Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






Dòng Họ Trong Thơ Ca và Đạo Hiếu










C ả hai sự kiện lễ hội Thanh Minh và lập đàn Cầu siêu đều mang ý nghĩa về đạo lý “báo hiếu” theo truyền thống dân tộc Việt Nam : “Uống nước nhớ nguồn” và “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây”. Hơn nữa, sự kiện Thanh minh (Mồng 6/3 âm lịch) năm nay lại diễn ra gần đúng với ngày Giỗ Tổ Hùng Vương hàng năm (Mồng 10/3 âm lịch). Mà giỗ Tổ Hùng vương lại có liên quan tới tập quán “Thờ cúng Tổ tiên” và “Tín ngưỡng thờ Mẫu” đã được cơ quan UNESCO – LHQ vinh danh là một di sản văn hóa phi vật chất của nhân loại.

Do đó, tôi lấy làm phấn kích và tâm đắc để trình bày đôi điều về “Đạo Hiếu” và Dòng họ trong thơ ca Việt Nam xưa nay.


Phần 1-Sơ lược về dòng họ và gia tộc Việt Nam


-Dòng họ : Ai cũng biết nhân loại ra đời ở buổi ban đầu bất cứ ở đâu cũng chưa có họ, trong đó có dân tộc Việt. Bởi ở thời chế độ quần hôn, người con sinh ra chỉ biết mẹ mà không biết cha. Chưa biết cha vì chưa có gia đình. Chỉ khi có hôn nhân thì mới có gia đình và nghiêm cấm loạn luân thì từ đó mới dẫn đến có dòng họ. Sự ra đời của dòng họ trong buổi đầu là theo chế độ mẫu hệ, sau là phụ hệ. Khi chế độ nam quyền xuất hiện thì dòng họ thuộc về họ cha : ngoại tộc là họ mẹ, nội tộc là họ cha.

Nhưng khi lấy họ thì người xưa thường lấy tên cỏ cây, sông núi, đất cát, kinh rạch hay thú vạt... làm tên. Như họ Mộc, họ Sơn, Thạch, Giang, Sa v.v... Hùng thị hay Hùng vương thì các nhà nghiên cứu chưa thấy có mối quan hệ nào với sông núi, cỏ cây...Có thể “Hùng” chỉ sự can đảm như “anh hùng”. “Thị” là Thị tộc – Họ.

Dòng họ là một đơn vị xã hội cổ truyền (thiết chế xã hội) gồm nhiều gia đình cùng huyết thống có từ lâu ở nước ta. Gia đình là một tế bào của xã hội, gồm cha – mẹ - con cháu (khi có thêm ông bà), là một đơn vị nhỏ nhất của xã hội. Gia đình xuất hiện trong xã hội Việt Nam khi chuyển sang chế độ phụ hệ ở thời nhà nước Văn Lang của 18 đời Hùng Vương (Cổ sử TQ gọi là Hùng thị) lưu truyền tới nay. Hùng Thị, Thục Phán (Đất Thục), Hai Bà Trưng (có thể là Trứng của Chắc, Nhị), Thi Sách được coi là các họ đầu tiên của dân tộc Việt Nam nhưng tới nay thì không còn tồn tại do không có người thừa kế, nối dõi tông đường (gọi là mất dòng giống) hoặc có nhưng bị Hán tộc tru di ém nhẹm sau khi nước ta bị chế độ độc tài nhà Hán cai trị. Người đời sau viết gia phả gọi “Ngọc phả” cũng không nói dòng họ mà chỉ ghi chép về sự nghiệp không có thân thế. Dưới thời Bắc thuộc ngàn năm, bắt đầu từ họ Mã (Mã Viện) hay họ Triệu (Triệu Đà) thì dòng họ ở nước ta mới được ghi nhận do có liên hệ huyết thống với dân phương Bắc.

Hai Bà Trưng – Triệu Nhị nương (anh Triệu Quôc Đạt)gốc TQ – Lý Tiến, Lý Cầm TQ cai trị Giao chỉ. Bắc thuộc lần 2 (43-544).

Lý Bôn, Lý Bí (dòng dõi TQ) tự xưng Nam Việt đế, quốc hiệu Vạn Xuân (Nhà Tiền Lý 544-602). Bắc thuộc lần 3- Nhà Ngô 939-965(Ngô Quyền)- Tự chủ thời đại- Nhà Đinh – Nhà Tiền Lê …..

-Gia tộc : Gồm nhiều gia đình của một tộc hay một họ. Gia đình lớn có có nhiều thế hệ sống chung như một Thị tộc. Nhiều gia đình, gia tộc, thị tộc làm thành một bộ lạc - quốc gia, dân tộc. Hùng thị là một dòng họ, dòng tộc hay gia tộc.

-Gia phả : Sổ sách ghi chép lịch sử của dòng họ gắn với đời sống văn hóa của dòng họ, đất nước, dân tộc. Ngày xưa chỉ có vương tộc và vua quan mới có gia phả. Ngày nay, từ sau ngày thống nhất đất nước, ban đầu chỉ có các dòng họ lớn thuộc các triều đại nắm quyền cai trị đất nước thì con cháu, các hậu duệ mới xây dựng gia phả để chứng minh lịch sử dòng họ và sự nghiệp làm vua, làm quan. Về sau, cho tới ngày nay, gia phả không còn là chuyện lớn nữa.


Thơ ca về dòng họ :


1-Đại Nam quốc sử diễn ca (của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái ở đầu thế kỷ 19) : Đoạn nói về Kinh Dương Vương giải thích về nguồn gốc lịch sử của Tổ tiên từ thời thượng cổ :

Kể từ trời mở Viêm Bang/ Sơ đầu có họ Hồng Bàng mới qua. Cháu đời Viêm đế thứ Ba : Đế Minh cháu ba đời vua Thần Nông đi tuần thú tới núi Ngũ Lĩnh (Hồ nam) lấy tiên sinh ra Lộc Tục được phong vương xưng Kinh dương vương làm vua nước Xích quỷ (1/2 Trung quốc). Kinh dương vương sinh ra Sùng Lãm nối ngôi xưng Lạc Long quân. Lạc long quân lấy Âu cơ sinh ra 100 trứng, phong cho con trưởng làm vua nước Văn Lang xưng là Hùng vương trị vì 18 đời (Chi) 2879-258 trước Công nguyên (vùng Bắc bộ).

2-Lịch sử nước ta (của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1942)

Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam

Kể năm hơn bốn ngàn năm/ Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hòa

Hồng bàng là tổ tiên ta/ Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang.

3-Việt Nam bốn ngàn năm (của Nhà ngoại cảm Nguyễn Thị Huệ năm 2011)

Việt Nam ghi tạc sử nhà / Hồng Bàng nguồn gốc sinh ra giống nòi

Hơn bốn ngàn năm truyền thời/ Mười tám triều đại các đời Hùng Vương

*Xác định nguồn gốc, tổ tiên, lich sử khai sinh dòng họ : 4.000 năm (trước 2879-sau 2017)

4-Dân ca quan họ Bắc Ninh :

-Cách đây nhiều đời, hai người (hai họ), một quê ở Điềm, một quê ở Bịu, đều làm quan thị vệ ở trong triều và chơi thân với nhau. Đến khi về hưu, hai quan thị vệ này giao ước kết bạn đi lại. Nếu ở làng ai có cuộc vui (cưới xin, khao lão…) thì mời cả hai họ về dự. Thời đó nhân dân đã biết hát Đúm (Đối) nên hai họ đều đem ra hát đối đáp với nhau. Từ đó lưu truyền thành tục lệ (lễ hội) : cứ hội Bịu tháng giêng, hội Điềm tháng 8, sau này thêm Hội Lim đặc biệt nhất người ta lại tụ họp để ca hát, vui chơi. Từ đó, gọi hát “quan họ” thay cho hát Đúm.

Từ đời Lý, Lê, người tham gia đã giảm dần tính chất nghi lễ, tăng cường tính chất trữ tình và ngày càng sáng tác đa dạng hơn các thể loại liên quan Dân ca quan họ. Tới nay có trên 76 làng có hát quan họ trên địa bàn rộng lớn của các tỉnh quanh sông Cầu như Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn. Do đó, có ngày diễn ra ba bốn làng cùng hát quan họ, hát ngày này qua ngày kia, kể cả ban đêm; hát trong nhà, trong đình và cả bên ngoài, trên đường, trên sông. Vào những ngày lễ đình, chùa hát quan họ diễn ra chung với các trò chơi dân gian của địa phương như kéo co, cướp cầu, đánh cờ, đánh đu, đá gà…


Phần II-Đạo hiếu trong gia đình, xã hội :


Đức hiếu thảo (đối với cha mẹ, ông bà, anh chị em) là nền tảng của văn hóa gia đình, dân tộc. Văn hóa gia đình thể hiện qua đạo đức, đạo lý, quy tắc ứng xử, cách giao dục gia đình (có gia quy, gia phong) giữa các mối quan hệ trong già đình. Đạo lý của con cái đối với cha mẹ phải thể hiện rõ ở các mặt sau :

-Luôn tỏ lòng biết ơn của mình đối với cha mẹ. (Tri ân)

-Thường xuyên tỏ lòng kính trọng, quý mến cha mẹ. (Hoài ân)

-Có thái độ chăm sóc sóc ân cần, chu đáo để đền đáp lại công lao của cha mẹ đã sinh ra và nuôi dưỡng mình. (Báo ân – Báo hiếu)

Người phương Đông vốn coi trọng các giá trị đạo đức truyền thống, coi các chuẩn mực đạo đức là thước đo nhân cách con người. Cách ứng xử trong gia đình cũng như ngoài xã hội đều trong vòng luân thường đạo lí. Trong đó mối quan hệ trong gia đình đặc biệt được đề cao, bởi vì đó là nguồn gốc, rường cột là nền tảng cho các mối quan hệ khác. Trong quan hệ gia đình thì chữ hiếu lại đóng một vai trò vô cùng quan trọng, không đơn thuần chỉ là hành vi ứng xử đạo đức của con cái đối với cha mẹ, mà hơn thế, suy rộng ra chữ hiếu còn bao gồm các mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình dòng tộc, là sự ghi nhận, sự tưởng nhớ của con cháu đối với ông bà tổ tiên, của thế hệ sau đối với thế hệ trước.

Đạo hiếu được bắt nguồn từ tấm lòng tri ân, là sự bày tỏ, đền đáp công lao dưỡng dục trời bể của mẹ cha, người đã đem lại cho ta sự sống, nâng đỡ ta từ những bước đi đầu tiên. Đạo làm con phụng dưỡng cha mẹ là để báo đền ân đức, nhưng không có nghĩa là chỉ lo cho cha mẹ được ăn no, mặc ấm, được ở nơi nhà cao cửa rộng, phụng dưỡng cha mẹ không chỉ về mặt vật chất mà còn cả về tinh thần không để cha mẹ phải lo lắng, phiền muộn.

Cổ nhân từng nói : “Phụ mẫu tại bất viễn du; du tất hữu phương”. Nghĩa là: “Cha mẹ còn sống chớ đi chơi xa; nếu đi xa phải có nơi nhất định”. Điều đó, vừa là để cha mẹ khỏi lo lắng về mình, vừa là để nếu cha mẹ có mệnh hệ gì thì còn có chỗ mà báo tin cho con cái.

Con người sinh ra, lớn lên, trưởng thành, về già đều trong vòng “sinh, lão bệnh, tử ”, hay nói như đạo Phật là ở trong vòng luân hồi. Chúng ta là con được cha mẹ sinh dưỡng, rồi đến lúc dựng vợ gả chồng, lại làm cha làm mẹ, cứ như thế từ thế hệ này qua thế hệ khác. Chính vì vậy mà chúng ta báo hiếu với cha mẹ, ông bà tổ tiên cũng là để sau này nhận lại được sự báo ân, báo hiếu ấy.

Người xưa rất coi trọng đạo hiếu, vậy nên những bậc đại hiếu, chí hiếu trong thiên hạ đều rất được đề cao coi trọng, được người đời ca tụng, là tấm gương cho bao đời sau. Ngược lại những kẻ làm con mà bất hiếu, bị xã hội chê trách, bị người đời lên án, và sẽ phải nhận một hậu quả tất yếu. Đạo hiếu không có sự phân biệt trong xã hội, không kể đó là người sang hay kẻ hèn, người ở địa vị xã hội cao hay thấp mà cốt ở sự thể hiện lòng hiếu thảo của mình mà thôi.Trong lịch sử, trong dân gian hay trong văn học đều có rất nhiều những tấm gương như thế.

Các dòng tín ngưỡng dân gian hay tôn giáo có mặt ở nước ta từ hàng ngàn năm, với sự từ bi nhân ái, với những giá trị nhân văn sâu sắc, trong đó đặc biệt đề cao đạo Hiếu như một triết lí nhân sinh, như một truyền thống tốt đẹp của mình.

1/Ơn thầy cô: Là ơn người đã dạy dỗ, mang lại cho ta kiến thức.

2/Ơn quốc gia xã hội: Là ơn đảm bảo cho ta cuộc sống hoà bình, ổn định theo châm ngôn : Chim có tổ, Người có tông, Dân có nước.

3/Ơn đồng bào, dân tộc : Là ơn những người đã sản xuất ra của cải vật chất, giúp chúng ta tồn tại.

  Lễ báo hiếu trong đạo Phật được gọi là lễ Vu lan, lễ cầu siêu…

Tín ngưỡng dân gian: Lễ Thanh minh, thờ cúng Tổ tiên, Tảo mộ.

Đạo Phật đã dạy chúng ta về hiếu hạnh trong khắp chúng sanh, công ơn cha mẹ sinh thành dưỡng dục là thiêng liêng nhất không gì so sánh được, và đạo làm con phải thực hiện tròn bổn phận của mình. Đức Phật dạy rằng: “Đạo làm con phải thực hiện 5 bổn phận: Luôn cung kính và vâng lời cha mẹ; Phụng dưỡng cha mẹ khi cha mẹ già yếu; Gìn giữ thanh danh và truyền thống gia đình; Bảo quản tài sản do cha mẹ để lại; Lo tang lễ chu đáo khi cha mẹ qua đời”. Ngoài ra, còn thăm nom phần mộ, chọn nơi đất tốt chân cất và lưu giữ hài cốt lâu dài., nhất là các dịp thanh minh, tảo mộ, cầu siêu.


Nói đến gia đình Việt Nam là nói đến đạo hiếu và tình gia tộc. Bước vào cuộc sống hôn nhân, hai vợ chồng không phải chỉ bước vào cuộc sống riêng tư đóng kín chỉ với riêng hai người, mà còn mở ra với cha mẹ đôi bên, cũng như với anh chị em họ hàng.

1. Với cha mẹ :

1.1. Khi cha mẹ còn sống

-Lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ phát xuất từ sự biết ơn đối với những bậc đã cho mình sự sống, cũng như đã chăm lo nuôi dưỡng và giáo dục mình nên người. “Hãy hết lòng tôn trọng cha con và đừng quên những cơn đau đớn của mẹ. Hãy nhớ rằng nhờ cha mẹ, con mới sinh ra. Làm sao con báo đền được điều cha mẹ cho con?” 

Phận làm con cái phải đáp lại công ơn cha mẹ với lòng biết ơn, tâm tình hiếu thảo và tin cậy, sẽ theo đạo làm con mà phụng dưỡng cha mẹ trong nghịch cảnh cũng như trong tuổi già cô quạnh.”

Khi cha mẹ còn sống, con cái bày tỏ lòng hiếu thảo qua việc: yêu mến, tôn kính, vâng lời, chăm sóc và giúp đỡ cha mẹ.

1.2 Yêu mến và tôn kính cha mẹ : Phận làm con phải thật lòng yêu mến và tôn kính cha mẹ trong tư tưởng, lời nói, việc làm.

Trong tư tưởng, ta thực tình nhìn nhận cha mẹ đáng trọng kính, vì đã sinh thành, nuôi dưỡng, dạy dỗ, hướng dẫn, gây dựng hạnh phúc cuộc đời cho ta.

Trong lời nói, ta lựa cách xưng hô và chuyện trò thật khiêm cung, êm ái, không bao giờ dùng những lời nói cứng cỏi, nóng nảy đối với cha mẹ.

Trong việc làm, ta năng thăm viếng, hoặc thư từ, hỏi han, bày tỏ lòng yêu mến bằng quà biếu, tìm cách làm cho cha mẹ được vui. Khi lo liệu việc trọng đại, dù đã ở riêng, ta cũng nên bàn hỏi cha mẹ. Khi trưởng thành, con cái vẫn phải tôn kính cha mẹ, biết đón trước ý muốn của cha mẹ, sẵn sàng bàn hỏi và chấp nhận những lời khuyến cáo đúng đắn của cha mẹ. Khi không còn chung sống với cha mẹ, con cái vẫn phải tôn kính, năng lui tới thăm hỏi, chăm sóc.

1.3 Vâng lời cha mẹ : Lòng hiếu thảo được bày tỏ qua sự ngoan ngoãn và vâng phục. “Hãy giữ lấy lời huấn dụ của cha, và đừng ruồng bỏ giáo huấn của mẹ.... Vì chúng sẽ hướng dẫn con khi con đi, canh giữ con khi con nằm, và khi con thức dậy, chúng chuyện trò với con”. “Con ngoan mến chuộng lời cha quở mắng, kẻ nhạo báng chẳng nghe lời khiển trách”.

Khi chưa trưởng thành, con cái phải mau mắn vâng lời cha mẹ trong tất cả những gì hợp đạo lý, không nên trách móc phàn nàn. Ngay cả khi đã trưởng thành và dù đã ở riêng, nếu ta có làm điều gì sai trái mà được cha mẹ nhắc nhở, cần mau mắn vâng theo. Hơn nữa, người con trưởng thành cần biết đón trước điều cha mẹ mong muốn để làm đẹp lòng cha mẹ. Khi cha mẹ lâm chung, có trăn trối điều gì, con cái nên vui lòng tuân giữ. Ngược lại, nếu cha mẹ có ép buộc điều gì trái lương tâm, con cái nên tìm cách giải bày để cha mẹ cảm thông, chứ không được phản kháng thô bạo, làm điều bất hiếu.

1.4 Chăm sóc và giúp đỡ cha mẹ. Phải luôn luôn giúp đỡ cha mẹ về phần hồn và phần xác, nhất là khi các ngài già cả, ốm đau, thiếu thốn, cần tận tâm tận lực phụng dưỡng, lo thuốc thang đầy đủ, vui vẻ thăm nom sớm tối. Đây là trách nhiệm của con cái. Đừng vì keo kiệt, ganh tị nhau mà để cha mẹ khổ cực. Phải cầu nguyện cho cha mẹ được mọi ơn lành, lo liệu cho cha mẹ ra đi nhẹ nhàng.

2- Khi cha mẹ qua đời:

Con cái tỏ lòng hiếu kính bằng cách lo an táng chu đáo, cầu nguyện và xin lễ cho cha mẹ. Anh chị em cần hoà thuận yêu thương nhau, noi gương cha mẹ để không mang tiếng bất hiếu.

Cũng cần nâng cao ý thức lịch sử về gia đình: Quan tâm bảo tồn gia phả và những kỷ vật của ông bà cha mẹ đã qua đời. Gia đình nào đã thất lạc gia phả, nên tìm cách dựng lại những gì còn biết được, nên làm càng sớm càng tốt khi những bậc cao niên trong dòng họ còn đủ minh mẫn để cung cấp các dữ liệu họ nắm được. Cũng nên quan tâm lưu giữ những hình ảnh và giấy tờ quan trọng của gia đình để các thế hệ sau có sử liệu dòng họ.

Không quên ngày giỗ và thờ cúng, báo hiếu bằng chăm lo phần mộ và tảo mộ trong dịp lễ, tết cổ truyền. Do đó, người ta thường chọn đất, chọn nơi phù hợp phong thủy, thận tiện cho việc báo hiếu : địa táng hay hỏa táng đúng nếp sống văn minh đô thị.

3. Với họ hàng đôi bên

Đối với người Việt Nam, tương quan với họ hàng gia tộc là điều quan trọng. Lấy vợ, lấy chồng không chỉ là lấy một người mà “lấy” cả họ hàng nhà chồng, nhà vợ. Cách cư xử với họ hàng bên chồng hay bên vợ không chỉ liên quan đến bản thân mà còn liên quan đến cả họ hàng bên mình. Bởi vậy, cần yêu mến và học cách cư xử với tất cả mọi người trong dòng họ hai bên, như ông bà, chú bác, cô dì, cậu mợ và anh chị em. Cần sống tình gia tộc bằng cách năng lui tới viếng thăm và giúp đỡ theo khả năng của mình. Tổ chức và suy tôn dòng họ, xây dựng gia phả là việc lam cần thiết phù hợp với đạo lý xã hội, đạo đức con người.


Phần III-Đạo Hiếu trong đời sống văn hóa, thơ ca :


Tục ngữ, ca dao lâu đời cho thấy :

-Thờ cha mẹ, ở hết lòng/ Đó là chữ hiếu dạy trong luân thường.

-Công cha như núi Thái sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ kính cha/ Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con.

-Đêm đêm thắp sáng đèn trời./Cầu cho cha mẹ sống đời với con.

Cụ Đồ Chiểu mở đầu thơ Lục Vân Tiên :

-Trai thời trung hiếu làm đầu/ Gái thời tiết hạnh là câu trau mình

-Thà đui mà giữ đạo nhà/ Còn hơn có mắt ông cha không thờ !

Biện và phản biện của hai nhà thơ Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị về đạo Hiếu (anh em) và đạo (vua tôi).

Bài thơ Tôn phu nhân quy Thục :

-Cật ngựa thanh gương vẹn chữ tòng…

Ai về nhắn với Châu Công Cẩn/Tha mất lòng anh đặng bụng chồng.

Bài họa :

-Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng….

Anh hỡi, Tôn Quyền anh có biết/ Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng ?

Ý nghĩa của “Trung với nước, hiếu với dân” – Sự nghiệp dành độc lập, giải phóng dân tộc của thời đại Hồ Chí Minh.

Vua Hùng có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. (Tố Hữu).

Nặng lòng với chữ hiếu, chữ trung :

Bác Hồ lúc ở Thái Lan (trước khi về nước năm 1941):

-Xa nhà chốc đã mấy niên/ Nửa đêm nghe tiếng mẹ hiền ru con.

Lúc ở chiến khu Việt Bắc (1947-1954) :

-Nhìn thấy cây đa nhớ xóm làng/ Nhìn thấy râm bụt nhớ mẹ cha .

Khi không thể về thọ tang Anh cả, Bác điện nói Quân khu IV : “Mang tội bất đễ”.

Khi trả lời nhà báo Pháp :”C’est la chair de notre chair, c’est le sang de notre sang! Hoặc : Miền Nam luôn trong trái tim tôi. (Hiếu và Trung)

Trong thời gian ở nhà sàn trong Phủ Chủ tịch : Luôn cất giữ chiếc hộp đựng ảnh cũ của cha là Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc cho đến lúc qua đời.

Luật người cao tuổi và Hội người cao tuổi tập trung :

-Tổ chức mừng thọ, chúc thọ người cao tuổi từ 70 tới trên 100 tuổi. (Lễ khao lão).

-Tổ chức chăm sóc, thăm viếng, phụng dưỡng người cao tuổi, hội viên

-Xã hội hóa hoạt động, dịch vụ nghĩa trang sau khi người cao tuổi qua đời

-Phụng thờ Mẹ Việt Nam anh hùng, người có công với cách mạng qua hai thời kỳ đánh Pháp (1945-1954), đuổi Mỹ (1955-1975).


Phần IV - Kết luận :


Trong đời sống văn minh của mỗi quốc gia dân tộc, theo thời gian mà hình thành nhiều hình thái cộng đồng người, trong đó có cộng đồng dòng họ với thuộc tính riêng. Từ dòng họ lại có văn hóa dòng họ hay dòng họ được gắn kết với văn hóa, thơ ca, lịch sử. Đạo hiếu là một nét đẹp có giá trị truyền thống riêng cho đạo lý xã hội, đạo đức gia đình, văn hóa làng xã.

Dòng họ còn được thể hiện trong tư tưởng, ý thức và đời sống văn hóa của quốc gia dân tộc. Dòng họ còn là nền tảng của đạo đức gia đình, xã hội.

Học lịch sử để biết được nguồn gốc, lịch sử của tổ tiên, dân tộc, Tổ quốc, dòng họ để bảo tồn, phát huy và đoàn kết.

Rèn luyện đạo đức để biết Đạo hiếu và Báo hiếu với ông bà, cha mẹ và nâng cao “đạo hiếu” thành “đạo trung” với dân với nước.

Ngày Giổ Tổ Hùng Vương

Tiết Thanh Minh Đinh Dậu 2017



. @ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 04.4.2017.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004