Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





42 Năm Thống Nhất Đất Nước Việt Nam


50 năm bài phát biểu của M.L.King phản đối chiến tranh Việt Nam









C ách đây 50 năm, nhà hoạt động dân quyền nổi tiếng Mục Sư (MS.) người Mỹ gốc Phi, Martin Luther King, đã có bài phát biểu phản đối chiến tranh Việt Nam, gây chấn động nước Mỹ.

Để tưởng nhớ sự kiện này, nhiều hoạt động ý nghĩa đã được tổ chức trên khắp nước Mỹ, trong đó có lễ tưởng niệm tại Trung tâm Nhà thờ của Liên Hợp Quốc.

Hòa bình và công bằng xã hội là thông điệp xuyên suốt bài phát biểu của  MS. King. Ông cho rằng, thay vì đổ tiền cho một cuộc chiến tranh phi nghĩa, Chính phủ Mỹ nên đầu tư cho các chương trình phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống dân nghèo tại Mỹ.

Năm mươi năm sau, thông điệp ấy vẫn còn nguyên tính thời sự bởi thế giới vẫn chưa ngưng tiếng súng và đây đó vẫn tồn tại tình trạng phân biệt đối xử chỉ vì khác biệt màu da, giới tính hay tôn giáo.

Ông Trump ‘hùng biện’ trong dịp ngày lễ Mục sư King


Thứ 2 tuần này, cả nước Mỹ tổ chức lễ kỷ niệm ngày sinh của Mục sư M.L. King, là nhà lãnh đạo phong trào dân quyền nổi tiếng. Tổng thống Trump đã dành những lời đặc biệt cho dịp lễ này.

MS.King là một trong những nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ cũng như lịch sử đương đại của phong trào bất bạo động. Ông nâng cao nhận thức của công chúng về phong trào dân quyền, và được coi là một trong những  nhà hùng biện vĩ đại nhất  trong lịch sử Mỹ.

Trong dịp kỷ niệm này, Tân TT Trump cũng trở lên ‘hùng biện’ hơn hẳn khi ông tham gia tôn vinh ngày lễ. Khác hẳn với những thông điệp ngắn gọn, mạnh mẽ đăng trên Twitter và Facebook trước kia, hôm 16/1, ông Trump đã dùng nhiều mỹ từ trong dịp kỷ niệm này.

Nhưng công việc của ông chưa hoàn thành: hôm nay xung quanh chúng ta là các cộng đồng và các trường học bị tụt hậu và không được chia sẻ sự thịnh vượng của cuộc sống Mỹ. Mỗi người chúng ta có một trách nhiệm thiêng liêng để đảm bảo rằng không có trẻ em Mỹ da màu nào bị bỏ rơi bên lề, và khi bất cứ người anh em Mỹ nào của chúng ta bị buộc phải sống trong sự sợ hãi, hay nghèo đói, hay bạo lực, thì đó là bước lùi của toàn bộ đất nước”.

Ông trở thành nhân vật chính trong Phong trào tranh đấu cho Dân quyền trong những năm 1950 và 1960, khích lệ hàng triệu người qua bài diễn văn nổi tiếng  “I have a Dream” (Tôi có một Giấc Mơ) của ông, đọc trong cuộc tuần hành năm 1963 tại thủ đô Washington. Ông được trao Giải Nobel Hoà Bình năm 1964, cùng năm một dự luật dân quyền lịch sử được TT Johnson ký thành luật.

Mục sư King bị ám sát ngày 4/4/1968 tại Memphis, Tennessee, khi ông đến thành phố này để hỗ trợ một cuộc đình công của công nhân xe rác người da đen, vận động đòi được trả lương ngang hàng với các công nhân khác làm việc tương tự.

-Ngày lễ Mục sư King được thiết lập vào năm 1983, khi TT Reagan ký một luật ấn định ngày thứ Hai /tuần thứ 3 trong tháng 1 hàng năm là ngày vinh danh Mục sư King (bởi vì sinh nhật của ông rơi vào ngày 15/1/1929). Cùng với Ngày lễ các Tổng thống Mỹ (từ Lễ sinh nhật 2 TT Washington & Lincoln) vào tháng 2 hàng năm. Năm 1994, Quốc hội Mỹ chỉ định ngày Lễ sinh nhật MS.King là một ngày phục vụ trên toàn quốc, một động thái để khuyến khích người dân Mỹ tham gia các dự án cộng đồng. Đây là ngày lễ duy nhất dành cho một người Mỹ gốc Phi.


Quan hệ Hoa Kỳ – Việt Nam từ năm 1919


Sau hai mươi năm gián đoạn kể từ khi  kết thúc chiến tranh Tổng thống Hoa Kỳ  Bill Clinton tuyên bố chính thức  bình thường hóa  quan hệ ngoại giao với  Việt Nam vào ngày  11/7/ 1995 và nâng cấp Văn phòng Liên lạc thành  tòa đại sứ đặt tại  Hà Nội. Việt Nam đặt tòa  đại sứ ở  Washington D.C., một tòa  tổng lãnh sự tại  San Francisco ( California) một tại  Houston ( Texas) và một tại  thành phố New York (New York).  Hoa Kỳ có một tòa tổng lãnh sự tại  Tp .HCM và dự kiến mở thêm một tòa tổng lãnh sự ở Đà Nẵng.

Ngoại giao Hoa Kỳ và Việt Nam đã trở nên sâu và đa dạng hơn trong những năm đã bình thường hóa chính trị. Hai nước đã thường xuyên mở rộng trao đổi  chính trị, đối thoại về  nhân quyền và an ninh khu vực. Họ ký kết  Hiệp định Thương mại song phương vào  tháng 7/ 2000, bắt đầu có hiệu lực từ  tháng 12 năm  2001 Tháng 11/2007, Hoa Kỳ chấp thuận  Quy chế Quan hệ Thương mại Bình thường Vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam.


Lịch sử


Trước thế kỷ 20


Năm 1829, khi  T T   Andrew Jackson vừa lên nhậm chức thì Bộ Ngoại giao Mỹ cử phái bộ do  Edmund Roberts dẫn đầu mang theo dự thảo hiệp định thương mại hầu tìm cách thông thương với nước  Đại Nam. Đầu tháng 1/1832 chiến hạm Peacock chở phái bộ đến Vũng Lấm (nay thuộc  Phú Yên). Sau nhiều ngày thảo luận với đại diện Đại Nam là Ngoại lang Nguyễn Tri Phương và Tư vụ Lý Văn Phức, hiệp định thương mại vẫn không thành. Theo lời của E.Roberts thì trách nhiệm hoàn toàn là do triều Nguyễn, với các thủ tục ngoại giao quá rườm rà, các quan chức được ủy quyền thương thuyết không có ý kiến rõ ràng, và hay lảng tránh các câu hỏi trực diện do Mỹ nêu ra. Phía Đại Nam tỏ ra quá dè dặt, thận trọng và có thái độ nghi kị. Các phái viên của triều Nguyễn không đồng ý ký Hiệp định chủ yếu vì vấn đề hình thức văn bản. Họ cho rằng những lời lẽ viết trong dự thảo hiệp định không tuân thủ những quy thức cung kính khi tâu vua Đại Nam. Họ cũng cho rằng TT Mỹ được bầu ra và có nhiệm kỳ nên TT Mỹ không tương xứng với Hoàng đế Đại Nam. Sử liệu Việt Nam thì nói rằng Ngoại lang  Nguyễn Tri Phương và Tư vụ  Lý Văn Phức sau khi nghe dịch nội dung quốc thư của TT Mỹ và dự thảo của hiệp định thương mại, thấy không hợp cách thức nên đã không trình lên vua rồi viết thư trả lời rằng Hoàng đế Đại Nam không ngăn cản buôn bán, nhưng phải tuân theo pháp luật Đại Nam. Tàu Mỹ phải đến Đà Nẵng, không được phép lên bờ. Nhận được thư này, phái đoàn của Edmund Roberts rời Đại Nam.

Hơn 15 năm sau, trong chuyến hành trình đến vùng biển châu Á năm  1845 chiến thuyềnConstitution (thường gọi là Old Ironsides) của Hoa Kỳ đã cập bến Đà Nẵng. Thuyền trưởng là  John Percival liên lạc với các quan địa phương xin được tiếp xúc với triều Nguyễn để đặt mối giao hảo. Được tin, vua  Thiệu Trị tại  Huế cử viên ngoại lang  Nguyễn Long đi hỏa tốc vào  Đà Nẵng hiệp cùng Kinh lịch thuộc viên ở tỉnh là  Nguyễn Dụng Giai đến thăm hỏi và làm việc với Percival. Nhưng thay vì gây thêm cảm tình, Percival khi nhận được thư cầu cứu của  giám mục  Dominique Lefebvre thì chiếm đoạt lấy 3 chiến thuyền và một số người làm  con tin, đòi nhà chức trách phải thả Lefebvre. Sự việc không giải quyết được, Percival sai nổ súng bắn lên bờ rồi nhổ  neo ra khơi ngày  16 /5, khiến tình hình thêm rắc rối. Nỗ lực bang giao Việt-Mỹ bế tắc.

Mãi đến năm  1873, lần này do xúc tiến của triều đình nhà Nguyễn,  Bùi Viện được vua  Tự Đức cử sang Mỹ như một "đại sứ đặc mệnh toàn quyền" để cầu viện tìm cách chống  Pháp. Bùi Viện sau đó đã đi qua  Yokohama ( Nhật Bản) để đáp tàu sang Mỹ, rồi lưu lại đó một năm mới gặp được TT  Ulysses Grant (nhiệm kỳ 1868- 1876). Lúc này Pháp và Mỹ đang đụng độ trong trận chiến ở  México nên Mỹ cũng tỏ ý muốn giúp một quốc gia đang bị Pháp uy hiếp. Nhưng Bùi Viện không mang theo  quốc thư nên không đạt được cam kết chính thức. Vì vậy, ông lại quay về Việt Nam trở lại kinh thành Huế. Có được thư ủy nhiệm của vua Tự Đức, Bùi Viện lại xuất dương một lần nữa. Năm  1875 ông lại có mặt tại Hoa Kỳ. Có trong tay quốc thư nhưng lại gặp lúc Mỹ và Pháp đã hết thù địch nên TT Grant lại khước từ cam kết giúp  Đại Nam đánh Pháp.


Thời Pháp thuộc và Chiến tranh Đông Dương


Năm  1919 Nguyễn Ái Quốc đại diện hội "Những người An Nam yêu nước" gửi bản  Yêu sách của nhân dân An Nam đến  Hội nghị Hòa bình Versailles cho TT Mỹ  Woodrow Wilson nhưng không được trả lời.

Đầu  thập niên 1940, cơ quan  OSS (tiền thân của  CIA) của Mỹ đã giúp đỡ Việt Minh thuốc men và một số vũ khí để chống Nhật, đối tượng lúc ấy là kẻ địch của cả Mỹ và Việt Nam. Việt Minh giúp đỡ lực lượng Mỹ về tin tức tình báo và giúp cứu các  lính Mỹ rồi chuyển giao cho người Mỹ.

-HÀ NỘI: Tượng Lý Thái Tổ ở vườn hoa Chí Linh - là một công trình kiến trúc văn hoá, nhằm tôn vinh vị vua Lý Thái Tổ, người khởi lập Hoàng thành Thăng Long  và tạo dựng nên mảnh đất ngàn năm văn hiến (ảnh trái).

- SÀI GÒN: Tượng Trần Hưng Đạo ở công trường Mê Linh - là minh chứng cho sự năng động của Sài Gòn /Tp.HCM và là chốn hẹn hò của đôi lứa ở bến Bạch Đằng nhìn ra sông Sài Gòn đầy thơ mộng .


Thời kỳ Việt Nam bị chia đôi


Trong  Chiến tranh Việt Nam (1954-1975), chính phủ Mỹ hậu thuẫn VNCH chống lại  VNDCCH rồi cả  MTGP miền Nam. Mỹ có tham gia  Hội nghị Genève năm 1954 với một phái đoàn do Bedell Smith làm trưởng đoàn nhưng cũng như phái đoàn  Quốc gia VN, không ký bản hiệp định. Khi chính phủ  Đệ nhất Cộng hòa VN của  TT  Ngô Đình Diệm từ chối tổng tuyển cử, Hoa Kỳ cũng ủng hộ lập trường đó. Dựa trên  thuyết Domino trong bối cảnh  Chiến tranh Lạnh Hoa Kỳ tăng viện trợ cho VNCH. Đến năm  1963 có hơn 16.000 cố vấn quân sự Hoa Kỳ và đến đầu năm  1965 thì  TT Johnson cho đổ bộ lực lượng  Thủy quân lục chiến, chính thức tham chiến. Đến năm  1973, đã có trên 600.000 lính Mỹ và đồng minh chiến đấu trên chiến trường  miền Nam VN.

Năm 1973, Hoa Kỳ ký  Hiệp định Paris với VNDCCH và rút quân chính quy ra khỏi chiến trường miền Nam VN.



Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam


Năm  1976, nước Việt Nam thống nhất đổi quốc hiệu thành nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; Sài Gòn-Gia Định đổi tên: Tp.Hồ Chí Minh.

Từ 1975 đến  1994, Hoa Kỳ đã  cấm vận Việt Nam. Trong thời gian này, từ  1977 đến  1978 Việt Nam và Hoa Kỳ đàm phán bình thường hóa quan hệ nhưng không thành, một phần do Việt Nam yêu cầu Hoa Kỳ bồi thường những tổn thất mà họ đã gây ra ở Việt Nam, nhưng Hoa Kỳ đã bác bỏ.

Năm 1993, Hoa Kỳ mới tuyên bố không ngăn cản các nước khác cho Việt Nam vay tiền trả nợ cho các tổ chức tài chính quốc tế. Năm  1994, Tổng thống  Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn cấm vận Việt Nam và lập cơ quan liên lạc giữa hai quốc gia. Ngày 11/7/1995, TT Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam.


Tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ


Thủ tướng Võ Văn Kiệt có một vai trò vô cùng quan trọng. Không chỉ bởi ông thường xuất hiện ở những thời điểm khó khăn nhất, mà còn là, với tầm nhìn chiến lược và trái tim nhân hậu của mình ông đã tập hợp được nhiều người với quan điểm chính trị khác nhau để cùng góp sức vào thúc đẩy phát triển mối bang giao Việt- Mỹ. Ông có mối thân tình với Thượng nghị sỹ Mỹ John Kerry, là chính khách VN được giới chính trị và báo giới phương Tây rất nể trọng. Trong giai đoạn mà cả hai phía Việt Nam và Mỹ kết hợp tìm tìm kiếm người Mỹ mất tích.

-Thủ tướng Kiệt là người có khả năng quy tụ và rất chịu khó lắng nghe ý kiến của các chuyên gia, các nhà kinh tế, đặc biệt là những người từng không thuộc “phe ta”. Đó là một người có vai trò nhất định trong tiến trình bình thường hóa: ông Nguyễn Văn Hảo, sinh năm 1942, từng là Thống đốc Ngân hàng Quốc gia và Phó thủ tướng của VNCH. Ông Hảo quay trở lại Mỹ và đóng vai trò quan trọng để Bộ trưởng Thương mại VN thời bấy giờ là Lê Văn Triết gặp gỡ trao đổi với Bộ trưởng thương mại Mỹ Ron Brown, người có ảnh hưởng rất lớn đến Clinton.

-Năm 2016 vừa kết thúc đã được đánh giá là một năm đánh dấu sự bình thường hoá hoàn toàn quan hệ Mỹ-Việt, với tuyên bố vào tháng 5/2016 của TT Obama dỡ bỏ cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam.

-Từ ngày 20/1/2017 đã mở ra với một ẩn số lớn: Quan hệ với tân chính quyền Mỹ của TT Donald Trump sẽ ra sao trong bối cảnh Trung Cộng ngày càng hung hăng áp đặt chủ quyền trên Biển Đông…


LỜI KẾT


-Ngày lễ 30/4 Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Ngày Chiến thắng (tên gọi tại Việt Nam), là một   ngày lễ quốc gia của người  Việt Nam, đánh dấu sự kiện chấm dứt   Chiến tranh Việt Nam

Tại hải ngoại, bộ phận người Việt gọi ngày 30/4 là "Ngày Quốc Hận" hoặc "Tháng Tư Đen" sau đổi lại là "Ngày Hành trình đến Tự do" (Journey to Freedom Day) ................

-Hòa giải và hòa hợp dân tộc ở Việt Nam 

nhân 42 năm Thống nhất Đất nước (1975-2017):


-Hòa giải và hòa hợp dân tộc là một khái niệm để chỉ sự hòa giải những mâu thuẫn trong nội bộ người Việt phát sinh từ năm 1945 đến ngày nay. Hòa giải và hòa hợp dân tộc từng được nhắc đến trong  Hiệp định Paris 1973, sau đó được những người Miền Bắc và lực lượng thứ ba tuyên truyền nhưng không được thực hiện khi chiến tranh kết thúc. Hiện nay Hòa giải và hòa hợp dân tộc được nhiều  người Việt Nam đang sống trong hoặc ngoài   Việt Nam đề cập đến trong bối cảnh Việt Nam đang phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội; bình thường hóa dần mối quan hệ với   Hoa Kỳ; tình hình chính trị thế giới thay đổi; nhà nước đang thực hiện các cải cách trên nhiều lĩnh vực và nhất là trình độ dân trí ngày càng cao, nhận thức xã hội thay đổi do dân chúng có thể tiếp cận nhiều nguồn thông tin ngoài tầm kiểm soát của nhà nước Việt Nam

Tất cả mọi con dân Việt cùng nhau tập trung vào giải quyết những vấn đề chung của đất nước, đó là những mối lo đến từ bên ngoài về vấn đề chủ quyền, lãnh thổ vẫn đang hiện hữu. Do vậy, rất cần có sự nỗ lực đoàn kết của người Việt trong việc cùng hướng tới xây dựng một quốc gia giàu mạnh, tốc độ phát triển nhanh cũng như đối phó với những thách thức từ các quốc gia láng giềng.


-Niềm Hy vọng Ngày 30/4 làNgày Thống nhất – Hòa giải Dân tộc”!



-Cố nhạc sĩ Văn Cao bên cây đàn dương cầm, hy vọng Hòa giải…

-nhưng Giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước, nay đã 42 năm.


Văn Cao đã mơ tưởng nên sự hòa giải dân tộc thực sự


Khác với những ca khúc có cấu trúc phức tạp, ca từ hào sảng như Trường ca sông Lô, Tình ca trung du, Mùa xuân đầu tiên dẫn dắt người nghe vào một không gian âm nhạc giản dị, trong lành bằng một điệu valse khoan thai, dìu dặt mở đầu:

“… Rồi dặt dìu, mùa xuân theo én về
Mùa bình thường, mùa vui nay đã về…”

Nhịp 3/4 đưa đẩy, chậm rãi, nhịp nhàng đón bước người trở về trong niềm hân hoan ngày hội ngộ. Mùa xuân - mùa vui đã về trọn vẹn khi đất nước lần đầu tiên được đón Tết cổ truyền trong hòa bình độc lập. Niềm xúc động ấy trào dâng trong tất thảy mọi người khi nghe đến hai chữ “đầu tiên” thiêng liêng đầy xót xa, thấm thía. Tuy nhiên, so với các bài hát khác cũng ra đời ở cùng thời điểm này, Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao từng bị coi là “lạc điệu” (Tương tự các bản nhạc: Không quân VN, Hải quân VN và Tiến về Hà Nội) .

Văn Cao “đi trước” thời đại có lẽ ở chỗ đó. Ở cái nhìn sâu đằng sau một chiến thắng vang dội là những gì dân tộc này đã phải đánh đổi, hy sinh. Ở cái nhìn xa đằng sau niềm hân hoan phút chốc này là bao nỗi lo về một cuộc đời mới, một cuộc dựng xây mới. Vì thế mà ông vừa bồi hồi, vừa trăn trở:

“… Từ đây người biết quê người
Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người…”

Như một niềm tin vừa được khẳng định nhưng cũng như một băn khoăn, suy tư về tương lai:

“… Từ đây người biết quê người?
Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người?”

Luôn do dự và hồ nghi là tâm thế một người mang cảm thức của cả dân tộc vừa bước ra từ trong chiến tranh, nâng niu trên tay một niệm hạnh phúc diệu kỳ và mong manh như nằm ngoài sự thật. Tâm thế ấy đã vượt lên trên niềm vui thoáng chốc để dự cảm, để xót xa và để thấm thía về con đường dài phía trước mà dân tộc sẽ phải gồng mình bước qua. Với đầy rẫy những đau thương, mất mát, ly tan hay những vách ngăn không cùng giữa quá khứ và tương lai, giữa thế hệ đã hy sinh và thế hệ được hưởng trái ngọt ngày hôm nay.

Mùa xuân đầu tiên, ý chỉ mùa xuân hòa bình, độc lập đầu tiên của dân tộc nhưng cũng chính là mùa xuân cuối cùng, một trong các bài hát cuối cùng trong sự nghiệp sáng tác của cố nhạc sĩ Văn Cao. Như một cơ duyên, bài hát cũng phải chịu số phận kỳ lạ như chính cuộc đời người nhạc sĩ tài hoa ấy.

-Văn Cao đã mơ tưởng nên sự hòa giải dân tộc thực sự trong ca khúc cuối cùng…


Trịnh Công Sơn Mơ Nối Vòng Tay Lớn




Bài Nối vòng tay lớn chưa được cấp phép” (11/4/2017)


Cục Nghệ thuật Biểu diễn cho biết nhiều ca khúc Trịnh Công Sơn không nằm trong danh mục phổ biến bởi chưa có cá nhân, tổ chức nào xin phép.

Chương trình   "Nối vòng tay lớn" vào ngày 21/4/2017 do Đại học Y dược Huế kết hợp gia đình nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tổ chức gặp khó khăn do có bốn ca khúc không nằm trong danh mục bài hát trước 1975 được Cục Nghệ thuật Biểu diễn cấp phép phổ biến. Các ca khúc này gồm Nối vòng tay lớn, Huế - Sài Gòn - Hà Nội, Ca dao mẹ Đêm thấy ta là thác đổ.

  Mặc dù, hàng chục năm qua từ ngày 30/4/1975 cho đến nay, các ca khúc này liên tục được vang lên trong các đêm nhạc cộng đồng, các chương trình âm nhạc lớn nhỏ cũng như trong các sản phẩm âm nhạc chuyên nghiệp. Thế là thế nào ??.


Nối Vòng Tay Lớn - Trịnh Công Sơn


Rừng núi dang tay nối lại biển xa   / Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà  
Mặt đất bao la, anh em ta về/
 Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng/   Bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam  

Cờ nối gió đêm vui nối ngày/
 Giòng máu nối con tim đồng loại  
Dựng tình người trong ngày mới/
 Thành phố nối thôn xa vời vợi  
Người chết nối linh thiêng vào đời/
 Và nụ cười nối trên môi.  

Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay/
 Ta đi từ đồng hoang vu vượt hết núi đồi  
Vượt thác cheo leo, tay ta vượt đèo/
  Từ quê nghèo lên phố lớn, nắm tay nối liền/ Biển xanh sông gấm nối liền một vòng tử sinh.



(Tham khảo: Sách báo – Internet)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 29.4.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004