Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


Hình tác giả chụp trước cổng
Kinh Dương Vương ngày 31/3/2017




Lễ hội các dòng họ Việt Nam nhân Giỗ Tổ Hùng Vương

Dòng Họ Ma và Dân Ca Quan Họ

trong Đời Sống Văn Hóa Việt Nam








1-Dòng họ Ma và Di cảo về 18 Chi Hùng Vương Chia sẻ


Ông tộc trưởng của họ Ma ở tỉnh Phú Thọ cho rằng dòng họ mình có từ thời các vua Hùng, đồng nghĩa với việc đây cũng là dòng họ lâu đời nhất Việt Nam hiện nay. Dòng họ này có 79 đời.

Trong ngôi nhà nhỏ ở phường Gia Cẩm, TP Việt Trì (Phú Thọ), ông Ma Ngọc Bảo đưa cho chúng tôi xem cuốn gia phả của dòng họ đã được chuyển sang thành chữ quốc ngữ, với 79 đời tộc trưởng. Ông Bảo năm nay đã ngoài 70 tuổi nhưng trông vẫn rất tráng kiện, hiện nay là tộc trưởng thứ 77. Tộc trưởng đầu tiên là ông tổ Ma Khê mất năm 259 trước Công nguyên, thọ 95 tuổi. Người trẻ nhất trong gia phả là cháu đích tôn của ông Bảo: Ma Tân Thành, năm nay 7 tuổi, thuộc về đời thứ 79.

Cụ Ma Văn Thực (1917-2004), thân sinh của ông Bảo, vừa theo Hán học , vừa theo Tây học, là người được cha mình là cụ Ma Văn Thị (1878-1950) giao cho giữ tộc phả và hàng năm lo việc cúng tế giỗ chạp tổ tiên. Ông Ma Ngọc Bảo trầm ngâm: “Thời chiến tranh, các bản gốc của gia phả bị hủy hoại hoặc thất lạc. Nhưng cha tôi đã kịp chuyển thành chữ quốc ngữ” . Sau này ông Bảo sao ra nhiều bản để gửi cho các chi nhánh dòng họ Ma ở Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang…

Có rất nhiều điều mang tính truyền thuyết xung quanh cuốn gia phả dòng họ này, nhưng lại còn những dấu tích nằm trong dư địa chí miền trung du Phú Thọ. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Phú Thọ, Nguyễn Hữu Nhàn cho biết: “Truyền thuyết về dòng họ Ma gắn liền với thời Hùng Vương thứ 18, đồng thời cũng gắn liền với những ngôi đền thờ, tên núi, tên sông nay vẫn còn tại tỉnh Phú Thọ. Đó là đền Kim Giao thờ ông Ma Khê, tại xã Văn Khúc, huyện Cẩm Khê. Tương truyền bộ tộc người Tày họ Ma dưới chân núi Đọi Đèn ở đây đã triệu tập binh mã giúp Hùng Vương đánh thắng giặc, giữ yên bờ cõi cho nước Văn Lang”.

Họ Ma lúc này cũng xây thành lấy tên là Ma Thành, nhưng để tránh từ “ma” trong tiếng người Việt nên gọi là thành Mè. Nay ở thị xã Phú Thọ vẫn còn chợ Mè, bến (sông) Mè… 

Theo ông Ma Ngọc Bảo, kể từ sau đời cụ tổ Ma Khê, họ Ma lui về ẩn dật, làm ruộng. Mãi cho đến đời thứ 43, một người con của dòng họ là Ma Xuân Trường (930-966) đã đi vào sử sách nước nhà. Đó là thời nhà Ngô tan rã, đất nước rơi vào loạn 12 sứ quân. Vùng phía Bắc do một người là Kiều Thuận cai quản với một vị tướng dưới quyền là Ma Xuân Trường. Trong cuộc chiến 12 sứ quân, Ma Xuân Trường có công giải cứu Kiều Thuận khi đã bị thương. Sau đó Ma Xuân Trường đưa cả họ tộc chạy lên Tuần Quán, Yên Bái thì qua đời tại đây, thọ 36 tuổi. Hiện ở Tuần Quán vẫn còn miếu thờ ông.

Sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên làm vua, lấy hiệu Đinh Tiên Hoàng. Ông đã không trị tội Kiều Thuận, mà để an dân, ông còn phong danh hiệu “Trung quân ái quốc”, và ban cho dân lập đền thờ.

Ngôi đền ấy giờ đây nằm bình yên, nép bóng bên con đường làng xanh tươi ở làng Trù Mật , thị xã Phú Thọ. Ngôi đền được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia này được xây vào năm 970 và nay đã được trùng tu nhiều lần. Nơi đây thờ “Cương nghị đại vương” Kiều Thuận và “ Ma tộc thần tướng” Ma Xuân Trường.

Người trông coi ngôi đền, mà dân là ở đây gọi một cách kính trọng là cụ Từ, râu tóc bạc phơ, đã ngoài 90 nhưng hàng ngày vẫn đạp xe tới đây để trông coi nhang khói. Cụ cho tôi xem những cuốn sách chữ Hán đã úa vàng ghi lại lịch sử ngôi đền. Những tờ giấy mềm tới mức cảm giác sẽ vỡ vụn ra ngay khi sờ mạnh tay, nhưng đã sống sót qua bao cuộc chiến tranh, và sống luôn trong tâm khảm của con cháu dòng họ Ma bây giờ.
Truyền thuyết về dòng họ Ma gắn liền với tín ngưỡng thờ Hùng Vương, mà tín ngưỡng này - theo lời nhà sử học danh tiếng Đào Duy Anh, gắn liền với sự hình thành một dân tộc: “Cuối thời Bắc thuộc , chúng ta thấy trong văn hóa của tổ tiên đã nổi bật những nét chung rõ rệt là sự sùng bái tổ tiên, những phong tục chung như nhuộm răng ăn trầu, búi tóc, những tập truyền chung như truyền thuyết con Rồng cháu Tiên, truyền thuyết Sơn tinh Thủy tinh, truyền thuyết Nỏ thần v.v…”.

Nhà sử học Đào Duy Anh nhấn mạnh: “Song ở trên nền văn hóa chung ấy thì nổi bật tinh thần độc lập bất khuất nẩy mầm trong cuộc kháng chiến của người Lạc Việt chống quân Tần ở thế kỉ 3 trước Công nguyên, và được rèn luyện trong một quá trình đấu tranh hơn mười thế kỷ. Tinh thần ấy là tiêu biểu cho cái tâm lý chung, kết tinh của nền văn hóa chung, chính nó chứng tỏ hùng hồn rằng tổ tiên chúng ta có một ý thức dân tộc mạnh mẽ”.

Những câu chuyện về ông tổ Ma Khê có từ thời vua Hùng thuộc về dạng truyền thuyết mà nhà sử học Đào Duy Anh gọi là “truyền thuyết khuyết sử”, nhưng lại trở nên rất thiêng liêng, là niềm tự hào của con cháu dòng họ Ma bây giờ.

Ông Bảo cho chúng tôi biết: “Vì dòng họ Ma rất đông, sinh sống ở khắp nơi nên năm 1902 các cụ đã họp lại, chia nhỏ thành ba nhóm cho tiện bề sinh hoạt cúng tế tổ tiên. Nhóm trưởng giữ ngọc phả của dòng họ, nhóm thứ hai giữ thanh đao thờ, còn nhóm thứ ba giữ ngựa gỗ thờ của tổ”.

Con ngựa gỗ giờ đã thất lạc, nhưng thanh đao sắt thì vẫn còn ở đền thờ Trù Mật, nơi con cháu dòng họ Ma hàng năm vẫn tụ hội về đây để tưởng nhớ cha ông.

Theo tìm hiểu của tác giả, trong kháng chiến chống Pháp ở ATK, Bác Hồ bệnh nặng nhưng được bình phục ngay sau đó nhờ vào củ sâm lâu đời của gia đình ông Ma Văn Tập tặng.

Ông Ma Ngọc Bảo đời thứ 77 đã tặng cho tác giả Di cảo 18 đời vua Hùng Vương năm 2014. Nhờ công bố và phổ biến này mà hiện nay làm sáng tỏ dòng họ Hùng có 18 Chi gồm 90 vua đều mang họ Hùng trị vì từ 2970-258 trước TL. Đây là di sản văn hóa vật thể của họ Hùng mà họ Ma bảo tồn trên 4.000 năm lịch sử dựng nước.

Ngày 31/3/2017, tác giả đã tới viếng Lăng Kinh Dương Vương nằm bên bờ sông Đuống thuộc huyện Thuận Thành (Luy Lâu cổ) tỉnh Bắc Ninh gặp hai họ mới lạ : Biên và Hữu, cho là xưa nay hai dòng họ này gắn kết nhiều đời với lăng mộ Kinh Dương vương (dù là mộ gió) ở ngay dưới chế độ cai trị hà khắc 1.000 năm của các triều đại phương Bắc.

Họ Ma, Biên, Hữu là họ hiếm thuộc dân tộc Tày nên lưu truyền hạn chế trong cộng đồng người Kinh.

Sau 18 đời Hùng Vương gồm có 90 vì vua theo Di cảo đã tuyệt tự nên Di cảo phải giao cho họ khác là họ Ma gần kề, tin cậy. Hơn nữa, trong thời kỳ đó, thù trong giặc ngoài bắt đầu manh nha vương quốc Văn Lang : phía Bắc nhà Tần hùng mạnh được thành lập đang lăm le xâm lấn phương Nam và đã chính thức xâm lấn năm 111 trước CN, nội địa có Thục Phán và cháu là ngoại tộc (gốc Ba Thục) mưu toan cướp ngôi vua (có sử cổ nói đã ép vua Hùng thứ 18 tự tử). Di cảo vua Hùng buộc phải truyền cho họ Ma, dân tộc Tày thân tín và có công với đất nước Văn Lang. Họ Ma dân tộc Tày không thuộc họa “tru di tam tộc” của nhà Hán nên dễ dàng mai danh ẩn tích bảo quản Di cảo.


2-Dân ca Quan Họ, nguồn gốc và ý nghĩa


2.1 Nguồn gốc :


-Đã lâu lắm, từ thời thượng cổ, nhân dân (họ) hai làng Lũng Giang và Tam Sơn giao hảo với nhau rât thân mặt. Hễ làng nào có việc “quan, hôn, tang, tế” thì làng này báo cho làng kia để dân làng cử vài người làm đại biểu đem đồ lễ sang, hoặc viếng hoặc mừng nhà hữu sự. Làng Tam Sơn hàng năm cứ tháng giêng có lễ vào đám cúng thành hoàng, trong làng mở hội. Các cụ bên làng Lũng Giang sang chơi. Sáng ngày 13 tháng giêng họ họp nhau từ năm đến bảy cụ ông, từ năm đến bảy cụ bà và một số đông nam nữ biết hát, họ kéo sang Tam Sơn dự hội. Bên Tam Sơn cung cử một số người ra thù tiếp bạn. Sau khi đã ngồi trên dưới thứ tự tại đình thì bắt đầu hát. Trai bên này hát, gái bên kia đáp, còn các cụ thì ngòi nghe. Rồi từ đó mà di truyền tới ngày nay.

-Cách đây nhiều đời, hai người (hai họ), một quê ở Điềm, một quê ở Bịu, đều làm quan thị vệ ở trong triều và chơi thân với nhau. Đến khi về hưu, hai quan thị vệ này giao ước kết bạn đi lại. Nếu ở làng ai có cuộc vui (cưới xin, khao lão…) thì mời cả hai họ về dự. Thời đó nhân dân đã biết hát Đúm (Đối) nên hai họ đều đem ra hát đối đáp với nhau. Từ đó lưu truyền thành tục lệ (lễ hội) : cứ hội Bịu tháng giêng, hội Điềm tháng 8, sau này thêm Hội Lim đặc biệt nhất người ta lại tụ họp để ca hát, vui chơi. Từ đó, gọi hát “quan họ” thay cho hát Đúm.

Từ đời Lý, Lê, người tham gia đã giảm dần tính chất nghi lễ, tăng cường tính chất trữ tình và ngày càng sáng tác đa dạng hơn các thể loại liên quan Dân ca quan họ. Tới nay có trên 76 làng có hát quan họ trên địa bàn rộng lớn của các tỉnh quanh sông Cầu như Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn. Do đó, có ngày diễn ra ba bốn làng cùng hát quan họ, hát ngày này qua ngày kia, kể cả ban đêm; hát trong nhà, trong đình và cả bên ngoài, trên đường, trên sông. Vào những ngày lễ đình, chùa hát quan họ diễn ra chung với các trò chơi dân gian của địa phương như kéo co, cướp cầu, đánh cờ, đánh đu, đá gà, đánh côn…

Như vậy, từ hai họ tới nay đã kéo theo nhiều họ, làm thành đời sống văn hóa vô cùng khởi sắc và hấp dẫn, trở thành phong tục tập quán của vùng trung du Bắc Bộ, đặc biệt tập trung ở tỉnh Bắc Ninh, nơi phát sinh và phát triền nền văn học (hát quan họ) nghệ thuật (Tranh Đông hồ, Múa rối nước) lâu đời. Di tích tượng Tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) nằm quanh chùa Dâu trong khu vực thành Luy Lâu (nay đã phế tích, chỉ còn khu đất hoang gần lăng mộ Sĩ Nhiếp (187-226) – Thái thú đời nhà Đông Hán cai trị Giao Chỉ). Sau Tứ pháp, đạo Nho (Khổng) và đạo Phật xuất hiện tạo ra nền văn hóa Ấn Độ - Trung Hoa có ảnh hưởng lâu đời trên đất nước Việt Nam.


2.2 Ý nghĩa và sự thể hiện xưa, nay :


Dân ca quan họ Bắc Ninh bao gồm nhiều dòng họ lớn, nhỏ, xưa và nay vô tình đã tạo thành một sự đại đoàn kết dân tộc sâu sắc và độc đáo của vùng trung du Bắc Bộ mà ngày xưa được tôn vinh là Kinh Bắc – Hà Bắc (trên sông Hồng) của nền văn hóa – lịch sử Việt Nam một thời, trên 1.000 năm Bắc thuộc. Sau 1.000 năm nay là thời kỳ tự chủ, độc lập của dân Việt, kể từ nhà Ngô (Ngô Quyền). Từ năm 1010, Thăng Long và vùng Kinh Nam (dưới sông Hồng) mới bắt đầu khởi phát và phát triền tới 1.000 năm sau.

Dân ca quan họ gắn liền với đời sống dân tộc từ ngày lập quốc Xích quỷ (Đất đỏ phương Nam, không nên hiểu lầm với Quỷ đỏ) và Văn Lang tới nay là Việt Nam. Sự ra đời của nó lúc đầu là hai họ, hai làng và ở khu vực Kinh Bắc nằm giữa ba con sông Thương, Cầu và Đuống, phía Bắc sông Hồng từ thời kỳ đầu Bắc thuộc ngàn năm. Hai họ hay vài họ nữa sau thời kỳ bị quan lại nhà Hán truy quét, tiêu diệt trong đó có ba họ có thanh thế hoặc là nhà cầm quyền lớn nhất là họ Hùng, Thục và Trưng do sợ các dòng họ này trổi dậy phản kháng, chiếm lại đất nước. Về sau, tới thời kỳ Lý Bôn, Lý Bí mới có dòng họ dân Việt xuất hiện do chế độ nhà Hán và các đế chế kế tiếp đã cho rằng dân Việt đã bị đồng hóa thuần thục không còn đầu óc kháng chiến nữa. Hơn nữa, số lớn quan lại được cử sang cai trị Giao Chỉ - Giao Châu đã được đào tạo ở phương Bắc (mẫu quốc) hoặc là những người đã “lai Tàu” trong nước hay ngoài nước Văn Lang cũ. Dù lai nhưng vẫn giữ được gốc Lạc Việt qua câu thơ : Lược đồi mồi mà chải tóc quăn/ Chải đứng chải ngồi, quăn vẫn còn quăn.

Nhưng họ quên rằng dân Hán, Đường, Ngô… ở các tỉnh giáp biển Đông Trung Quốc là dân gốc Lạc Việt đã tách ra từ thời Lạc Long quân chia tay cùng Âu Cơ. Dân của Hùng Vương là một trong 50 người con theo mẹ lên núi (vùng Ngũ Lỉnh, Động Đình hồ) lập ra nước Văn Lang. Còn 50 người con theo cha đi về hướng đông (xuống biển) lập nghiệp ở các tỉnh từ Chiết Giang tới Quảng Châu, Hải Nam…

Khi các quan từ phương Bắc được cử sang cai trị Giao Chỉ như Sĩ Nhiếp đều có gốc dòng họ Lạc Việt nên khi sang cai trị Giao Chỉ thì hòa hoãn, nhân từ nên được dân Việt thương mến, như Sĩ Nhiếp từ thế kỷ thứ II tới nay vẫn được người dân ở đây thương nhớ, giữ gìn lăng mộ. Đạo Phật, đạo Khổng và trước đó là Bà La môn giáo (di tích các chùa đền Tứ pháp, trong đó có chùa Dâu) nằm quanh khu vực Luy Lâu) đều được truyền sang và phát triển ở Luy Lâu (nay là Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh).



Sơ đồ khu vực chùa Dâu và phế tích Luy Lâu.


Hát quan họ lúc đầu phát sinh còn bí mật để tạo cơ hội cho các dòng họ gặp gỡ và được che giấu qua các hình thức thể hiện là ca múa hát…mời gọi ở lại nhà (để đàm đạo hay tâm sự với nhau). Có thể vì ban đầu còn cùng huyết thống của dòng họ nên “đàng chị”, đàng em” không được kết hôn với nhau. (Điều cấm kỵ trong dân ca quan họ)

Dân ca quan họ ra đời trong điều kiện như thế nên chỉ phát triển trong khu vực Kinh Bắc hay trong tỉnh Bắc Ninh. Chỉ sau này, sau ngày đất nước thống nhất và hòa bình (1975) thì dân ca quan họ mới phát triển ra khỏi khu vực trên trở thành ngày hội rất náo nhiệt. Tới nay, riêng ở khu vực này đã có tới 60-70 làng có hát quan họ.

Ngày nay, nó đã theo các dòng họ lan truyền tới miền Nam tạo nên một sắc thái dân ca miền Bắc với dân ca miền Nam là đờn ca tài tử Nam Bộ. /.



. @ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 16.4.2017.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004