Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Biểm Đêm
tranh của Võ Công Liêm




RENÉ DESCARTES THAM LUẬN

DỰA TRÊN PHƯƠNG THỨC và TĨNH LỰ








    T ừ lâu; mỗi khi nói đến triết học thường đem Descartes ra làm ‘bằng chứng yêu em’ qua câu nói nổi tiếng: “Tôi tư duy; cho nên chi tôi hiện hữu / I think; therefore I am / cogito ergo sum” cái chứng tỏ đó là đầu môi, trước lưỡi cho hợp thời thượng chớ chưa đào sâu nguồn cơn tự sự do đâu Descartes phát biểu như thế; đó là vấn đề nguy hiểm cho những ai quen miệng nói về triết học mà một số ít chuyên về triết học cũng như học về triết đều chưa đả thông rốt ráo tư tưởng vĩ đại mà ông để lại hoặc có chăng do từ một định nghĩa khác biệt hoặc dưới lăng kính chủ quan mà nhìn sai đi tính chất trung thực của nó. Thành ra đi vào triết học là cả một tư duy hiện hữu để nhận định chớ không phải khơi khơi nói: thầy dạy triết cho nên thầy là triết gia. Đánh giá như thế hoàn toàn sai lầm thuộc lãnh vực triết học; một hiện hữu thoái hóa khác tư duy của Descartes, bởi; tư duy là dạng thức thuộc trí tuệ khai mở những gì sáng giá và siêu việt tính.

Dù cho tham vọng lớn lao của Descartes để được như Aristotle về những gì thuộc thế giới hiện đại mà đã từ lâu ông chưa thực hiện hoặc ấp ủ như một hoài vọng; vấn đề thuộc triết học mà Descartes đã đầu tư vào đó là một cực kỳ khát vọng để bàn luận –still burning issues, và; cũng là tinh anh chất chứa vào đó mà Descartes đã theo đuổi; đó là sự cớ mà ông ra sức mở rộng cánh cửa để khai phá về khoa học hiện đại. Tham luân ‘The Discourse’(1637) là bài bình luận nổi tiếng về Phương thức / Method; bởi những gì gọi là mưu sự / attempted mà chưa hẳn đã thành tựu để đặc vào đó như một áp dụng cụ thể cho một phương thức thuộc toán học –có như vậy mới tìm thấy một cách xác thực trong toán học -tất cả lãnh vực đó là yêu cầu cần thiết của con người- Khởi từ khi sự nghi ngờ lan rộng mà nay đã vượt qua, một khả thi theo sau đó cho một câu nói trứ danh cogito ergo sum là một xác định cụ thể sự hiện hữu của Thượng đế và thẩm tra sự hiện thực về cấu tạo thiên nhiên, nghĩa là tạo dựng vũ trụ (created nature). Descartes đặc vào đó ý tưởng của ông với những gì có tính chất triết học mà Descartes muốn giới thiệu với thế gian như một thứ triết lý có thể coi là phạm trù thuộc văn chương thẩm mỹ; một hành trình lâu dài để đi tới khám phá mới cho những thử thách đối đầu trước những tham luận đưa ra mà việc làm này không phải là người chuyên về lý luận hoặc những mặc khách rởm nhưng ở đây nói lên một thứ văn hóa tổng thể. Tựu chung nó chứa đựng những gì chính yếu về triết học. Nhận định được yếu tố đó tức nhận rõ con đường mà Descartes đề ra cho tham luận về phương thức và tĩnh lự -Discourse On Method And the Meditations-. Triết học của Descartes là đỉnh cao đưa tới sự uyên thâm học vụ trong những sắp xếp hay pha lẫn vào nhau, mà đó chỉ dành cho phân loại giữa triết học và văn chương trong cùng một thể với những gì là nhất thiết và thực sự chính xác của triết học kinh điển. –Descartes’philosophy was superior to the scholastic in so far that it not only dispensed with the probabilities and verisimilitudes of scholasticism mà thay thế vào những luận cứ như thể giới thiệu định mức cái sự xác thực như chứng cớ thuộc toán học, nhưng; cũng đưa dẫn đến những gì chính đáng cho một kết thúc. Sự cớ đó đã được Descartes trả lời trong lần tái bản thứ hai về Tham luận. Sau lần xuất bản cuối về ‘Yếu tính của Triết học /Principles of Philosophy’ và ‘Nỗi đau của Linh hồn / The Passions of the Soul’ tất cả đã được khởi sự lại cho phần đầu siêu hình của tĩnh lự /meditations; một chứa đựng cho việc giải thích cụ thể qua một cấu trúc thuộc vũ trụ giới và cái gì liên can giữa xác và hồn là những gì mà Descartes mạnh dạng buộc vào đó như lý chính đáng, trạng huống của những gì đắn đo nghĩ tới đúng vai trò chức năng của triết học để đưa đến hệ thống hóa của chính ông. Những gì thuộc siêu hình học và khoa học của ông là cả một công trình sáng tác vào trong tác phẩm mà ông đã viết như một chứng từ hùng hồn. Descartes không bao giờ hoài nghi và cũng không bao giờ đứng lại trước vấn đề để phải bận tâm ở chính ông với những gì đã nêu ra. Suy tư là một cân nhắc, đắn đo để có một tư duy đích thực, có nghĩa rằng không có dự đoán hay ngẫu hứng mà khó ở chỗ là gieo vào đó nguồn luân lý đạo đức để đả thông tư tưởng. Ấy là vấn đề chủ thể để xác định một cách đặc biệt hơn cho lý thuyết.The Discourse on Method một trong những văn bản nổi tiếng của Descartes thuộc ngữ ngôn Pháp, giới thiệu một vài điều của cái gọi là nghịch lý. Ngay cả người suy luận khó tính đều phải thừa nhận và nhận biết về nguyên bản chính xác ở nơi ông mà ở đó chứa một sự khó hìểu hiếm có; một dữ kiện tàn ẩn và một sự biếm họa cho một kết cấu thuộc luân lý đạo đức: Phần đầu là lời mở cho một khái luận khoa học hàm chứa tính cách tiểu sử. Phần hai nói về sự khám phá mới thuộc phương thức luân lý mà thay vào đó những chương luận về đạo đức hoặc những dạng thức thuộc siêu hình học. Do đó tư duy của Descartes là một xác định hiện hữu; sự hiện diện của mình trên bình điạ văn hóa và khoa học chớ không phải hiện hữu với đời cho một dấn thân khác. Định được vị trí đó tất định được vị trí của mình trong lãnh vực văn hóa, khoa học và xã hội. Cho nên chi ‘tôi suy tư’ là cái tôi chủ thể, xác định cái riêng mình. Để rồi ‘cho nên chi tôi hiện hữu’ cái sự đó là biểu lộ một nội tại sống động đang hiện diện với đời để loại bỏ cái tôi sở hữu chủ!

Lời nói như thế là hàm chứa súc tích cho một bản ngã tự tại, cho một suy tư đúng đắng và minh bạch không có sự nhầm lẫn cho một định nghĩa nào khác hơn. Đó là lý luận cụ thể hơn là lý tài để minh định. Từ chỗ đó đưa ta về cái lý nguyên nhiên của nó, cái lý chính thống (orthodox) là ngọn nguồn phát sinh ý tứ cho một tham luận dựa trên phương thức và một lối viết khác –Discourse on Method and Other Writings. Thành ra phát ngôn là cả một suy tư để thành văn chớ đừng nhầm văn là tiếng nói đích thực; nếu đặc nó vào lý tính như thế tất không còn nhận thức được ‘cái tôi chủ hữu’ và ‘cái tôi sở hữu chủ’. Tai họa đó đưa đến cái sự quen miệng mà không thấy được những dặm trường đã đi qua để rồi rơi vào vũng tối…

Vậy thì Tham luận / The Discourse là gì? -Là giới thiệu đặc tính khác nhau giữa chính thống và những gì trái với chính thống (herterodox) để đi tới một văn bản chính đáng, vì; khác nhau thuộc lịch sử và lý do khác thuộc về tâm lý học, và; hẳn nhiên là có cái khác nữa mà không ít lý do quan trọng dành cho hiện tượng xẩy ra ở đây –The Discourse then presents a heterogeneous character, for various historical and psychological reasons, and yet; there is another and not less important reason for this phenomenon. Descartes đã sáng tỏ ý tưởng này qua vai trò khách thể mà ông đã cố gắng đạt cho kỳ được: đó là thứ văn hóa phổ thông đại chúng. Những con đàn bà của ‘lầu xanh’ còn tốt hơn những nhà mô phạm ‘dzỗm’ của đại học đường. (the ladies of the ‘salons’rather than the pedants of the University) (Descartes). Nói cách khác; cái gì chung chính là cái kết quả phi thường. Ý Descartes cho rằng tập thể quần chúng là một quyết định tối hậu, đảo chính cái tôi sở hữu chủ mà chỉ còn lại cái tôi chủ thể mới là chính thống, còn những gì thuộc ‘xa-lôn’, phòng trà đều là thứ cục bộ mà ở đó chỉ xác minh sự chú ý đặc biệt để rồi đi tới sự đồng ý với nhau mà thôi. Ở tư thế đó gọi nôm na là cái tôi tha hóa, một guồng máy tư tưởng bại hoại; một thứ mạ vàng và hương thơm để chiến thắng trên tư duy trí tuệ bằng một cái gì hấp dẫn qua cảm thức của con người. Ở điểm này cho ta một chú ý khác nơi Descartes là người có một sự khâm phục lớn lao của những nhà tư tưởng khác; với ý thức xếp đặc vào đó như mô phỏng hay ẩn ý trong những thí dụ mà ông đưa ra. Descartes đã thành tựu trong những chức năng quan trọng, ông đã làm tròn vai trò lý luận trên phương hướng triết học cho một định nghĩa cụ thể sự hiện diện của con người giữa hành tinh này; đáp ứng đúng nhu cầu đòi hỏi là yếu tính đem lại những gì lợi ích của con người trong cái việc tương quan mà sự lý là hiện hữu tồn lưu giữa cá thể và thế giới bên ngoài. Đấy là điều đã nói trong phương thức của ông, một phương thức quan trọng, một phương tiện dành cho hành động để đạt mục đích;đấy là cứu cánh tham luận.

Tư tưởng của Descartes có một khuynh hướng ngả về sự lâu dài; đó là những gì thông thường cho cuộc đời, cho từng cá thể và một tập thể tốt đẹp đó là điều hiển nhiên rõ ràng mà ông nêu lên những lý do chính đáng như thử giới thiệu vào phương thức của ông và tạo nên đối tác của những gì hiện thực cụ thể. Từ những luận cứ đó đưa tới cái nhìn trong sáng là mục đích về quan điểm (point of view) đấy là phương thức khai mở trước để làm dịu những gì có tính chất phổ biến trong hệ thống của chủ thuyết (Cartesian) bằng sự nhấn mạnh vào nguồn gốc cá thể của nó và vai trò chức năng; Descartes đưa ra một dự phóng cần thiết –By emphasizing its personal origins and character; Descartes is taking a necessary precaution. Ông giới thiệu ở đây một lộ trình thuộc tinh thần của một cuộc phiêu lưu mà trong lúc những gì xẩy ra hằng loạt và tiếp diễn gây chướng ngại, chống cứ những gì ông nói đến; ông cố vượt qua để đương đầu trước hoàn cảnh mãi cho tới khi giành được thắng lợi. Thắng lợi đó không cho Descartes mà cho nhân loại.

Yếu tố cần thiết của cái gọi là chủ thuyết ‘Cartesianism’ đều chứa đựng trong những chương 1, 2, 4 và 5.

Mỗi một chương cô đọng một nghị lực mạnh mẻ để tấn công vào cơ bản giáo dục trên phương hướng của những cộng đồng nhân loại và đặc biệt vào những học giả chuyên về triết học của Aristotle; theo ý Descartes đưa tới những gì có lợi nghĩa là dành cho mọi thứ mà con người cần đến là những gì sống như thực (of verisimilitudes) kể từ khi khoa học đã mượn những yếu tính có từ triết học để xử sự như giới thiệu cho một căn bản của sự thật. Mà thực; nhờ những tham luận đó mà khoa học xã hội, khoa học nhân văn đã cải tổ được đôi điều để hoán chuyển vào đời sống một cách thiết thực hơn. Descartes ra công tìm kiếm cho đạt nguyện vọng và giữa tất cả vấn đề mà ông đã đề xuất: luân lý, đạo đức, lịch sử, y dược, triết học. Ngoài ra; chỉ có trong hai điều mà ông đặc vấn đề một cách chắc chắn: thần học và toán học. Dẫu là gì sự thật của tôn giáo là tiết lộ về sự thật, đôi khi không đến gần trong nhận thức chúng ta, tuy nhiên chỉ có sự thật của toán học là phân định cụ thể trắng đen, một xác định đúng hay sai mà thôi, điều đó là chứng minh rõ nét trong những gì thuộc nghệ thuật cơ khí (the mechanical arts) mà cơ hồ như một phục vụ cần thiết đối với con người ngày nay. Tư duy của Descartes là một hiện thực cho một hiện hữu có thực; đấy là ngữ ngôn khi phát biểu: ‘Tôi tư duy cho nên chi tôi hiện hữu’ là thế đấy! Mặc khác; Descartes đã loại ra cái hợp thức hóa về những gì chứng tỏ do từ cảm thức: chúng ta không thể cho mọi vật thể là tư hữu cho bản thể của nó, ở đây chúng ta không sáng tỏ vấn đề và chỉ rõ sự riêng biệt về ý tưởng mà tất cả chỉ có thể sáng tỏ những gì thuộc về toán học mà thôi. Đấy là vấn đề đặc ra ở chương 4; cung cấp bằng một cố gắng ở mỗi vấn đề và trả lời từng phân đoạn luận. Cảm thức nơi chúng ta thường là sự nhầm lẫn đến với ta –Our senses often deceive us; chúng ta thường vấp phải trong lý lẽ cho dù dựa trên vấn đề hết sức đơn giản của hình học –we often make mistakes in reasoning even on the simplest matters of geometry. Đứng trên lãnh điạ của Descartes; trong một thoáng chốc nào đó đôi khi tất cả vấn đề hiện ra gần gũi, nhưng mang lại một kịch tính cho đề xuất của ông: ‘I think therefore I am / cogito ergo sum’. Đó là nguồn cơn tự sự lớn lao nhất của Descartes khi nhận định trước vấn đề ngay cả những khi đối chất hoặc tranh luận với những thức giả, và; chính sự lý đó đủ khả năng cho ông tránh đi những kết thúc giữa Montaigne và Sceptics mà thay vào đó một ý thức chủ thể của nghi ngờ. Chính vì nghi ngờ là ‘tư duy / thinking’ và ‘cho nên chi / therefore’ là xích mắc, liên đới đến hiện hữu tồn lưu của ông / his existence. Descartes không thể tri giác mà cho rằng ông tư duy là không chắc hiện hữu ở bên ông. Vậy thì ‘Tôi hiện hữu / I am’ là cái điều không thể tránh được mà chắc chắn xẩy ra cùng lúc về điều ‘tôi nghĩ / I think’. Như vậy; những gì mà Descartes nói ra là công thức vấn đề như một suy xét của hiện hữu tồn lưu: Tôi hiện hữu như một suy tư hiện thể / I exist as a thinking being. Nhận định rõ ràng như thế thì không đem lòng hoài nghi mà chất vấn; hiện thực cuộc đời là hiện hữu: cho cái sự tồn lưu, tồn lại, tồn lần để rồi đi vào miên viễn hiện sinh. Đã gọi là hiện sinh thì sự tồn-tồn đánh ngả cái tồn loạt, tồn lùi, tồn lủi, tồn lui… nghĩ được thế; tức thị không hay tức thị sắc đều gọi là : ‘Tôi tư duy cho nên chi tôi hiện hữu’. Descartes thấm nhuần chân lý làm người trước một hiện hữu sống thực có từ những tham luận, phương pháp và tĩnh lự đã được nêu ra.

Descartes xử dụng từ ‘Cogito’ là thể thức chính yếu và từ chỗ đó chúng ta suy ra tất cả đều theo sau đó –The Cogito is a first principle from which Descartes will now deduce all that follows. Descartes đã sáng tỏ điều này và dễ dàng nhận thấy được về sự khác biệt và phẩm chất của nó, của những gì là hiện hữu tồn lưu, tuy nhiên; ông vẫn tin rằng bất luận điều gì khác hơn ông đã nghĩ tới như một ý niệm nhận biết sáng tỏ và phân chia riêng biệt đều dưới dạng thức của sự thật.. Thế nhưng; Descartes tự biết ở chính mình như một tư duy hiện hữu, ông quả quyết rằng linh hồn và thể xác là hoàn toàn khác biệt. Từ khi ông có thể nhận thức ra được nghĩa lý của nó là hiện hữu riêng ông và tính chất riêng biệt của nó, không hẳn biết một vài điều về vũ trụ bên ngoài của ông mà đi theo đó với một tinh thần mới hơn cho một độc lập trọn vẹn về thế giới ở cõi ngoài, trí tuệ là một khác biệt cho một đỉnh cao của vấn đề. Descartes nhận thức sự hiểu biết như một tri ngộ giữa trực giác và tri giác một cách hoàn hảo hơn là nghi ngờ.Nhưng; tư duy của Descartes vẫn duy trì giá trị tuyệt đối: thượng đế, con người và lý luận. Dựa và cơ sở này Descartes quá lý tưởng và quá hoàn hảo giữa hữu thể và tha thể, cả hai đối tượng này đã bắt gặp một vài chương ở tham luận và phương pháp, cả hai qui về một cái gì mà ông tin vào ‘cõi ngoài’ như một hữu thể sáng tạo như-nhiên.

Cuối cùng; qua câu nói lừng danh nó có tính chất hiện hữu của siêu hình, là điều không tránh khỏi mà hầu như là điều quan trọng –Lastly; the famous ontological proof, the most important. Tổng thể hoàn hảo là tổng thể thu tóm có tất cả những gì toàn hảo. Thượng đế là một hiện hữu toàn hảo, nhưng phải nhận biết sự cần thiết để tồn lưu nơi nhân thế từ khi có hiện hữu hoàn hảo của con người. Hình ảnh cho Thượng đế không hiện hữu ở thế gian như là một sự ngu xuẩn cho hình ảnh ‘tam thiên/ triangle’ của ba-thiên-thần là hiện hữu. Mà đó chỉ là ảo ảnh /to imagine tạo nên thiêng liêng. Hầu như đây là một lý giải chưa phân định thực hư nơi con người. Descartes muốn lấy cái tuyệt hảo để chứng minh cho hiện hữu. Câu nói đó chỉ áp dụng trong triết học như một xác quyết minh định giữa trí tuệ và con người hơn là lý thuyết trên cơ sở tôn giáo cho một hiện hữu tuyệt đối. Dẫu cho Thượng đế có thực chăng nữa điều đó coi như hiện hữu đối kháng giữa thượng đế và con người. Câu nói: ‘tôi suy tư cho nên chi tôi hiện hữu’ có thực đó là hiện hữu tồn lưu? Hiện hữu tồn lưu phải chăng là một tham luận và phương pháp ‘Cartesianism’ mà thôi, chớ chưa phải là một tuyệt đối hoàn hảo mà chỉ là hiện hữu qua triết thuyết. Nhưng; đó là một xác quyết cái tôi hiện hữu, xác quyết sự dấn thân trước vũ trụ loài người, một bản ngã tự tại đánh ngả cái bản ngã cố hữu nghĩa là không còn độc hữu, độc diễn , độc tài, độc tôn giữa vũ trụ loài người. Ấy là: tôi hiện hữu với đời.

Dù cho hôm nay chúng ta có một cảm thức đặc biệt để chống lại tư tưởng của Aristotelian qua khiá cạnh của lý thuyết của Cartesianism; tư tưởng đương đại của Descartes có từ ý nghĩ của người khác. Trong lúc đó có một số khác thừa nhận một cách máy móc như Roberval, Pascal, Gassendi mà ngay giữa lúc đó có những tham luận sáng giá khác của Lenoble thì lại quên hẳn; thời tất cảm thức đó có tương quan lẫn nhau trong đó; chẳng hạn giữa sự thành quả của Descartes về khoa học, toán học là khơi nguồn từ Aristotle.

Mặc khác; những gì Descartes đã dựng nên là nhận từ ý niệm tâm lý của Aristotle như một chứng minh khoa học dựa trên những yếu tính toán học làm nồng cốt và đồng thời thay thế vào đó để thực hiện tham luận và phương pháp cũng như phép tĩnh lự. Thực ra; đó là tham vọng lớn lao của Descartes; là những gì mà Aristotle để lại cho thế hệ hiện đại mà chưa bao giờ thực hiện được,vì; Aristotle đến quá trễ – that of being the Aristotle of the modern age, was then never realized. Nhưng đứng trên phương diện thuộc vấn đề triết học là những gì vẫn còn xử sự đối với chúng ta và tinh thần trong những gì mà Descartes đã theo đuổi thuộc khiá cạnh khoa học của ông vẫn còn truy lùng qua thể thức thuộc tư tưởng khoa học hiện đại.

Nếu hệ thống tư tưởng của Descartes suy đồi và chủ thuyết Cartesianism (tham luận về phương pháp và tĩnh lự) một là sinh sôi hai là cam chịu theo vận thế hoặc qua tư duy hiện hữu của con người thực hiện ./.


(ca.ab.yyc. 3/2017)


SÁCH ĐỌC: “Discourse on Method and The Meditation” by René Descartes. Penguin Books. London, England 1968.


* René Descartes (1596-1650) Sanh ở Pháp và chết ở Thụy Điển. Hiến dâng đời vào khoa học và triết học.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Calgary Canada ngày 29.4.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004