Hải, một pho tự điển rất giá trị của Trung Hoa, định nghĩa Văn Hiến. Văn là kinh điển sách vở. Hiến là người hiền tài nhưng phải có bằng chứng rõ ràng. Vậy Văn Hiến là trình độ văn hóa của một xã hội đã tiến tới chỗ có những tác phẩm thành văn (không phải truyền khẩu) và có những nhân vật lịch sử có thể kiểm chứng. Dựa vào lối giải thích này, học giả Đỗ Trọng Huề đã đưa một định nghiã mới: "Văn Hiến là trình độ văn hóa của một dân tộc đã thoát khỏi bóng tối của thời tiền sử để bước vào ánh sáng của thời kỳ lịch sử".

Hoàng thành Thăng Long hiển hiện Văn hiến

Những di tích trên mặt đất và khai quật được trong lòng đất tại Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long- Hà Nội là minh chứng về quá trình giao lưu văn hóa lâu dài, tiếp nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa, nhiều học thuyết, tư tưởng có giá trị toàn cầu của văn minh nhân loại. Đặc biệt Phật giáo, Nho giáo, thuyết phong thủy, mô hình vương thành phương Đông, mô hình kiến trúc quân sự phương Tây (thành Vauban), để tạo dựng nên những nét độc đáo, sáng tạo của một Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa riêng của một Quốc gia vùng châu thổ sông Hồng. Quá trình tạo dựng cảnh quan, quy hoạch các khu cung điện, nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật trang trí cung đình với diễn tiến Văn hóa đa dạng qua các thời kỳ lịch sử, đã hiện lên nền Văn hiến Thăng Long.

Hoàng Thành Thăng Long- Sách giáo khoa Lịch sử Mở

Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long- Hà Nội ghi dấu Văn hóa Bách Việt của người Việt ở châu thổ sông Hồng trong lịch sử liên tục 13 thế kỷ (từ thời tiền Thăng Long, sang thời Đinh- Tiền Lê, đến thời Thăng Long- Đông Kinh- Hà Nội với các vương triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn) tiếp nối đến ngày nay. Những tầng văn hóa khảo cổ, di tích kiến trúc và nghệ thuật của di sản phản ánh một chuỗi lịch sử nối tiếp nhau liên tục của các triều đại nước Việt Nam trên các mặt tư tưởng, chính trị, hành chính, luật pháp, kinh tế và văn hoá. Trên thế giới rất hiếm tìm thấy một di sản thể hiện được tính liên tục dài lâu như vậy của sự phát triển chính trị, văn hoá như tại khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long- Hà Nội.

Thăng Long thời Trần 61 phường nhộn nhịp

Kinh thành thời Trần, không có nhiều khác biệt thời Lý. Kế thừa thời Lý. Nhà Trần cũng chia Kinh thành làm 61 phường, gồm cả phường buôn bán, phường thợ và phường làm nông nghiệp. Bá quan văn võ, hoàng thân quốc thích cũng dựng phủ điện ở khu vực Kinh thành.

Hệ thống cung điện triều đình Trần tại khu Kinh thành có thay đổi. Năm 1237. Vua Trần Thái Tông cho dời điện Linh Quang về bến Đông Bộ Đầu, đổi tên điện Phong Thủy. Điện này đón tiếp nhà vua đến xem đua thuyền, cũng là nơi dâng trà, trầu cau cho vua. Dân gian gọi là điện Hô Trà. Bến Đông Bộ Đầu vừa là bến cảng của quân đội, vừa là nơi diễn tập thủy chiến, lại là nơi diễn ra các cuộc đua thuyền vào mùa thu hằng năm. Bến này được xây dựng thành cụm kiến trúc tráng lệ. Trạm Hoài Viễn của nhà Lý vẫn được nhà Trần tiếp dùng. Bên cạnh đó, nhà Trần cho xây dựng thêm sứ quán dành cho sứ giả phương Bắc ở khu Quán Sứ (nay vẫn gọi là Quán Sứ), xây hành cung của nhà vua ở khu vực Gia Lâm ngày nay.

Năm 1243. Vua Trần Thái Tông cho trùng tu Quốc Tử Giám. Năm 1253. Trần Thái Tông cho lập Viện Quốc học làm nơi nấu sử sôi kinh cho con em quý tộc và nho sĩ ưu tú của cả nước. Cho tô tượng Khổng Tử, Chu Công và vẽ hình 72 vị tiền bối của làng Nho để thờ tại Quốc Tử Giám. Các đình, đền, chùa, miếu thời Trần chủ yếu chỉ trùng tu lại các kiến trúc sẵn có từ thời Lý. Điều đó cho thấy, sang thời Trần, Nho giáo đã được triều đình trọng vọng hơn. Phật giáo tuy vẫn còn thịnh hành, nhưng không còn giữ được vị trí tối thượng như thời Lý.

Để đề cao tinh thần thượng võ. Năm 1253. Trần Thái Tông cho xây dựng Giảng Võ đường làm nơi luyện rèn võ nghệ. Các vương hầu, tôn thất đều phải trải qua quá trình rèn luyện võ nghệ ở đó.

Bên cạnh các công trình cung điện của triều đình, phủ đệ của bá quan văn võ và hoàng thân, quốc thích, Kinh thành Thăng Long nhộn nhịp các phường cư dân thành thị, chuyên buôn bán, làm nghề thủ công, tiểu thủ công nghiệp hay nông nghiệp. Lần đầu tiên, trong chính sử xuất hiện ghi chép về số lượng các phường ở Thăng Long. Cổ sử chép: “Bắt chước đời trước, chia làm 61 phường”. Có thể khẳng định việc chia Thăng Long làm 61 phường từ đời Lý.

Hệ thống lại ghi chép từ cổ sử, một số phường cổ thời nhà Trần như:

Phường An Hoa nằm bên bờ sông Cái (sông Hồng) là nơi hỏa táng linh cữu vua Lý Huệ Tông của nhà Lý. Sử chép rằng, dù nhà Trần đã thay nhà Lý trị vì thiên hạ, Lý Huệ Tông bị bức đi tu nhưng vẫn chưa dứt tục lụy, thường lân la dạo chơi ở các phường, chợ khiến dân chúng tụ tập xem mặt rất huyên náo. Mùa thu năm 1226. Trần Thủ Độ sợ có biến bèn ngầm sai giết Lý Huệ Tông, khoét một lối đi qua thành rồi đưa linh cữu Lý Huệ Tông đi hỏa táng tại phường An Hoa.

Phường Hạc Kiều là nơi đặt cung Phụ Thiên. Phụ Thiên là nơi ở của Trần Thừa, bố của Trần Thái Tông và được phong làm Thượng hoàng vào tháng 10 âm lịch năm 1226.

Phường Giang Khẩu là nơi giam giữ Hôn Đức Công Dương Nhật Lễ, kẻ mưu toan tiếm ngôi nhà Trần năm 1370.

Phường Cơ Xá là cảng và là nơi ở của cư dân vùng đất bãi. Năm 1265. Nước dâng cao làm ngập toàn bộ phường này, cư dân và súc vật bị chết chìm rất nhiều. Vì lẽ này mà vua Trần Thánh Tông ban bố lệnh đại xá, mong giảm tai ương.

Phủ Phụng Thiên có các phường: Tàng Kiếm chuyên nghề làm kiệu, áo giáp, binh khí. Phường Yên Thái chuyên làm giấy. Phường Thụy Chương và Nghi Tàm chuyên nghề dệt vải và dệt lụa. Phường Hà Tân của những người thợ nung vôi. Hàng Đào chuyên việc nhuộm điều. Tả Nhất làm quạt. Thịnh Quang chuyên nghề làm long nhãn. Phường Đồng Nhân bán áo diệp y…

Phường Nhai Tuân là nơi vua Trần dành làm nơi ở cho đoàn người nhà Tống lưu vong sang nước ta do bị quân Nguyên xâm chiếm. Lại tạo điều kiện cho họ làm ăn, buôn bán. Khi Hốt Tất Liệt đòi nhà Trần nộp những người này, vua Trần Thái Tông đã thẳng thắn bác bỏ.

Phía Bắc sông Tô Lịch là phường Toán Viên (vườn tỏi), là nơi vua Trần Dụ Tông sai người vỡ đất trồng tỏi và rau. Phường này ở gần Cửa Bắc, bên kia đường Phan Đình Phùng (nơi trước đây có sông Tô Lịch chảy qua).

Thăng Long thời Lê- Mạc thế kỷ XV đến XVIII

Sau khi chiến thắng giặc Minh, Lê Thái Tổ đóng đô ở Thăng Long nhưng đổi tên là Đông Kinh. Về cơ bản Đông Kinh thời Lê không khác nhiều Thăng Long đời Lý, Trần, Hồ. Lê Thái Tổ sửa chữa lại hoàng thành do cuộc chiến tranh chống quân Minh tàn phá.

Từ năm 1490 đến thế kỷ XVI. Kinh thành Thăng Long có nhiều thay đổi. Tường Hoàng thành, cũng như Đại La thành luôn được xây đắp, mở rộng. Năm 1490, để đề phòng những nạn loạn đảng như Lê Nghi Dân đang đêm trèo tường vào giết Lê Nhân Tông ở trong cung, Lê Thánh Tông cho xây lại Hoàng thành mở rộng thêm 8 dặm nữa. Công việc xây dựng trong tám tháng. Trong Hoàng Thành, Lê Thánh Tông cho xây thêm cung điện và lập vườn Thượng lâm để nuôi bách thú. Năm 1512. Lê Tương Dực giao Vũ Như Tô đứng ra trông nom việc dựng hơn 100 nóc cung điện nguy nga, lại khởi công làm Cửu Trùng Đài. Sử cũ miêu tả Cửu Trùng Đài tuy chưa hoàn thành, mà bóng rợp nửa hồ Tây. Năm 1514. Lê Tương Dực mở rộng Hoàng Thành thêm mấy nghìn trượng (mỗi trượng 3m60) bao bọc cả điện Tường Quang, Quán Trấn Vũ và chùa Kim Cổ Thiên Hoa.

Từ năm 1516 đến năm 1527. Nhà Mạc lật đổ nhà Lê. Kinh thành Đông Kinh chìm trong loạn lạc. Hầu hết các cung điện kho tàng đền, chùa, phường phố bị thiêu đốt, tàn phá nhiều lần. Trong nửa cuối thế kỷ XVI, cục diện Nam- Bắc triều với một bên là nhà Mạc và một bên là Lê- Trịnh diễn ra quyết liệt, ưu thế thuộc về phe Nam triều. Họ Trịnh lần lượt chiếm được nhiều tỉnh phía Bắc như Ninh Bình, Hà Nam, Bắc Ninh... và đánh đến tận Thăng Long. Nhà Mạc phải rời bỏ kinh thành chạy lánh nạn tứ tung. Đông Kinh ngày một điêu tàn.

Đến năm 1585. Không chịu nổi kiếp sống lưu vong trường kỳ loạn lạc, Mạc Mậu Hợp quyết định trở lại Đông Kinh. Một đợt xây dựng đại quy mô được khởi động.

Năm 1599. Chúa Trịnh Tùng đuổi được nhà Mạc lên Cao Bằng, tiến về tiếp quản Thăng Long. Hoàng Thành được tu sửa trong một tháng để đón vua Lê từ Thanh Hóa ra. Rồi từ ấy trở đi những cung điện mới xây ở đều nằm trong phủ Chúa Trịnh. Họa đồ kinh thành Đông Kinh thời Lê với sông Nhị chảy ở phía đông, tháp Báo Thiên ở giữa, vương phủ chúa Trịnh chếch ở phía Nam tháp, hồ Tây ở phía Bắc. Thành Đông Kinh gồm hai vòng lũy, nằm giữa hồ Tây và tháp Báo Thiên.

Từ kinh thành Thăng Long sang tỉnh Hà Nội

Bản đồ Hà Nội năm 1873 với khu vực Thành cổ ở sát Hồ Tây. Năm 1788. Lê Chiêu Thống hèn hạ, nhục nhã, cố bám ngôi vua, chạy sang cầu viện nhà Thanh. Tôn Sĩ Nghị đem đại quân 29 vạn lính, sang chiếm Thăng Long. Quân Tàu được Lê Chiêu Thống Cõng rắn cắn gà nhà, đổ vào, không tốn một hòn đạn, mũi tên. Dựa thế quân Thanh, Lê Chiêu Thống điên cuồng trả thù họ Trịnh. Phủ chúa bị Lê Chiêu Thống đốt trụi cháy ròng rã một tuần. Tất cả những gì liên quan đến chúa Trịnh ở Thăng Long bị phá sạch. Kinh thành lại một lần nữa ra tro.

Đầu năm 1789. Quang Trung Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ ba, đánh tan quân Thanh. Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc. Triều Hậu Lê kết thúc nhục hèn, đê tiện nhất trong lịch sử. Quang Trung định đô ở Phú Xuân. Thăng Long chỉ còn là Bắc thành.

Năm 1802. Sau khi tiêu diệt xong Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng Đế. Kinh đô đặt ở Phú Xuân. Thăng Long vẫn mang tên gọi Thăng Long nhưng chữ "Long" là Rồng, bị chuyển thành chữ "Long" nghĩa là thịnh vượng, ý rằng nhà vua không còn ở đấy. Những gì còn sót lại của Hoàng Thành sau những trận đại hủy diệt cuối thế kỉ XVIII cũng lần lượt bị các đời vua nhà Nguyễn chuyển nốt vào Phú Xuân, để xây dựng kinh thành mới. Chỉ duy có điện Kính Thiên và Hậu Lâu được giữ lại làm hành cung cho các vua Nguyễn, mỗi khi Ngự giá Bắc thành.

Năm 1805. Gia Long phá tường của Hoàng Thành cũ. Ông coi đây chỉ là Trấn Bắc thành, mà Hoàng Thành Thăng Long rộng lớn quá. Gia Long xây dựng thành mới theo kiểu Vauban của Pháp, nhỏ hơn thành cũ nhiều.

Năm 1831. Trong cuộc cải cách hành chính, Minh Mạng đã đổi tên Thăng Long thành tỉnh Hà Nội. Cái tên này tồn tại cho đến năm 1888, khi nhà Nguyễn chính thức nhượng hẳn Hà Nội cho Pháp. Người Pháp đổi Hà Nội là thành phố. Khi chiếm xong toàn Đông Dương. Pháp lại chọn Hà Nội là Thủ đô của Liên Bang Đông Dương, thuộc Pháp. Thành Hà Nội bị Pháp phá hoàn toàn để lấy đất làm công sở và trại lính Pháp, còn sót Cửa Bắc và Cột Cờ.

Triều Gia Long xây Cột cờ Hà Nội

Cột cờ Hà Nội được xây dựng năm 1812 dưới triều Gia Long cùng lúc xây thành Hà Nội theo kiểu Vauban. Cột cờ cao 60 m, gồm có chân đế, thân cột và vọng canh. Chân đế hình vuông chiếm một diện tích là 2007 m² và gồm ba cấp thóp dần lên. Mỗi cấp đều có tường hoa với hoa văn bao quanh. Từ mặt đất lên tới chân cấp thứ hai phải leo 18 bậc tại mặt phía Đông và mặt phía Tây. Muốn từ cấp 2 lên cấp 3 cũng phải leo 18 bậc ở hai cửa hướng Đông và Tây. Còn cấp thứ 3 có 4 cửa Đông, Tây, Nam, Bắc (với các tên Nghênh húc (Đón ánh nắng ban mai), Hồi quang (ánh nắng phản chiếu), Hướng Minh (hướng về ánh sáng) và từ cạnh dưới lên tới cạnh trên phải qua tới 14 bậc cầu thang.

Hoàng Thành Thăng Long- Sức mạnh Tâm linh Việt

Những giá trị của Hoàng thành Thăng Long thể hiện ở những di tích, di vật được phát lộ, tỏa hào quang dòng chảy Tâm linh Việt. Thần Long Đỗ linh thiêng, mạnh vô biên, vị thần Việt tộc của đất Thăng Long cổ, đã diệt Cao Biền trấn yểm. Ngài giúp Lý Công Uẩn xây dựng kinh đô Thăng Long. Lý Công Uẩn đã phong Thần Long Đỗ là Thăng Long Thành hoàng làng Đại vương. Lập đền thờ Thần Long Đỗ, nay là Đền Bạch Mã- Hàng Buồm- Hà Nội.  

Sách Việt Điện U Linh kể:       

Đời Đường Cao Biền sang chiếm nước ta, xưng Vương, đắp La Thành. Thành vừa đắp xong, bỗng nổi mưa to, gió lớn, mây ngũ sắc từ đất dâng lên. Biền nhìn thấy dị nhân mặc quần áo sặc sỡ nói: “Ta là Long Đỗ Vương Chính Khí Thần”. Biền sợ mất ăn, mất ngủ. Họp quần thần lập đàn, yểm bùa bằng nghìn cân sắt, đúc hình thần Long Đỗ. Bỗng trời Thăng Long tối sầm, mù mịt, gió giật đùng đùng. Tượng sắt nát vụn, tung lên không gian. Biền kinh hãi, sau đó phải về Bắc phương và chết vì trò yểm bùa.      

   Người đời thấy lạ, lập đền thờ Thần Long Đỗ ở phía Đông kinh thành. Lý Thái Tổ dời đô Hoa Lư ra Thăng Long, xây cung điện, mộng thấy Thần Long Đỗ chúc mừng: “Mong Thánh thượng trường thọ ức vạn năm”. Vua tỉnh dậy, sai tế lễ Thần Long Đỗ, phong Thăng Long Thành hoàng làng Đại vương.        

Đời Trần. Cửa Đông ba lần bị cháy, ngôi đền thờ thần Long Đỗ vẫn vẹn nguyên, lửa không dám bén tới.       

    Thái sư Trần Quang Khải để thơ tặng Thần Long Đỗ:

        Bản dịch thơ:

          Hiển hách từng nghe nức tiếng Đại vương
         Đến nay mới biết Quỷ Thần phải sợ
         Lửa cháy ba lần mà thiêu chẳng tới
         Sấm sét ran một trận chuyển không nghiêng
        Ra tay đàn áp các loài ma quỷ
        Hét lớn tan tành bách vạn binh
        Xin hãy ra tay trừ loài giặc Bắc
        Dựng xây thiên hạ mãi thanh bình.
   

  Thế kỷ XXI. Sức mạnh Tâm linh Việt hiển linh nơi đền Long Đỗ. Mỗi khi lòng người dân Hà Nội bồn chồn, không yên. Họ lại đến Đền Bạch Mã cầu nguyện Thần Long Đỗ.       

Thăng Long- Hà Nội- Thần Long Đỗ trừ tà

Sáng 13- 5- 2013. Tôi đến Đền Bạch Mã cầu Thần Long Đỗ. Qua Tháp Bút khấn Thần Siêu phù trợ. Đền Bạch Mã ở Hàng Buồm. Tôi loanh quanh vào phố Nguyễn Văn Siêu. Không thấy Đền Bạch Mã. Lại trở ra Hàng Buồm

Không hiểu sao mình bỗng lạc…

Hóa ra Thần Siêu dẫn tôi qua phố Nguyễn Văn Siêu. Rồi hai cha con vào Đền Bạch Mã. Cẩn cáo Chính Khí Thần Long Đỗ:

“Đền thờ Hùng Vương. Bị ma Cao Biền vẽ bùa trấn yểm. Cung đình Thần linh Thăng Long. Phái người đến. Thỉnh cầu Thần Long Đỗ diệt trừ”.

Hôm ấy, ngày thứ hai, Đền không mở. Đứng trước cửa Đền cầu vọng. Tôi ngửa cổ kêu cứu Thần Ngựa Bạch.

Nhìn thấy mây ngũ sắc. Thần Long Đỗ hiện lên. Cưỡi Rồng thiêng đỏ lửa. Tay cầm giản vàng. Bừng bừng trong mây khói.

Từ hôm ấy đến nay. Trời Hà Nội nhiều sự lạ. Mây hình Ngựa Bạch. Uốn tung bờm dữ dội. Trưa nắng nóng gắt gay. Hoa phượng bùng đỏ lửa. Ve sầu vang vang ngân.

Chiều bỗng giông gió nổi. Mây đen cuộn ầm ào. Khí ngùn ngụt bốc cao. Gió rung đường bụi cát. Ngỡ mưa mà không mưa.

Chiều chiều dạo Tháp Bút gặp Hiền Minh Tiên Tổ

Tôi nhìn mây ngũ sắc diệu huyền Hà Nội- Thăng Long Hồn thiêng sông núi chuyển động tinh cầu.

Tôi đứng giữa Bờ Hồ. Biết là Thần Long Đỗ.

Tuôn Chính khí diệt tà. Những chiều bỗng mưa to. Đi dưới mưa Thánh Thần. Hồ Gươm trào sức sống!

Trên cao Thần Long Đỗ hét vang.- Xá gì đâu, hòn đá lạ. Bôi mèo ma, vạch vạ ngoằn ngoèo. Xéo ngay đi, bẩn mắt ta. Sông núi nước Nam. Dân Nam ở. Mon men tới Thánh Thần không tha.

Mở mắt ra nhìn nước non này. Mấy nghìn năm dân diệt giặc Bắc phương. Tụ hồn thiêng ken dày từng tấc đất

Từng gốc cây, rừng, núi, biển, sông. Ức tỷ linh hồn quyện sóng lớn nhấp nhô. Sức mạnh tâm linh trùng điệp, điệp trùng. Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền,  Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Mạc Đĩnh Chi, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi, Quang Trung… Ức triệu anh hùng sóng hồn thiêng cực mạnh. Rải khắp năm châu, chấn động địa cầu.

Tất cả đang dàn quân, đội ngũ chỉnh tề. Cùng người dân Việt giữ sơn hà xã tắc!

Vũ khí nhiều, nước lớn. Không bằng mãnh lực Trời Đất- Tâm linh Việt. Mờ mắt chẳng nhận ra vũ trụ siêu hình. Thân xác phàm, sao trụ nổi trước Thần linh. Mấy nghìn năm đúc khí kết hình. Đuổi giặc trong, ngoài, hồi sinh Đại Việt. Lý Thái Tổ Thánh thượng trường thọ ức vạn năm. Cung đình Thần Linh Việt Tộc Đại thần tốc. Cùng cháu con giữ nước, giữ nhà.

Lý Thái Tổ Thánh thượng trường thọ ức vạn năm

Đây là lời ban tặng của Thần Long Đỗ cho đức vua anh minh Lý Công Uẩn. Trường thọ. Ngàn năm. Ức vạn năm. Thần Long Đỗ truyền năng lượng Tâm linh Tổ Tiên Việt. Vua Lý Thái Tổ Thánh thượng trường thọ ức vạn năm.

Thế kỷ XXI. Lý Công Uẩn hiển linh trên từng tấc đất Hà Thành. Chúng tôi luôn nghe được tiếng Người gọi con cháu giữ đất quê trong cuộc sinh tồn nghiệt ngã hôm nay.

Buổi học cùng sinh viên Thăng Long tại Hoàng Thành Thăng Long- Hà Nội 14h- 17h dưới mưa Xuân. Ngày 3- 3- 2011. Tôi nhận được thông tin đức vua Lý Công Uẩn giáng bút.

  Vua Lý Giáng Bút             

   Đất Quê con hãy trở về
Chồng cày vợ cấy đề huề bên nhau
       Học kỹ thuật, học làm giàu
Máy móc, khoa học, đầu tư nương vườn
       Thuỷ lợi dẫn nước bờ mương
Chế biến nông sản, lên đường xuất dương
       Còn hơn phát vãng chiến trường
Đồng tiền trả giá- máu xương chất chồng
       Đô- la giằng giật phường ma
Hỏng đời, mất nghĩa, mất ta, mất mình
       Kiếp người ngắn tựa sương sa
Bình yên thanh thản, ao nhà vẫn hơn
      Chồng đi ngả dấu xa xăm
Vợ con, bố mẹ tháng năm mỏi mòn
       Đất Quê ngoại quốc vào thăm
Dự án thảm lúa, trộn nhào bê- tông
      Còn đâu là ruộng với đồng
Còn đâu dân nước, non sông đẹp giàu
       Tự Do Tổ Quốc trông mong
Người Việt yêu Việt, không sùng ngoại bang
       Học nhân loại kiến thức vàng
Về Quê trồng cấy, xây làng Việt Nam.

     

(… Còn tiếp ...)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 09.5.2017.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004