Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





VĂN THI SĨ PHÁP VỚI HUẾ










    D ưới thời Pháp thuộc, số người Pháp sang Việt Nam, ngoài những tên thực dân, còn có các vị bác sĩ, những nhà khoa học và văn nghệ sĩ làm việc hoàn toàn vì khoa học và văn học nghệ thuật. Nhiều người Pháp đã đến Huế - vì hồi ấy Huế là đế đô của Việt Nam – và đã yêu cảnh trí thiên nhiên nơi đây nên có những bài văn, bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của Huế chân thành và tha thiết.

Nữ văn sĩ A. DE ROTALIER viết một tập du ký nhan đề “Comme les jours passent” (Tháng ngày qua) xuất bản tại Hà Nội năm 1943 trong đó tác giả kể lại những điều tai nghe mắt thấy trong chuyến đi thăm Tunisie (châu Phi) và bán đảo Đông Dương. Tác giả trình bày những suy nghĩ, cảm xúc chân thành của mình đối với đất nước và con người những nơi đã đi qua, văn phong nhẹ nhàng mà sâu sắc.

Trong phần viết về Đông Dương có bài “Ville royale” (Thành phố vương giả) tả phong cảnh và con người xứ Huế với những cảm tình đặc biệt. Xin trích vài đoạn:

“Huế, thành phố của truyền thống và lịch sử, thành phố đài các vô cùng hấp dẫn: màu sắc, những đường nét, con sông, những ngôi mộ, cảnh quan, những ngôi nhà khiêm nhường mà ở nơi thích hợp, giữa thông và hoa, những con người thanh nhã hơn những con người thô tháp của ta ở xứ Bắc Kỳ.

Thành phố của văn nhân, thành phố của hiền triết, thành phố huyền bí đàng sau những thành quách của cung đình nghiêm cấm. Ở đấy, thời gian trôi từng giọt, từng giọt không một chút bồn chồn hay vội vã như dòng nước hững hờ chảy qua… Thành phố của mộng mơ trong cái yên ả của bao nhiêu lăng tm giữa những cánh rừng và của làn nước trong những hồ sen hoa nở.

… Nếu du khách còn muốn thưởng thức khí vị của đồng quê trong vùng thì theo con đường lên lăng Gia Long, băng qua những cánh rừng, vào buổi chiều khi mặt trời sắp lặn. Trang nghiêm biết bao! Hài hòa biết bao! Hùng vĩ và thiêng liêng biết bao! Những cây nở hoa kia, những khung sân đất kia, những khối đá kia, đen xám với thời gian, và những làn nước kia thiêm thiếp trên tấm thảm xanh đầy hoa. Mặt trời lặn rà sát những ngọn tre cao, giát vàng chốc lát những trụ biểu trước lăng mộ, chiếu sáng những đóa sen, khiến cho cái thiên nhiên phong phú – nơi yên nghỉ của người thiên cổ - rạng rỡ lên như một viên ngọc bích. Một bài thơ trang nhã và hài hòa!”

Lê Nguyễn Lưu dịch (La ville royale)


***



Nhà thơ HENRI GUIBIER có bài thơ tả cảnh đêm trên sông Hương (Nocturne sur le Fleuve des Parfums) rất đặc sắc. Bài thơ toát lên nỗi buồn êm ái, dịu dàng lan tỏa của sông Hương về đêm; âm thanh cũng nhẹ nhàng, êm ả, không gây tiếng động mạnh có thể làm xáo trộn cái cảnh tĩnh mịch của dòng sông: làn gió hiu hiu thổi, sông Hương chảy lặng lẽ, êm đềm, chiếc thuyền con với nhịp chèo nhẹ nhàng lướt trên dòng nước, mặt trăng nhợt nhạt như vết thương lòng tê tái… Hình ảnh và âm thanh hòa hợp tạo nên cảnh êm ả, lạnh lùng và buồn tẻ trên mặt sông.

Tác giả khéo dùng các điệp ngữ: alanguie, alentie, mélancolie… để nhấn mạnh cảnh lặng lẽ, tĩnh mịch của sông Hương về đêm.


NOCTURNE SUR LE FLEUVE DES PARFUMS


Du soir la tiédeur alanguie

Berce mon âme en sa douleur,

Du fleuve la course alentie (1)

Berce la barque avec douceur.


La barque obéit, endormie

Aux coups réguliers du rameur.

Mon âme tressaille, meurtrie

Aux coups de la vie dans mon cœur.

Et mon âme vogue, alanguie,

Au rythme alenti de mon cœur.

Et la barque vogue, alentie

Au rythme alangui du rameur.


La lune paraît, très pâlie

Dans sa maladie de langueur,

Et répand sa mélancolie

Sur la nature et dans mon cœur.


Mon âme en sa mélancolie

Berce doucement sa douleur,

La barque en sa course alentie

Berce mon âme en sa langueur.


HENRI GUIBIER


Bản dịch của Lệ Chi NGUYỄN VỸ:


ĐÊM TRÊN SÔNG HƯƠNG


Hơi gió hiu hiu của ban đêm

Ru hồn ta trong cơn tê tái.

Nước sông Hương lặng lẽ êm đềm

Ru chiếc thuyền ta bơi êm ái.


Thuyền ta thiu thiu ngủ, lênh đênh

Theo nhịp mái chèo bơi êm ái.

Tâm hồn ta rên rỉ, buồn tênh,

Theo cơn sóng trần duyên tê tái.


Hồn ta bơi lướt qua, buồn tênh,

Trên lớp sóng trần duyên tê tái.

Thuyền ta bơi lướt qua, lênh đênh

Theo nhịp mái chèo bơi êm ái.


Trăng soi trên đỉnh núi đầu ghềnh

Nhợt như vết thương lòng tê tái.

Và trong cõi lòng ta mông mênh

Trăng rủ một cơn buồn êm ái.


Tâm hồn ta rên rỉ, buồn tênh

Ru vết thương lòng ta êm ái.

Thuyền ta trên mặt nước lênh đênh

Ru tâm hồn ta thêm tê tái.


***


Nhà thơ HENRI DE ROUVROY tên thật là HENRI COSSERAT là người Pháp nhưng rất yêu Huế, sinh sống tại Huế, lấy vợ Huế và mất tại Huế năm 1937, thọ 67 tuổi. Tập thơ Huế của ông xuất bản khoảng năm 1927, gồm toàn những bài thơ viết về Huế mà bài “Aube sur le Hương Giang” (Bình minh trên sông Hương) được nhiều người ưa thích.

Bài thơ làm theo thể Sonnet (2) tả cảnh bình minh trên sông Hương khi ánh ban mai bắt đầu ló dạng ở phương Đông, xua tan bóng đêm còn lẩn khuất trên mặt sông. Một chiếc xuồng tam bản nhẹ nhàng lướt trên dòng nước không gây một tiếng động nào. Tác giả ví cảnh ấy như bức tranh Nhật Bản của một họa sĩ tài danh.

Rồi trời sáng hẳn, biết bao ghe thuyền tưng bừng nhộn nhịp, giăng đầy trên sông như một đàn nhện khổng lồ.

Bài thơ biểu lộ lòng yêu Huế thiết tha của tác giả.


AUBE SUR LE HƯƠNG GIANG


Une femme à l’avant – dont les hanches ondulent –

Un sampan mollement glisse dans le matin.

A l’Orient, là-bas, les ténèbres reculent

Et le ciel prend les tons adoucis d’un satin.


Comme un kakémono (3) qu’un bel artiste a peint,

Voici qu’apparaît l’aube où des voix d’or modulent

Des refrains aussi lents que la chanson des pins

Au lointain, sur les eaux, des rubis s’accumulent.


L’horizon cristallin est transparent et nu,

Il règne au bas du ciel, d’un azur inconnu,

Une vapeur d’encens dont l’aurore est baignée.


Alors, sur le Hương Giang tout chargé de sommeil

S’animent les sampans et les jonques, pareils

Dans le jour naissant, à d’étranges araignées.


HENRI DE ROUVROY


Bản dịch của Lê Văn Lân:


BÌNH MINH TRÊN HƯƠNG GIANG


Nàng đứng mũi – đáy lưng mềm uyển chuyển –

Chèo con thuyền tam bản lướt bình minh.

Phương Đông rạng, kìa… bóng đêm lui bước

Và da trời dịu sắc tựa sa tanh.


Như tranh Nhật của danh tài thuở trước,

Trong ánh mai… lắng nghe trỗi giọng vàng.

Những câu hò, thông reo khoan gió lướt

Mịt mù xa, ngấn nước ngọc hồng lan…


Trời pha lê, phơi trần và trong vắt,

Dưới gầm trời đượm ngắt một màu xanh

Của khói nước và bình minh tắm ngập


Khắp giải Hương còn ngái nồng giấc điệp,

Bao xuồng ghe đã tưng bừng nhộn nhịp

Nương ánh ngày giăng túa nhện trên sông./.


1. Có sách chép ralentie.

2. Sonnet: thập tứ cú thi, một thể thơ của Pháp rất được ưa chuộng vào thế kỷ XIX, mỗi bài gồm 14 câu, hai khổ đầu mỗi khổ 4 câu, hai khổ sau mỗi khổ 3 câu.

3. Kakémono: bức tranh Nhật Bản.



Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ SàiGòn ngày 14.4.2017 .

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004