Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
tranh vẽ Kiều của nữ họa sĩ Ngọc Mai (SàiGòn)




LỜI KỂ HAY NGÔN NGỮ

TÁC GIẢ TRONG TRUYỆN KIỀU






T rong một quyển truyện thơ, ngôn ngữ tác giả thường gồm những đoạn tả cảnh, những lời kể chuyện, giới thiệu và bình luận đánh giá của tác giả đối với từng hành động, sự kiện của từng nhân vật trong tác phẩm. Trong Truyện Kiều, theo thống kê của chúng tôi, ngôn ngữ nhân vật gồm 1.393 dòng thơ còn lại 1.861 là ngôn ngữ tác giả chiếm một dung lượng khá lớn, 1.861/3.254 khoảng trên 57% tác phẩm. So với các tác phẩm tự sự truyền thống và các truyện Nôm, ngôn ngữ tác giả trong Truyện Kiều có sự phát triển vượt bậc và in đậm phong cách cũng như cá tính sáng tạo của Nguyễn Du. Ngôn ngữ tác giả trong Truyện Kiều có một dung lượng lớn, thể hiện khắp nơi, chi phối cách tổ chức tác phẩm và tạo nên một nét riêng rất độc đáo mang phong cách Nguyễn Du. Nó góp phần quan trọng trong việc tạo nên diện mạo độc đáo của tác phẩm và mang những nét mới, tác động trực tiếp đến từng tình tiết cũng như toàn bộ nội dung tác phẩm. Chính đây là điểm thành công độc đáo góp phần làm nên nét đặc sắc của nghệ thuật Truyện Kiều.

Có thể nói lời kể của Nguyễn Du là lời văn trác tuyệt “Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu”. Ta giở xem bất cứ trang nào của Truyện Kiều cũng đều thấy là những trang thơ ý tứ sâu xa, lời văn điêu luyện, tình cảm dồi dào.

Đọc Truyện Kiều chưa ai phát hiện được những chi tiết thừa hay không hợp lý. Những điều tác giả kể đều là những cái cần và đủ để cho thấy cuộc đời oan khổ của Kiều hiện rõ dần lên trong dòng chảy của ngôn ngữ của người kể chuyện vô hình. Dù là sự việc nào, tâm trạng nào, con người nào cũng không thể làm cho Nguyễn Du lúng túng khi phải dùng ngôn ngữ kể chuyện và lại là ngôn ngữ thơ - thứ ngôn ngữ có tính hàm súc, luôn có sự thống nhất giữa nghĩa đen và nghĩa bóng, ý tại ngôn ngoại mà có sức khái quát cao.

1. Lời kể hay ngôn ngữ kể chuyện là một phương diện của nghệ thuật kể chuyện. Một câu chuyện dù hay và cảm xúc của người kể dù sâu sắc đến đâu nhưng nếu lời kể kém chất văn học thì câu chuyện cũng không lôi cuốn người đọc, không thể tồn tại mãi được với thời gian. Truyện Kiều sở dĩ hay là vì Nguyễn Du đã biết kể lại một câu chuyện bằng một thứ ngôn ngữ kể chuyện giàu chất văn học, nặng chất thơ. Ngôn ngữ kể chuyện trong Truyện Kiều là một thứ ngôn ngữ phong phú, đa dạng. Ta thấy ở đây có ngôn ngữ của người kể chuyện vô hình, có ngôn ngữ kể chuyện của nhân vật, lại có ngôn ngữ của một nhân vật kể về một nhân vật khác. Có ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ độc thoại nội tâm, lại có ngôn ngữ trữ tình ngoại đề và đặc biệt lời kể luôn cho ta biết thái độ và quan điểm của người kể.

Đối với sự trần thuật thì cái được miêu tả là một cái quá khứ nhưng đối với người trần thuật (người kể chuyện) thì cái tiêu biểu là lập trường của một con người nhớ lại điều đã xảy ra. Hiệu quả nghệ thuật của hình thức đa chủ thể kể chuyện, về phương pháp tuy có kế thừa của những tác giả đi trước, nhưng đã có nhiều điểm mới so với thi pháp kể chuyện của truyện Nôm đương thời. Nguyễn Du đã dùng ngôn ngữ của người kể chuyện vô hình chủ yếu là để kể lại câu chuyện nhưng đã cách tân bằng cách dùng nhân vật tự kể về mình và nhân vật kể về nhân vật khác và như vậy nghệ thuật kể chuyện vừa cũ lại vừa mới. Có khi là tóm lược một quãng đời dài của nhân vật trong một vài dòng trần thuật ngắn để người đọc thấy được thái độ của các nhân vật đang kể chuyện đối với các nhân vật hoặc sự kiện được kể.

2. Cái khó của việc kể chuyện bằng câu văn vần lục bát.

a. Trong một khổ thơ thì chữ thứ sáu của câu lục và câu bát đều phải hợp vần với chữ “đứng trước” ở câu trên, nên những chữ này gọi là vần hiệp bắt buộc. Còn chữ thứ 8 trong câu bát lại là vần khởi khá tự do mà chữ cuối của câu lục ở khổ thơ sau bắt buộc phải hiệp vần nên gọi là vần hiệp. Và cứ như thế, những chữ ở những vị trí vần vừa phải hợp vần trong nội bộ trong khổ thơ lại mở ra để các khổ thơ sau tiếp tục rồi kéo dài vô tận. Cái diệu kỳ của thơ lục bát chính là ở chỗ này, là có cấu trúc ở đơn vị câu thơ, một cấu trúc vừa khép vừa mở. Khép, vì câu thơ có liên hệ, ràng buộc bên trong về thanh điệu (bằng trắc), về nhịp, về vần, làm cho mỗi câu thơ trở thành một cấp độ chỉnh thể và có thể tạo ra một cấu trúc hoàn chỉnh. Mỗi khổ thơ luôn có thể đứng riêng rẽ vì thế người ta hay lẩy Kiều, tập Kiều rồi bói Kiều... Trong khi đó câu thơ lục bát lại mở, vì sau hai câu lại tiếp đến hai câu khác, với quy tắc hợp vần như đã nói ở trên, luôn mở ra khả năng cấu trúc hóa với những câu thơ khác, kéo dài nhưng liền mạch, và có thể kéo dài vô tận đúng với nghĩa của từ này.

Truyện Kiều kể lại biết bao nhiêu sự việc với bao nhiêu sắc thái đa dạng, phức tạp của bao nhiêu nhân vật trong 3.254 dòng thơ lục bát, nhưng ta không thấy Nguyễn Du bế tắc ở chỗ nào, ông luôn luôn giữ được tính chất cấu trúc ưu việt và hoàn chỉnh của thơ lục bát. Câu thơ lục bát không hề là rào cản đối với Nguyễn Du.

Tất cả nội dung câu chuyện, đặc biệt là khi phải thể hiện nội tâm của nhân vật, tất cả đều được thể hiện đầy đủ chính xác, tự nhiên theo dòng chảy của câu văn vần lục bát. Ngoài ra, còn có những tình huống tính cách, tâm trạng hoàn toàn trái ngược nhau, hoặc có tính chất trung gian đều được thể hiện rất trau chuốt trong ngôn ngữ Truyện Kiều.

b. Kể chuyện bằng văn vần rõ ràng là khó hơn kể chuyện bằng văn xuôi rất nhiều mà khó nhất là khi thể hiện bằng ngôn ngữ đối thoại của nhân vật, đặc biệt là trong những tình huống cụ thể với những nhân vật thuộc các thành phần giai cấp khác nhau. Điều khó thứ hai là chịu sự quy định của thi pháp thể loại. Nguyễn Du đã rất tài tình vượt qua rào cản này trong hàng trăm trường hợp. Ông đã dùng những từ rằng làm cách thức luân phiên lượt lời của các nhân vật như: Quan rằng, Vân rằng, Kiều rằng…, Thưa rằng…, Dạy rằng… Nhưng cái hay là ông còn thể hiện ngôn ngữ đối thoại bằng rất nhiều cách khác trong đó có việc miêu tả sự xuất hiện của lời nói. Khi là những từ dẫn đón hỏi dò la, xa đưa ướm lòng, giãi lời… trong:

0191. Rước mừng đón hỏi dò la:

-“Đào nguyên lạc lối đâu mà đến đây?”.

+ 0303. Sinh đà có ý đợi chờ,

Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng:

0305. - “Thoa này bắt được hư không,

Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về?”.

+ 0547. Tai nghe ruột rối bời bời,

Ngập ngừng nàng mới giãi lời trước sau:

0549. – “Ông tơ gàn quải chi nhau,

Chưa vui sum họp, đã sầu chia phôi…”

+ Có khi dùng những chữ hỏi, khen … trong:

0223. Giọng Kiều rền rĩ trướng loan,

Nhà huyên chợt tỉnh hỏi: -“Cơn cớ gì?

0225. “Cớ sao trằn trọc canh khuya,

Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa?”.

+ 0405. Khen: -“Tài nhả ngọc phun châu,

Nàng Ban, ả Tạ cũng đâu thế vầy…”

+ Khi thì đặt câu nói trong những văn cảnh cho phép người đọc hiểu được rằng đây là lời nói của nhân vật như:

0081. Lòng đâu sẵn mối thương tâm,

Thoắt nghe, Kiều đã đầm đầm châu sa:

0083. -“Đau đớn thay phận đàn bà!

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung…”

+ 0379. Cách hoa sẽ dặng tiếng vàng,

Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông:

0381. -“Trách lòng hờ hững với lòng,

Lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu…”

Và còn nhiều, rất nhiều cách khác nữa, trên đây chúng tôi chỉ nêu mấy trường hợp trong 600 dòng thơ đầu trong Truyện Kiều.


3. Lời kể chuyện luôn luôn gọn gàng, chính xác. Dù bị bó hẹp trong khuôn khổ của câu văn vần lục bát, lời kể trong Truyện Kiều gọn gàng, chính xác, đậm đà chất trữ tình và chất dân gian. Nguyễn Du đã rút gọn sự kiện, hành động, nhân vật xuống mức tối thiểu. Do yêu cầu kể chuyện bằng thơ, chịu sự chi phối của vần luật… nên trong lúc kể, ông đã áp dụng phương thức trên một cách rất hiệu quả. Nguyễn Du đã sử dụng thành thạo câu văn vần lục bát trong lời kể chuyện của mình.

Chúng tôi chỉ xin nêu ra 3 trường hợp:

a. Sở Khanh chỉ xuất hiện trong vài ngày, tuy Nguyễn Du kể lại khá dài trong 134 dòng thơ (1055 – 1188), nhưng câu chuyện vẫn gọn gàng, chính xác theo từng lớp lang cụ thể. Từ việc Sở Khanh làm thơ rồi rủ Kiều đi trốn, bỏ nàng lại giữa đường trong đêm khuya:

1121. Lối mòn cỏ nhợt màu sương,

Lòng quê đi một bước đường một đau.

1123. Tiếng gà xao xác gáy mau,

Tiếng người đâu đã mé sau dậy dàng.

1125. Nàng càng thổn thức gan vàng,

Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào.

Kiều bị Tú Bà đánh đập rồi ép nàng phải Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa… Lại còn bắt Kiều phải có người bảo lĩnh:

1151. Bày vai có ả Mã Kiều,

Xót nàng, ra mới đánh liều chịu đoan…

Mã Kiều kể tội Sở Khanh cũng rất gọn gàng. Rồi hôm sau Sở quay lại vu vạ Kiều để bị vạch mặt mà lủi mất:

1185. Lời ngay đông mặt trong ngoài,

Kẻ chê bất nghĩa, người cười vô lương.

1187. Phụ tình án đã rõ ràng,

Dơ tuồng, nghỉ mới kiếm đường tháo lui.

b. Đến cuối truyện, Thúy Kiều cho người tìm lại Giác Duyên, Kim Vân Kiều Truyện viết:

Tơ duyên tái hợp vừa chắp nối xong, Thúy Kiều nhớ đến Giác Duyên, vội nói với chàng Kim để chàng định liệu. Chàng lập tức sai người đi đón. Gia nhân trở về cho biết: Khi tìm đến chùa thấy cửa mở toang, tiến vào bên trong chẳng thấy bóng dáng sư phụ đâu cả, mà chỉ thấy trước pho tượng Phật, dưới chiếc lư hương có một mảnh thiếp. Chúng tôi đem về để trình lão gia đây ạ.

Chàng Kim cầm lấy mảnh thiếp rồi cùng mọi người mở ra coi thấy 4 câu thơ rằng:

Pháp môn yếu thành thủy thành chung

Nguyện quân phu thê quí dĩ thân

Nhược vấn ngô thân hà xứ khứ

Thường bạn cô hạc bán không vân.

Pháp môn chung thủy vẹn đôi đàng

Chúc vợ chồng em sống thọ khang.

Muốn hỏi thân này đâu đó tá?

Thường theo chiếc hạc chốn mây ngàn( 1).

Cả nhà đọc xong câu kệ đều than thở rằng: Nguyên do Giác Duyên chính là một vị tiên cô, hiềm rằng bữa trước trong khi vội vàng, chưa kịp tạ ơn, thực là hối hận. Rồi cả nhà thu xếp đi ngoạn cảnh Tây Hồ mấy hôm”.

Nguyễn Du chỉ viết lại rất gọn gàng trong 8 dòng thơ mà chính xác và vẫn đủ ý lại có cả câu tả cảnh nơi Giác Duyên vừa bỏ đi:

3227. Nhớ lời lập một am mây,

Khiến người thân tín rước thầy Giác Duyên.

3229. Đến nơi đóng cửa cài then.

Rêu trùm kẽ ngạch, cỏ len mái nhà.

3231. Sư đà hái thuốc phương xa,

Mây bay, hạc lánh biết là tìm đâu.

3233. Nặng vì chút nghĩa bấy lâu,

Trên am, cứ giữ hương dầu hôm mai.

Ông còn dùng cả hình ảnh cô hạc không vân trong nguyên truyện thành mây bay hạc lánh đầy ý nghĩa, như muốn nhắc lại thành ngữ hạc nội mây ngàn mà trước khi Giác Duyên rời phiên tòa Lâm Tri, Thúy Kiều đã nói:

2401. Rồi đây bèo hợp mây tan,

Biết đâu hạc nội mây ngàn là đâu.

Ta thấy văn Nguyễn Du đầy ý tứ, nếu không nhìn trước trông sau, rất khó nhận ra, ý hạc nội mây ngàn không có trong Kim Vân Kiều Truyện ở đoạn hội thoại tại phiên tòa Lâm Tri.

c. Trong lời kể của Truyện Kiều, có một trường hợp được nhiều người quan tâm trong đoạn gia đình Kiều bất ngờ gặp được Giác Duyên bên bờ sông Tiền Đường và kể lại với nhà sư:

2979. Nghe tin ngơ ngác rụng rời,

Xúm quanh kể lể, rộn lời hỏi tra:

2981. - “Này chồng, này mẹ, này cha,

Này là em ruột, này là em dâu”.

Đây là hai khổ thơ dùng toàn chữ thuần Nôm, và phong cách rất dân dã với thứ tự các nhân vật như theo một cái khoát tay của người kể mỗi khi giới thiệu từng người trong gia đình với Giác Duyên. Cách ngắt câu cũng rất rõ ràng… Khi nói về trật tự từ trong câu, trong quyển Ngữ pháp Việt Nam ở đề mục Trật tự từ ngữ suy diễn được, Giáo sư Diệp Quang Ban có bình luận câu lục ở khổ thơ thứ hai như sau:

Dòng thơ 6 tiếng trên đây có thể gợi ra những câu hỏi thú vị, trong đó có: Tại sao lại kể chồng trước, mẹ, cha sau?

Đây là câu nói của những người trong gia đình Thúy Kiều, kể cả bố Thúy Kiều chứ không phải Thúy Kiều (Lúc đó nàng chưa có mặt ở đấy). Câu nói đó bắt nguồn từ lễ giáo phong kiến gói gọn trong tín điều “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Cho nên trật tự ngôi vị chồng được kể trước là tất yếu, không thể khác được, và nếu lời này do bố Thúy Kiều nói thì ông cũng không thể làm khác được, vì chính ông là thành viên tích cực của nền lễ giáo đó. Như vậy cái trật tự trước (hay trật tự tuyến tính) của các từ ngữ trong dòng thơ đang xét giúp nhận ra được dấu vết của của lễ giáo phong kiến trong thời đại Nguyễn Du.

Tiếp theo, tại sao mẹ lại được kể trước, cha sau? Trong quan hệ với người con gái, mẹ nặng về tình, cha nặng về uy. Ca dao xác nhận rằng:

Ai kêu ai hú bên sông,

Mẹ gọi con dạ, có chồng phải theo.

Nếu là cha gọi thì chắc chắn người con gái phải quay trở về! Cho nên người kể Truyện Kiều đã đưa mẹ lên trước cha.

Theo cách nhìn của phân tích diễn ngôn thì cái trật tự tuyến tính của các từ ngữ này là một cấu trúc suy diễn được (discursive structure), nhờ nó mà người đọc ý thức được tính quy định của trật tự phong kiến đương thời, và chấp nhận nó với một thiện chí”.

Chúng tôi muốn nói thêm rằng bằng hai dòng thơ này, Nguyễn Du đã giới thiệu được không chỉ 5 người (chồng, mẹ, cha, em ruột, em dâu) như ta thấy trong khổ thơ mà có tới 6 người trong gia đình Kiều. Này là em ruột, người nói (Có thể là Vương Ông) kéo tay chỉ qua hai người là Thúy Vân và Vương Quan là em ruột, hai người này đứng cạnh nhau, Vương Quan lại đứng cạnh vợ, nên này là em dâu là chỉ vợ chàng!


4. Tính cụ thể xác định của lời kể chuyện.

Bằng cách thông qua người kể chuyện vô hình cũng như các nhân vật tham gia kể chuyện, Nguyễn Du đã tăng cường sức thuyết phục của lời kể như kể cụ thể, nói có sách mách có chứng, mỗi chủ thể có một ngôn ngữ riêng trong khi kể, điều này đã làm tăng tính chất chủ quan và tính cụ thể của lời kể chuyện. Đó chính là đặc điểm của lời kể trong tiểu thuyết hiện đại. Với những điểm nhìn khác nhau của các nhân vật kể chuyện, câu chuyện càng sống động. Càng có nhiều nhân vật tham gia kể chuyện ở những thời điểm khác nhau thì hiện thực được phản ánh càng chân thực hơn và có hồn, sinh động hơn.

Ta có thể nhận xét rằng người kể chuyện cũng như nhân vật trong Truyện Kiều sử dụng số từ rất nhiều. Nguyễn Du đã tả các nhân vật của mình trong sự chính xác tối đa. Cách sử dụng lời kể như vậy không có ở trong các truyện Nôm xưa, mà là thường thấy trong văn học hiện đại, khi cái tôi cá nhân được tôn trọng. Trong Truyện Kiều lượng số từ rất lớn: 196/307 chữ một có nghĩa của con số, 60 chữ hai đều có nghĩa của con số, 22/27 chữ ba có nghĩa của con số, 19 chữ bốn đều có nghĩa của con số, 12/42 chữ năm có nghĩa của con số…. 22 chữ mười đều có nghĩa của con số, 31 chữ trăm đều có nghĩa của con số ….

Đặc điểm này của lời kể chuyện của Nguyễn Du trong Truyện Kiều không một tác phẩm nào đạt được mức độ đó trong lời kể của các truyện Nôm cùng thời.

Để thể hiện ý thức tăng cường tính xác thực trong lời kể, người kể chuyện vô hình hay nhân vật trong truyện kể lại thường hay sử dụng đại từ chỉ thị: này (72/91), đây (45/54), ấy (45), kia (28), đó (20), nọ (13)… trong lúc kể chuyện. Có khi Nguyễn Du dùng hai từ “chỉ trỏ” trong một câu như:

3011. Hai em phương trưởng hòa hai,

Nọ chàng Kim đó là người ngày xưa.

3053. Phải điều cầu Phật cầu Tiên,

Tình kia hiếu nọ ai đền cho đây.

0295. Giơ tay với lấy về nhà,

Này trong khuê các đâu mà đến đây.

1585. Khen cho những miệng dông dài,

Bướm ong lại đặt những lời nọ kia.

2963. Nàng đà gieo ngọc trầm châu,

Sông Tiền Đường đó, ấy mồ hồng nhan.

2893. Kiên trinh chẳng phải gan vừa,

Liều mình thế ấy, phải lừa thế kia

Kiểu này được Nguyễn Du dùng trong 36 trường hợp, trong đó có trên một nửa là cặp “chỉ trỏ” có tính hô ứng hoặc tạo cho nó tính hô ứng, như “đây… đấy”, “nọ… kia”, “kia… nọ”, “này… ấy”, “nọ… đó”, “đó… đây” v, v… mà chúng tôi đã xét kỹ trong chương viết về Từ trái nghĩa trong quyển Thế giới nghệ thuật Truyện Kiều). Để chỉ người, sự việc, thời gian, địa điểm… trong tác phẩm, những cặp đại từ được phân bố đều ở cả câu thơ sáu tiếng và tám tiếng, nhưng vị trí từng cặp trong câu thì rất linh hoạt…

Có khi một từ đứng ở đầu câu, một từ đứng ở cuối câu như “Này trong khuê các đâu mà đến đây” (câu 0296), có khi hai từ trong cặp đứng liền nhau ở cuối câu như “Bướm ong lại đặt những lời nọ kia” (câu 1586); có khi hai từ trong cặp đứng liền nhau ở giữa câu như trong trường hợp “Sông Tiền Đường đó ấy mồ hồng nhan” (câu 2964). Trong Truyện Kiều duy nhất có một trường hợp Nguyễn Du dùng đến ba từ “chỉ trỏ” “Tình kia, hiếu nọ ai đền cho đây”, nhưng chỉ có kia, nọ đóng vai trò “chỉ trỏ”, còn từ đây ở cuối câu đã giữ chức năng làm trợ từ. Nhưng những trường hợp này là hãn hữu, phổ biến là một từ đứng ở vế đầu câu, một từ đứng ở vế cuối câu như “Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia” (câu 0366) hay:

1035. Bốn bề bát ngát xa trông,

Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia.

0905. Mai sau dầu đến thế nào,

Kìa gương nhật nguyệt, nọ dao qủy thần.

Hay trong các tiểu đối 2-2:

0461. Đừng điều nguyệt nọ hoa kia.

Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai.

2245. Tấc lòng cố quốc tha hương,

Đường kia nỗi nọ, ngổn ngang bời bời….


5. Lời kể trong Truyện Kiều còn là những dòng trữ tình nặng chất thơ.

Truyện Kiều là một truyện thơ, trong lời kể của nó có đặc điểm vừa thể hiện chất truyện, vừa thể hiện chất thơ. Ở đây ta xét đến chất thơ trong lời kể. Phẩm chất thơ cúa Truyện Kiều được thể hiện ở các mặt sau đây: Tình cảm mãnh liệt, trí tưởng tượng phong phú, phản ánh súc tích đời sống xã hội đồng thời ngôn ngữ lại giàu hình ảnh, nhạc điệu, cô đọng hàm súc. Chất thơ trữ tình trong Truyện Kiều đã được nhiều người nói tới nhưng chất thơ được thể hiện ở những điểm nào? Chất lượng một cuốn tiểu thuyết thường được tạo thành bởi cốt truyện và chất thơ đã được nhiều nhà nghiên cứu chú ý đến. Trong tập Luận văn mỹ học của nhà nghiên cứu Trung Quốc Chu Quang Tiềm có đoạn: “Chất thơ và cốt truyện trong tiểu thuyết có quan hệ giống như hoa và giàn hoa” và “Cốt truyện trong loại tiểu thuyết hàng đầu phần lớn chỉ như cái giàn hoa ghép thành bằng những cành cây khô, tác dụng của nó chỉ là nâng đỡ những dây hoa mơn mởn, rực rỡ, ngát hương như một tấm gấm phủ trùm trên đó. Những thứ ngoài cốt truyện đó là chất thơ trong tiểu thuyết”(2). Nhưng ta luôn nhớ rằng thiếu giàn thì hoa không có chỗ nào bám víu. Quan hệ giữa sức hấp dẫn nghệ thuật của Truyện Kiều và Kim Vân Kiều Truyện cũng có phần như vậy.

Chất thơ trong Truyện Kiều trước hết được thể hiện ở cảnh vật. Nhưng cảnh vật ở đây không chỉ là kể việc như trong Kim Vân Kiều Truyện mà đã được Nguyễn Du thổi hồn vào trong đó như ta đã thấy trong những cảnh mùa xuân ở hội Đạp Thanh, ở lầu Ngưng Bích, cảnh mùa thu trên đường Kiều đến Lâm Tri… Rồi cảnh chiều tối trong ngày Thanh minh, khi Kiều từ hội Đạp Thanh trở về mà “lặng ngắm bóng nga”, cảnh đêm khuya khi nàng chạy trốn cùng Sở Khanh hay khi trốn khỏi Quan Âm Các… Chính Nguyễn Du cũng đã nêu rõ như một định luật trong câu: 1243. Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Chất thơ trong Truyện Kiều còn thể hiện khi tác giả miêu tả trực tiếp tình cảm, nội tâm của các nhân vật. Những đoạn Kim Trọng tương tư Kiều rồi tìm đến nhà nàng, Kim Trọng chia tay với Kiều để về Liêu Dương hộ tang chú, tâm sự của Thúy Kiều ở lầu xanh Lâm Tri có câu thơ trên đây và kết thúc bằng:

1269. Lần lần thỏ bạc ác vàng,

Xót người trong Hội đoạn trường đòi cơn.

1271. Đã cho lấy chữ hồng nhan,

Làm cho cho hại, cho tàn, cho cân.

1273. Đã đày vào kiếp phong trần,

Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi.

Chất thơ trong Truyện Kiều cũng còn được thấy trong lời văn và cấu trúc tự sự của lời thơ. Như chúng tôi đã có lần đề cập đến trong quyển Về những thủ pháp nghệ thuật trong Văn chương Truyện Kiều, câu thơ Truyện Kiều có một đặc điểm khác hẳn những truyện Nôm là ở cấu trúc đối xứng với hàng ngàn câu thơ có cấu trúc tiểu đối, khi là tiểu đối 2-2, khi là tiểu đối 3-3, tiểu đối 4-4… đến những kiểu đối giữa câu lục và câu bát, giữa khổ thơ trên và khổ thơ dưới… hay 4 khổ thơ bắt đầu bằng chữ Buồn trông… Chỉ xin nêu ra đây một thí dụ, như 6 dòng thơ trong cảnh Kim Trọng chia tay Thúy Kiều về Liêu Dương:

0561. Ngại ngùng một bước một xa.

Một lời trân trọng, châu sa mấy hàng.

0563. Buộc yên quẩy gánh vội vàng,

Mối sầu sẻ nửa, bước đường chia hai.

0565. Buồn trông phong cảnh quê người,

Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa.

Ở câu lục thứ nhất là tiểu đối 2-2 cuối câu sau từ láy ngại ngùng, ở câu thứ ba là câu lục có tiểu đối 2-2 đầu câu trước từ láy vội vàng. Câu thứ hai và thứ tư là những câu bát có tiểu đối 4-4 rất chỉnh: mối sầubước đường, sẻ nửachia hai, đầu cànhcuối trời, quyên nhặtnhạn thưa. Còn câu bát đầu lại vừa là đối cân vừa là đối đảo: Một lời trân trọng, châu sa mấy hàng, trong đó một lời đối với mấy hàng được tách ra ở đầu và cuối dòng thơ, còn hai từ Hán Việt trân trọng, châu sa thì ở giữa. Đoạn thơ chỉ có 6 dòng mà tạo nên một không khí buồn đau, xót xa khi phải chia ly. Những từ láy ngại ngùngvội vàng lúc ở đầu câu lục, lúc ở cuối câu lục lại đứng trước và sau một tiểu đối 2-2 cho thấy cái cảnh dùng dằng chưa nỡ rời tay của hai người. Những tiểu đối 4-4 ở hai câu bát sau như tách ra hai vế đối xứng cực tả nỗi đau ly biệt như chim quyên kêu mau ở đầu cành và cánh nhạn đưa thư vắng bóng nơi cuối trời.

Thúy Kiều là con người đa cảm đầy tâm trạng, nhất là ở những thời điểm bước ngoặt của cuộc đời. Người kể chuyện vô hình luôn đặt điểm nhìn trần thuật từ tâm hồn nhân vật nên khi kể về nhân vật có cảm xúc mãnh liệt, điều đó đòi hỏi ngôn ngữ của người kể chuyện đúng với những gì mà nhân vật phải thể hiện. Người kể chuyện vô hình nhập vai đúng đến nỗi nhiều khi ta không phân biệt được đấy là lời nhân vật hay lời người kể chuyện, chính điều này đã tạo ra chất thơ của lời kể chuyện như những câu:

2149. Thoắt trông nàng đã biết tình,

Chim lồng khôn lẽ cất mình bay cao.

2151. Chém cha cái số hoa đào,

Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi!

Ngoài ra chất thơ, chất trữ tình của lời kể được thể hiện không chỉ ở lời kể nặng cảm xúc, ở tính biểu cảm cao mà còn ở tính chất cách điệu hoá, ở đặc điểm giàu hình ảnh, nhạc điệu đồng thời còn cô đọng hàm súc trong ngôn ngữ kể chuyện như cảnh Kiều tiễn biệt Thúc Sinh 1519. Người lên ngựa, kẻ chia bào


6. Ngôn ngữ bước đầu đã được cá tính hoá.

Trong Truyện Kiều, ngôn ngữ nhân vật kể chuyện mang đậm màu sắc chủ quan, ngôn ngữ dùng khi tham gia kể chuyện bước đầu đã được cá tính hoá, mỗi người đều có một ngôn ngữ riêng. Lời kể của Vương Quan là lời kể của một người có học vấn, một văn nhân, lời kể của Kiều là lời kể của người thiếu nữ từng theo cửa Khổng sân Trình nhưng từng trải và chịu nhiều đau khổ trong đời đồng thời có ý thức sâu sắc về bản thân mình.

Đạm Tiên nói với Thúy Kiều ba lần với 30 dòng thơ (12+6+12) trong giấc mơ đều là lời ăn tiếng nói của người bạn nơi cõi âm mà lần thứ hai khi Kiều tự tử nhưng không thành ở nhà Tú Bà và “Trong mê dường đã đứng bên một nàng” là:

0995. Rỉ rằng: - “Nhân quả dở dang,

Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao?

0997. “Số còn nặng nợ má đào,

Người dù muốn quyết, trời nào đã cho.

0999. “Hãy xin hết kiếp liễu bồ,

Sông Tiền Đường, sẽ hẹn hò về sau”.

Nhân quả còn dở dang, có muốn quyết cũng không được, xin hẹn ở sông Tiền Đường - ba ý rõ ràng trong 6 dòng thơ. Và trong lần cuối cũng vậy, 12 câu chia làm 6 ý mà 2 ý cuối là:

2721. “… Đoạn trường sổ, rút tên ra,

Đoạn trường thơ, phải đưa mà trả nhau.

2723. “Còn nhiều hưởng thụ về lâu,

Duyên xưa tròn trặn, phúc sau dồi dào”.

Cũng xin nói thêm về hai câu 2721 – 2722, rất đối xứng mà về cấu trúc cũng rất hiện đại, không thể có một cách nói nào hay hơn mà rõ nghĩa hơn, Kiều đã được rút tên ra khỏi sổ đoạn trường và Đạm Tiên phải trả lại Kiều tập thơ đoạn trường.

+ Chỉ xin nêu thêm một đoạn 14 câu Thúy Kiều kể cho mẹ nghe về Mã Giám Sinh là ta thấy:

0877. – “Hổ sinh ra phận thơ đào,

Công cha nghĩa mẹ, kiếp nào trả xong!

0879. “Lỡ làng nước đục bụi trong,

Trăm năm để một tấm lòng từ đây.

0881. “Xem gương trong bấy nhiêu ngày,

Thân con chẳng kẻo mắc tay bợm già.

0883. “Khi về bỏ vắng trong nhà,

Khi vào dùng dắng, khi ra vội vàng.

0885. “Khi ăn khi nói lỡ làng,

Khi thầy khi tớ, xem thường xem khinh.

0887. “Khác màu kẻ qúyngười thanh,

Ngẫm ra cho kỹ như hình con buôn.

0889. “Thôi con còn nói chi con,

Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người!”

Với 14 dòng thơ, từng từng lớp lớp, chia làm 7 ý rất rõ ràng: Phận gái đi lấy chồng xa, bao giờ mới trả được công cha nghĩa mẹ, nay lỡ làng rồi xin để lại tấm lòng nhớ thương cho cha mẹ, đành Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người, và 4 ý ở giữa nói về Mã Giám Sinh (chẳng kẻo mắc tay bợm già, hành tung của hắn, thái độ với mọi người, có lẽ là con buôn),

Trong khi ở Kim Vân Kiều Truyện phải kể lại dài dòng, xin nêu ra ở đây để so sánh:

Nàng đáp: - Thưa mẹ, người ta thường nói: bước chân vào cửa, liếc mắt ba cái đã hiểu quang cảnh trong nhà. Nghe ba câu nói đã biết tư cách con người. Vậy nay con xem người ấy, đối với nô bộc, bên ngoài ra vẻ tớ thầy, nhưng xét rõ bên trong cá mè một lứa, đâu phải nề nếp đại gia? Chỉ khéo đóng vai mô phạm, để lừa thiên hạ đó thôi.

Còn như việc mua tiểu thiếp, chẳng tiếc mấy trăm lạng bạc, đó là hành vi của nhà phú hộ. Nhưng xem anh này có vẻ ma mãnh, đâu phải là khách hào hoa? Chả thế mà sau khi đón dâu về phòng, thấy y có vẻ dùng dằng, tựa như không dám thành thân. Cho mãi đến lúc canh khuya, mới thấy nhập phòng. Thử hỏi hạng người thiên kim mãi thiếp (ngàn vàng mua thiếp) đâu lại như thế? Chẳng qua là hạng mượn tiếng mua thiếp để làm món hàng sinh lợi chi đây. Hơn nữa, nếu phải là nhà cự phú, dám bỏ một món tiền lớn để mua nàng hầu ở nơi thành thị, nhẽ đâu lại chả lưu lại hàng năm để mà tiêu dao cho phỉ chí. Cớ sao vừa mới hôm trước thành thân, mà sáng hôm sau đã toan quay gót?

Lại như bảo rằng: Vì lẽ sợ oai vợ lớn, cho nên chẳng dám ở lâu, vậy đã sợ oai sao lại còn dám đi mua tiểu thiếp? Mua thiếp đem về để tống vào hàm sư tử hay sao? Thực là vô lý.

Vậy cứ ý con, thì anh chàng này chưa chắc đã có vợ cả và nơi trú quán chưa chắc đã phải Lâm Thanh. Chẳng phải cưới con làm vợ, mà chỉ cưới con để làm mối hàng. Nếu không thì anh chàng này cũng là chủ một nhà hát chi đó?

Khả nghi nhất là trong khi nhắc đến vợ cả, xưng hô có vẻ nhỡ nhàng, lúc gọi Tú Bà, lúc kêu má má, có lúc kêu là đại nương chứ không nhất định, và con lại thấy bọn gia nhân nói với y rằng: Này này ở nhà đợi người lâu lắm rồi đó, kíp nên thu xếp về ngay. Y đáp: Phải, tôi biết Tú Bà có tính đa nghi, e rằng bà ấy sẽ lại kiếm chuyện. Chỉ vì hôm nay có việc đang dở, không còn cách gì thoát thân, thôi đành để đến ngày mai ta đi sớm vậy.

Lại như sáng nay, bọn gia nhân kia vào đánh thức con, chúng kêu ngay rằng: Thúy Kiều, Thúy Kiều, mau mau thức dậy, chải đầu ăn cơm. Thấy vậy con liền đưa mắt nhìn chúng. Chúng bèn đổi giọng: À quên, dì nương, dì nương.

Thử hỏi, khắp trong thiên hạ, có người vợ thiếp của ông chủ nào lại bị gia nhân coi rẻ như vậy? Ay là còn bao nhiêu chuyện đáng nghi, con không kể xiết. Nhưng chỉ mấy điều đó cũng chứng tỏ rằng: Nhà này chẳng phải là nhà lương thiện. Thôi thì thân con ngày nay cũng đành sống gửi đất khách, thác chôn quê người, phó mặc ông xanh định đoạt”.

Có so sánh như trên mới thấy lời kể của nàng Kiều trong Đoạn Trường Tân Thanh rất cụ thể, rất văn hóa mà đầy tính văn học.


7. Lời kể trong Truyện Kiều giàu sắc thái dân gian.

Tính chất dân gian trong ngôn ngữ kể chuyện của Truyện Kiều trước hết được thể hiện ở việc sử dụng tục ngữ, thành ngữ, ca dao trong lời kể. Như chúng tôi đã nêu rõ trong bảng thống kê, trong Truyện Kiều có tới 376 thành ngữ, 49 câu tục ngữ và 20 câu ca dao gắn với những câu Kiều (Xin xem phần: Truyện Kiều và văn học dân gian trong quyển Thế giới nghệ thuật Truyện Kiều). Như vậy là có trên ba trăm trường hợp ca dao, dân ca, thành ngữ và Truyện Kiều chịu ảnh hưởng lẫn nhau, xâm nhập lẫn nhau.

Khi kể chuyện, Nguyễn Du cũng đã sử dụng cả ngôn ngữ sinh hoạt đời thường, dân dã nên Truyện Kiều mới đến được với quần chúng nhân dân. Những hình ảnh, tiếng nói của đời thường được sử dụng hợp lý trong lời kể đã có tác dụng bộc lộ bản chất nhân vật và sự kiện kể lại cũng cho thấy rõ thái độ của người kể. Như những từ thông tục: mặt mo chỉ Sở Khanh, giống bơ thờ trong câu Hoạn Bà mắng Thúy Kiều…, những thành ngữ đầu trâu mặt ngựa, phường trốn chúa, quân lộn chồng, mèo mả gà đồng

Nguyễn Du còn học tập và sử dụng rất nhiều ở ca dao, và nhiều câu ca dao cũng chịu ảnh hưởng của Truyện Kiều. Các biểu tượng truyền thống của ca dao đều có trong Truyện Kiều như trăng (38, nguyệt 11) – hoa (107) – trời bể (85+24) – non nước (14+48) – gió mưa (49+23) – bèo mây (10+49) – tơ liễu (27+15) – ong bướm (8+7) – mận đào (2+22) – trúc mai (5+8) – vàng đá (44+14)… Số trong ngoặc lấy từ quyển Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh.

Tính chất dân gian của lời kể còn được thể hiện ở việc sử dụng những biện pháp tu từ quen thuộc của văn học dân gian như: so sánh, ngoa dụ, lộng ngữ, điệp ngữ, ẩn dụ… Với việc sử dụng thành thục câu văn vần lục bát trong tác phẩm, lời kể của Nguyễn Du trong Truyện Kiều là lời kể có tính văn học cao, là lời kể vừa có chất thơ, chất truyện, gọn gàng cụ thể, chính xác, nặng chất trữ tình và chất dân gian. Một thứ ngôn ngữ kể chuyện đã được cá tính hoá, mang đậm màu sắc chủ quan, đậm sắc thái tình cảm. Với những đổi mới về mặt lời kể so với những truyện Nôm đuơng thời, lời kể chuyện ở đây đã có một số đặc điểm của lời kể chuyện trong tiểu thuyết ngày nay.


Trích trong Thế giới nghệ thuật Truyện Kiều

1 Theo bản dịch của Nguyễn Đức Vân – Nguyễn Khắc Hanh

2 Theo Trần Đình Sử trong Thi pháp Truyện Kiều.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển ngày 24.4.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004