Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





HÒA THƯỢNG PHẠM QUANG TUYÊN








  T hường gọi là cụ Cổ ( húy là Viêm tự Quang Tuyên, pháp hiệu là Giác Linh, sinh năm 1951 tại Quần phương trung, huyện Hải Hậu nam Định). Xuất thân trong một gia đình Trung lưu phúc hậu, thân phụ là ông Phạm Đức Miện một bậc túc nho trong làng, thân mẫu là bà Trần Thị Hương hiệu Từ Hoa một gia đình có truyền thống kính tín đạo Phật. Thủa thiếu thời ngài có tư chất thông minh hiếu học, từng dự các khoa thi triều Nguyễn và đã đỗ cử nhân. Do có tri thức và lòng yêu nước nên cuối thế kỉ XIX ngài tham gia phong trào Cần Vương. Khi vua Hàm Nghi bị bắt, Tôn Thất Thuyết trốn sang Trung Quốc, phong trào Cần Vương thất bại, chí nguyện xả thân vì nước không thành, người không thể đi với bọn người giá áo túi cơm xênh xang dưới bóng kẻ ngoại bang nên đã từ bỏ con đường công danh ảo mộng, cuộc đời giả huyễn vô thường chọn cửa Thiền làm nơi gửi gắm tâm nguyện với dân với nước. Người là một trong số học trò giỏi của sư tổ Liên Phái trở thành một luật sư ( ngài chuyên làm luật nhà phật)

  Khoảng ngoài năm 1890 ngài về Xuân Thủy xuân trường Một mảnh đất đa phần là bãi lầy đầy sú vẹt đến thế kỉ thứ XV mới hội tụ cư dân các nơi về đây quai đê lấn biển khai hoang, thau chua rửa mặn hình thành lên làng xóm. Có người là có chùa thờ Phật, mỗi làng đều có một chùa tuy nhiên trước đây ngôi chùa cũng chỉ là dắp đất, tranh tre lứa lá Nhưng từ khi về ngài đã vận đông nhân dân trong làng  đốt vôi , đóng gạch, khai thác vỏ sò ven biển để xây chùa Thủy Nhai. Ngôi chùa được hình thành giống như ngôi chùa hiện nay nhưng to cao lông lẫy hơn. Phía trước chùa có hồ nước thả cá. Có cầu bắc qua ao để vào chùa. Phía trước ao chùa có cổng tam quan nguy nga to đẹp. HT Phạm Quang Tuyên đã có bài thơ:

Thủy Nhai sơn thủy hữu tình

Quy mô nội ngoại in hình bày ra

Đào dương cảnh sắc lớn thay

Không đầy một tháng lên ngay tòa chùa

Thuận am cũng gần Đồ rô

Cảnh thanh ai dám mưu mô chủ trì

Tự nhiên vạn vật thiên kì

Quan Âm hóa phép tiên tri khác trần

Vào năm Quý Dậu sang dần

Sửa sang xây đắp nền nhân lâu dài

Ngắn tay sao với được trời

Không gan mà hóa ra người có gan

( Mốc thời gian trong bài thơ này tôi cho rằng chỉ để cho vần)

 Khi xây xong chùa ngài hoạch định đất đai xây tường rào gắn mảnh sành không cho kẻ trộm vào chùa. Việc làm này có người chê là ác nên cụ bỏ chùa giao lại cho người em là cụ phó Rồng cùng dân làng trông coi.

 HT Phạm Thế Long nguyên quán Hải Anh , Hải Hậu nhưng là người sinh ra và lớn lên ở ngôi chùa này vì bố ngaì là ông phó Rồng  (em HT Phạm Quang Tuyên) đã cùng vợ lên xây dưng chùa Thủy Nhai đến năm 1908 thì đẻ ra ông Cóc ( tên của HT Phạm Thế Long lúc bé) ở đây. Đến năm 6 tuổi được HT bác cho đi tu ở đây dưới  sự bảo trợ của bố mẹ.

  HT Phạm Quang Tuyên về xây chùa Thôn Nội ở Nam Thanh Nam Trực bây giờ cũng bằng vôi gạch và vỏ sò ( Hiện nay chuà Thôn Nội vẫn còn một bức tường nhà tổ bằng vỏ sò). Một hôm ngài đi vắng hương lý trong làng ra chùa đánh cá ở ao lên ăn. Khi về biết chuyện ngài lại bực mình bỏ đi. Nhân dân Cổ lễ đón được cụ về cụ lại bắt tay xây chùa cổ lễ.

 Chuyện kể rằng: 

Năm 1902 sư cụ cổ Phạm Quang Tuyên được nhân dân Cổ Lễ đón về, cụ  bắt tay ngay vào việc chuẩn bị xây chùa. Mới đầu cụ đúc một con trâu bằng vàng rồi đưa vào triều đình tâu với vua:

Bần tăng ở Cổ Lễ bới đất nhặt cỏ thấy có vật lạ vào trình vua.Vua Khải Định tuổi Sửu nhận được con trâu bằng vàng phấn khởi hỏi:

_Bần tăng  cần gì?

_Bần tăng muốn xây chùa ở Cổ Lễ .Vua cho chiếu chỉ xây ngay nhưng Cụ cũng chưa về ngay mà còn xuống các phòng của cung phi mỹ nữ để thông báo việc Cổ lễ xây chùa.các cung  phi mỹ nữ đưa tiền tiến cúng cụ không nhận mà còn nói “tài dị sát nhân”và mơì các quan bà khi nào xuống móng thì về dự lễ động thổ.

Khi đã có chiếu chỉ xây chùa cụ về bàn với nhân dân và hương hào lý bá trong làng việc xin đất  làm chùa, được nhân  dân ủng hộ ,chính quyền cấp đất ở ngay vị trí gần chùa cũ nơi đất thiêng tụ linh tụ khí tụ nhân tụ đức, có đất rồi, cụ chuẩn bị làm gạch nung vôi để xây chùa và bàn với xã quy ba ngôi chùa vào một (tam tự quy nhất tự) cho to đẹp phong cảnh.

Tự sư cụ đã hô hào đào ao vượt thổ lấy đất làm gạch vì vậy nên trong khuôn viên chùa có nhiều hồ , hai bên còn có sông nhỏ thông với sông Cổ Lễ để  ngôi chùa tách khỏi khu dân cư cho thanh tịnh và nằm gọn trong cái võng sơn thuỷ hữu tình.

Năm 1920 chùa Cổ Lễ xây xong toà chính cung đúc ra pho tượng đồng cao 3 thước 7 quả chuông cao hơn 3 thước. Xây đền cất phủ, đắp đường, mở chợ, xây hai cây giả sơn, cuốn 5 trường kiều.

Chùa Chính hay còn gọi là Toà Chính cung cao 29m, một chiều cao hiếm thấy trong các chùa cổ Việt Nam.

Năm 1920 khánh thành chùa Cổ Lễ HT Phạm Quang Tuyên lại có bài thơ:

Nhất thốc lâu đài

Phiên âm:

Vô biên công đức lạc đồng nhân

Hỷ kiến Thần Quang thế giới tân

Luân hoán kỷ niên danh thắng cảnh

Kinh dinh bất nhật phú từ vân

Thập phương lan cúc song song tú

Nhất thốc lâu đài điệp điệp xuân.

ý vị thiên ban nan hội giải,

Hân hồi thái Cổ Lễ phong thuần

                   Tạm dịch ( TT: Thích Tâm Vư­ợng)

Biết bao công sức của tiền nhân

Vui thấy Thần Quang thế giới tân

Thay mới m­ời năm lên thắng cảnh    

Mây lành che phủ áng từ vân  

M­ời ph­ương lan cúc chen chân tới    

Một khóm lâu đài nhúc nhích xuân

Mơ ư­ớc ngàn năm đâu dễ gặp

Nay về chốn Cổ Lễ phong thuần.

 

 Năm 1927 cụ xây tháp Cửu Phẩm Liên Hoa tr­ước cửa chùa cao 32 m.

 Cụ còn xây nhiều chùa khác kể có đến 30 ngôi chùa như chùa Mật lăng, chùa Trung Đông…

 Biên niên sử Phật giáo miền Bắc có ghi: “Ngày 30-4-1934 s­ cụ cổ  (Hoà thư­ợng Phạm Quang Tuyên) trụ trì chùa Cổ Lễ Nam Định một vị cao tăng công đức dựng và tu sửa nhiều chùa trong tỉnh Nam định viên tịch”. Tháp của ngài tại chùa Cổ Lễ có dòng chữ: Đại lão hoà th­ượng Thích Quang Tuyên đệ nhất truyền tăng tác động phái h­ơng quang tháp ma ha sa môn tỷ khiêu bồ tát giới pháp huý tự Quang Tuyên thích kỳ kỳ luật s­ư hoá thân bồ tát thiền toạ ngày (1951 -1934).

Chùa Cổ Lễ hiện nay còn lư­u giữ đư­ợc những tác phẩm văn, thơ, các bài kệ, khoa cúng, khoá tụng, khoá niệm, nội dung có những nét rất độc đáo, không giống bất cứ một sơn môn nào trong vùng, điều đó càng rõ nghĩa hai chữ “Kỳ Kỳ” pháp huý của Ngài.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ NamĐịnh ngày 14.4.2017.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004