Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




NGƯỜI DUY NHẤT CÓ CÔNG LỚN

TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN NGUYÊN

MÀ SUỐT ĐỜI KHÔNG ĐƯỢC PHONG THƯỞNG









N gười đó là Phó đô tướng quân Trần Khánh Dư, mà chiến công lớn nhất của ông là đánh chìm đoàn thuyền lương của tên cướp biển, Vạn Hộ Hầu Trương Văn Hổ trên vịnh biển Bái Tử Long hiện nay, góp công rất quan trọng vào chiến thắng Bạch Đằng, 1288. Có lẽ vì thế chăng, mà nhà sử học lớn Phan Huy Chú xếp Trần Khánh Dư ở hàng thứ tư, chỉ sau Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật và Phạm Ngũ Lão, đứng trên các tướng tài kiệt hiệt như Trần Quang Khải, Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản, Nguyễn Khoái, Trần Quốc Nghiễn, Trần Quốc Tảng...

Nhưng ông là người duy nhất không được phong thưởng năm 1289, và sau đó, suốt cả cuộc đời.


Trong một lần giao ban Ban cán sự Đảng UBND tỉnh Quảng Ninh mở rộng, bàn về Khu Văn hóa núi Bài Thơ, mà tôi được mời tham dự, vì tôi là người đầu tiên đưa ra ý tưởng này, từ năm 1990, sau 2 năm đề xuất Ngày thơ Quảng Ninh, lúc đó, có người còn gọi là “Ngày thơ Lê Thánh Tông”, vào ngày 29/ 3 hằng năm, nhân 520 năm bài thơ của vua Lê Thánh Tông khắc vào vách đá núi Truyền Đăng ( 1468 – 1988). Do sự kiện văn hóa này mà nhân dân đã đổi tên núi Truyền Đăng thành núi Bài Thơ. Tôi cũng là người luôn nhắc lại ý tưởng đề xuất đó khi gặp đồng chí Bí thư hoặc chủ tịch UBND tỉnh và rất mừng thấy quyết tâm rất cao của các đồng chí lãnh đạo tỉnh và TP Hạ Long nhiều thời kì về việc này (1), để công trình được khởi công thời đồng chí Vũ Đức Đam và hoàn thành ở thời đồng chí Phạm Minh Chính, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh, với sự đóng góp rất lớn của nhiều nhà doanh nghiệp.

Trong cuộc giao ban đó, một vị lãnh đạo thuyết trình, ghi trong văn bản để lập bài vị thờ Trần Khánh Dư cùng các võ tướng tại Điện thờ đặt ở bên cạnh tượng vua Lê Thánh Tông, thần chủ của Điện thờ tại Khu Văn hóa núi Bài Thơ: “Trần Khánh Dư là Phó tướng của Trần Hưng Đạo”. Tôi thưa ngay là không. Trần Khánh Dư chỉ là Phó đô tướng quân và chức vụ đó, Trần Khánh Dư giữ từ năm 1282 cho đến lúc qua đời, năm 1339. Và như thế, Trần Khánh Dư đứng dưới Trần Hưng Đạo đến 4 cấp: sau Đô nguyên soái, Phó đô nguyên soái và Đô tướng quân.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần 2 và lần 3, rõ nhất là lần 3, bố phòng của quân đội nhà Trần, có thể hình dung được như sau (như một tài liệu tôi đã đọc): Phía Nam, giao cho Trần Quang Khải, sử gia giặc gọi là Thái soái, đóng đại bản doanh ở Thanh Hóa. Phía Tây Bắc giao cho Trần Nhật Duật, đóng đại bản doanh ở Yên Bái. ( Điều rất đáng chú ý là Quân khu 2 của ta hiện nay, bảo vệ thủ đô Hà Nội cũng đóng đại bản doanh ở Yên Bái). Phía Đông Bắc, bao gồm cả trên biển và trên bộ, nhất là vùng biên thùy ( theo Đại Việt sử kí toàn thư - ĐVSKTT - như đã dẫn ở phần trên), giao cho Trần Khánh Dư, đóng đại bản doanh ở Vân Đồn, vì thế mà các sử gia gọi Trần Khánh Dư là Vân Đồn phó tướng, chứ tên chức của ông là Phó đô tướng quân. Còn mặt trận trung tâm, đối đầu với đạo quân mạnh nhất là kị binh giặc Nguyên Mông thường đánh thẳng từ Lạng Sơn vào kinh thành Thăng Long, Trần Hưng Đạo tự đảm nhận, cùng anh trai là Trần Tung, con rể là Phạm Ngũ Lão ( đóng quân phòng thủ ở phía Nam ải Chi Lăng. Ngũ Lão lấy con gái nuôi, còn 2 con gái đẻ đều lấy vua Trần Nhân Tông) và 4 con trai: Trần Quốc Nghiễn, Trần Quốc Hiện, Trần Quốc Tảng, Trần Quốc Uất, đóng đại bản doanh ở Vạn Kiếp và các vùng lân cận thuộc Hải Dương, Bắc Ninh và Bắc Giang hiện nay ( không có tài liệu lịch sử nào ghi là ở Quảng Ninh hiện nay). Như vậy, ta có thể suy ra, cương vị của Trần Khánh Dư tương đương như các Đô nguyên soái, dưới Trần Hưng Đạo 1 cấp, nhưng chức vẫn chỉ là Phó đô tướng quân, dưới Trần Hưng Đạo 4 cấp và giữ nguyên như thế cho đến lúc qua đời, năm 1339.

Việc Trần Khánh Dư không được phong thưởng và lí do vì sao, ngày nay chúng ta chỉ suy ra từ các chuỗi sự kiện trong đời ông, chứ lịch sử chính thức không ghi một dòng nào giải thích cụ thể về việc đó.

ĐVSKTT ghi hai việc như sau:

Một, Trần Khánh Dư thông dâm với công chúa Thiên Thụy, chị ruột vua Trần Nhân Tông, vợ Trần Quốc Nghiễn, con dâu trưởng Trần Hưng Đạo, phải nhận án “đánh chết”. Vua “tiếc tài làm tướng” của Trần Khánh Dư, nên bảo đội thi hành án: “ chớ đánh đau quá để không đến nỗi chết”. “Rồi xuống chiếu, cách hết quan tước, tịch thu sản nghiệp, không để lại cho một tí gì”. Đến khi vua họp vương hầu ở Bình Than, Khánh Dư được vua “ xuống chiếu tha tội “. “ Vua ban cho áo ngự, vị thứ ngồi ở dưới các vương, trên các công hầu”.

Hai, khi làm Vân Đồn phó tướng, quân Nguyên “chia đường vào cướp” nước ta. Trên tuyến đường biển, “ Khánh Dư đánh nhau với giặc bị thua. Thượng hoàng nghe tin, sai trung sứ xiềng Khánh Dư đem về kinh đô. Khánh Dư bảo với trung sứ rằng: “Lấy quân luật mà xử, tôi xin chịu tội, nhưng xin hoãn cho vài ba ngày, để tôi lập công chuộc tội, rồi sẽ chịu búa rìu cũng chưa muộn” ”. Vì thế, khi Khánh Dư thắng giặc, như đã nói trên, “Thượng hoàng tha tội trước, không hỏi đến”.

Có lẽ lí do không phong thưởng là như vậy chăng?.


Còn hai việc khác, ngày nay chúng ta có thể thông cảm được với Trần Khánh Dư :

Một, khi Trần Khánh Dư bị dân kiện về tội “ tham lam, thô bỉ”, Trần Khánh Dư về kinh thành chầu vua, nhân đó tâu: “ Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ”. Vua rất không hài lòng, Khánh Dư phải về ngay, e ở lại sẽ bị quở phạt. Tôi nghĩ là Trần Khánh Dư đã nói đúng mối quan hệ giữa người cai trị và người bị trị của mọi thời đại ở mọi quốc gia. Ai cũng nhận ra thế, chỉ có Khánh Dư mới dám nói trước mặt vua mà thôi.

Hai, “để ngăn phòng giặc Hồ, không thể đội nón phương Bắc”, Trần Khánh Dư “sai người nhà mua nón Ma Lôi từ trước” rồi lúc đó bán, dân “tranh nhau mua”, giá tăng cao dần, thu được nhiều tiền và “hàng ngàn tấm vải”, ĐVSKTT ghi là “ tham lam, thô bỉ”, đến nỗi: “Vân Đồn gà chó thảy đều kinh”. Tôi nghĩ khác, có lẽ Trần Khánh Dư là người đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, ý thức được cái mà ngày nay ta gọi là kinh tế thị trường. Còn việc phân biệt người Việt với người Hồ ( người phương Bắc – Trung Quốc) bằng việc đội nón khác nhau, tôi nghĩ cũng là cần thiết chứ sao. Tất nhiên, để “quản lí hộ khẩu” cái nón không giải quyết được vấn đề.


Còn hai điều nữa, tôi không hiểu sao, ít thấy ai nói tới:

Một, theo sách Di tích lịch sử Vân Đồn, Nxb khoa học xã hội,

2010, thì Trần Khánh Dư là người đầu tiên thành lập binh chủng Hải quân Việt Nam, thời gian khoảng từ sau 1282 đến trước 1287 và Trần Khánh Dư đặt tên là Bình Hải quân, biên chế có 30 đô, mỗi đô ở trong 1 thuyền, mỗi thuyền có 80 lính, trong đó có 50 lính chiến và 30 lính chèo thuyền ( gọi là trạo binh). Từ đó suy ra, hải quân nhà Trần do Trần Khánh Dư thành lập và chỉ huy, có khoảng 2 400 lính, trong đó có 1 500 lính chiến, dĩ nhiên không kể lính thủy đóng quân trên các sông trong đất liền. Và như thế, người sáng lập Hải quân Việt Nam là tướng Trần Khánh Dư, từ thời Trần.

Hai, căn cứ vào bài thơ Dưỡng Chân Bình Thôn tử Nhân Huệ Vương trang của vua Trần Minh Tông ( 1300- 1357) chép trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn, thì Trần Khánh Dư sống tuổi già ở trang Vân Đồn, nay là xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh và vua Trần Minh Tông đã đến tận đây thăm ông. Trong bài thơ có 3 câu rất rõ bản sắc vùng biển đảo Quan Lạn – Vân Đồn:

Hải giác dư đồ qui chính hóa

Thiên nhai nhân vật lạc ngư tiều

Khê thanh tịch tịch triều lai thiểu… ”

( Miền góc biển trên bản đồ, đã theo giáo hóa của triều đình

Nhân, vật ở chân trời, vui với việc câu cá, hái củi

Tiếng suối chảy lặng lẽ, nước triều ít dâng lên…)


Và hai câu kết cũng rất rõ những nỗi niểm riêng trong cuộc đời Trần Khánh Dư, được nhà vua thấu hiểu và cảm thông, không lẫn với ai được :

Long chuẩn hà tằng đồng điểu huệ

Biến chu hưu phiếm Ngũ Hồ dao”…

( Nghĩa là: Ta có mũi rồng, không có cái mũi mỏ quạ như Câu Tiễn, nên ông không phải bỏ ta mà đi ngao du Ngũ Hồ như Phạm Lãi khi xưa…)

Như vậy, có thể khẳng định được rằng:

A - Trần Khánh Dư về hưu, sống tuổi già tại trang Vân Đồn, nay là xã đảo Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.

B - Bài thơ này của vua Trần viết về vùng biển đảo Quan Lạn – Vân Đồn trước năm 1339 – năm Trần Khánh Dư mất - là bài thơ đầu tiên trong lịch sử thi ca Việt Nam viết về biển đảo Việt Nam. (2)


Trần Khánh Dư mất năm 1339, không rõ ông mất ở đâu và mai táng ông ở đâu. Đối với các vị tướng đã tham gia các cuộc chiến tranh oanh liệt, tiêu diệt nhiều kẻ thù, như Trần Quốc Tuấn, Trần Khánh Dư… việc chôn cất các vị ở đâu, cũng là một trong những bí mật quốc gia.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 09.5.2017.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004