Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



CÂU CHUYỆN PHÓNG SINH








Đ ầu năm nay, một TT. hướng dẫn nhóm Phật Tử làm lễ Phóng Sinh cho gần 10 tấn cá trên sông Hồng làm dư luận xôn xao. Qua hình ảnh, một chuyên gia khẳng định đó là cá Chim Trắng có tên là Colossoma Brachypomum. Loại cá ăn thịt đáng sợ trong họ cá Hổ Characidae, du nhập từ Nam Mỹ, không được nuôi tự do. Người nói rằng không đúng. Nhưng nếu đúng như thế thì nguy cơ những loài cá lành bản địa sẽ bị bọn cá sát thủ này tiêu diệt. Nguồn cá lành nơi đó sẽ bị cạn kiệt, vì nó quá hung dữ, răng sắc nhọn, thậm chí nó còn cắn cả con người hay động vật bơi gần chúng. Bản thân tôi, khi mới vào tập sự tu hành cũng có chút kinh nghiệm về Phóng Sinh, xin kể cho vui.

Tôi không phải là người gốc Đạo Phật, nên khi tìm hiểu Đạo, điều gì cũng làm tôi bỡ ngỡ. Thứ nào chưa rõ, thì tôi để qua một bên, tìm hiểu tiếp. Điều gì chấp nhận được thì tôi làm rất nhiệt tình. Pháp đầu tiên mà Thầy tôi tập cho chúng tôi làm là Bố Thí và Phóng Sinh.

Còn nhớ lúc đó mới đổi tiền, ai còn đi làm thì lương chỉ còn có vài đồng, nên cuộc sống hơi khó khăn, dù vậy, mỗi sáng Chủ Nhật là chúng tôi họp nhau ở nhà một người bạn trong hẻm ở trên đường Bùi Thị Xuân để nghe Thầy giảng Pháp. Lúc đó nhóm mới có chỉ độ 5, 7 người. Thầy chúng tôi là một Cư Sĩ, rời Huế vô Saigon mục đích là gặp những người có hẹn với Thầy từ xa xưa để nhắc lại công việc tu hành, theo lời Thầy kể như thế.

Trước lúc đến họp thì mọi người đã hùn nhau, mỗi người 1 hoặc 2đ rồi cử một anh em ở gần chợ, đi ngang qua chợ thì ghé mua ít ốc, cua, lươn, cá, tập trung lại. Trước khi Thầy giảng thì để đống đồ phóng sinh đó, Thầy và anh em cùng chú nguyện rồi mang đi thả ở con rạch gần đó. Việc làm đó lần hồi bị bọn trẻ con gần đó phát hiện. Thời buổi khó khăn, ai cũng túng thiếu, nên bọn con trẻ để ý thấy có cá, ốc, lươn có dịp tập trung, còn gì dễ bắt hơn! Thế là chúng nó mang rổ, rá đến canh sẵn. Chờ anh em thả là nó lập tức chận trên đầu nguồn để tranh nhau vớt. Con rạch nhỏ, nước không sâu. Ốc thì đương nhiên đâu có thoát kịp. Cá. Lươn thì con thoát con không. Người thả cũng đâu có cản chúng được! Những người chung quanh lại xì xào: “Bày đặt. Thời buổi khó khăn, nhiều người không có gạo mà ăn, phải ăn bo bo, mà còn phóng sinh, làm phước. Sao không dùng tiền đó để giúp cho người nghèo có phải tốt hơn không?”. Nghe vậy chúng tôi cũng có hơi nhột, nhưng điều chúng tôi quan tâm là cần làm theo những gì được hướng dẫn nên bỏ ngoài tai.

Làm được điều tốt đầu tiên hướng về Đạo Phật chúng tôi rất vui. Nhưng khi nghe anh đi Phóng Sinh về báo lại vài lần thì bọn tôi dẹp bỏ vụ thả lươn, ốc, cua, cá, quay sang hông Lăng Ông gần chợ Bà Chiểu mua chim để thả. Nhiều người để ý thấy những chú chim bị phóng thích ra khỏi lồng thì bay lên những ngọn cây gần đó, xong loanh quanh sà xuống, làm như chim nuôi, không thích bay xa. Có lẽ sau đó sẽ bị bắt lại. Thế là chúng tôi bèn không mua chim ở đó nữa, mà xuống tận Chợ Cũ, lúc đó có một chợ chim đủ loại nằm trên lề đường Hàm Nghi.

Tôi còn nhớ, có bà bán chim có cái tay bị tật, thấy tụi tôi ngày nào cũng mua, mỗi lần cả mấy chục, biết là để phóng sinh, và là khách hàng thường xuyên thì mừng lắm. Mua riết thành quen, nhiều lần bà nhận về cả mấy trăm con chim, bán không hết nên kêu xích lô chở thẳng đến nhà vợ chồng tôi. Có lẽ bị giam chật chội, lại bị chở đi xa đường, nên khi mở lồng cho nó bay ra, nó không bay nổi mà chỉ bay đến cách nhà tôi độ vài mươi thước là rớt xuống nhà hàng xóm, mỗi lần hàng mấy chục con, làm bà hoảng sợ không hiểu vì sao chim sa ở nhà bà! Có lần bà về ngang nhà gặp lúc chúng tôi đang thả nên biết thủ phạm là chúng tôi. Bà sợ xui xẻo nên yêu cầu vợ chồng tôi đừng thả nữa! Đành phải kêu bà bán chim đừng mang tới nữa!

Tôi chỉ thấy mình làm việc tốt, cứu cho những con chim đang bị giam cầm, sắp chết. Nhưng xét kỹ lại thì thấy không ngờ vô tình mình tạo điều kiện cho những người sống bằng nghề đi bẫy chim để bán cho những người chuyên cung cấp chim cho những người mua để Phóng Sinh! Hóa ra mình làm phúc mà lại tạo điều kiện cho người khác gây Nghiệp mà không hay! Thậm chí còn nghe nói có người tập cho chim ăn quen những thức ăn nào đó để nó quanh quẩn không bay đi xa được. Họ cứ bắt vô lồng để bán. Người mua xong mở lồng thả thì nó chui ra bay loanh quanh một chốc lại quay về chỗ cũ để chủ bắt lại. Không biết có đúng vậy hay không? Nhưng do nghi ngờ nên từ đó tôi ngưng thả chim, mà mỗi lần đi chợ, thấy có cá rô con, cá trê con, lươn con, hoặc những con cá lớn nào đang có chửa thì mua rồi mang đi thả. Lúc này thì tôi cho rằng thả những thứ này mới đúng là giúp cho chúng thoát chết, vì đã mang ra tận chợ rồi, trước sau cũng phải vô nồi, không chạy đi đâu được!

Sau đó, Thầy mới nói cho chúng tôi biết, sở dĩ buổi đầu dạy làm như thế là để thử thách xem chúng tôi có dám vì Đạo mà Xả bớt tính ích kỷ, ôm giữ tiền bạc hay không? Vì muốn tu hành, muốn chọn một hướng đi khác, cho là tốt đẹp hơn cuộc sống hiện tại mà chút ít tiền cũng không dám bỏ ra, không biết yêu thương những sinh vật bé bỏng thì làm sao tu hành? Bố Thí cũng vậy, Thầy tập cho tụi tôi biết Xả, nghĩ đến những hoàn cảnh khó khăn hơn mình. Không cần bỏ tiền nhiều. Chỉ cần thấy ai đáng giúp thì giúp. Một ly nước, chiếc vé xe, vài đồng bạc cho người ăn xin, mua giúp hàng ai đó bị ế, nhặt đá trên đường chẳng hạn… Chúng tôi tập mở lòng ra từ những việc nhỏ nhoi như thế.

Chúng tôi vừa tập Ngồi Thiền, vừa nghe thầy hướng dẫn hàng tuần bằng những bài pháp. Thầy tôi dạy tu theo Nhất Thừa, dạy học theo hạnh của Phật, không dạy Thờ Phật, vì thầy tôi nói: “Tu Phật là để thành Phật”. Thầy khuyên không nên tụng Kinh, mà nên đọc và đọc cho kỹ, để tìm hiểu, tư duy về con đường tu Phật, vì những điều cần hiểu, cần làm được Chư Tổ khai sáng trong đó. Thầy cho biết, muốn Tu Phật cho đúng hướng Chánh Pháp thì quan trọng hơn hết là quay vô Thân, Tâm của mình để sửa chữa 3 Nghiệp của Thân, Khẩu, Ý không cần thiết phải có hình tướng bên ngoài.

Qua mấy năm, hàng tuần đều đặn nghe giảng, đọc nhiều Kinh và suy nghĩ, tư duy, ghi lại những điều thấy được khi thực hành. Mất một thời gian khá dài để thấm đạo, vừa thực hành, vừa kiểm chứng với những gì được viết trong Chính Kinh để có sự hiểu biết cho bản thân. Hoàn toàn không giống như những người Thầy khác buộc đệ tử phải tin mình, Thầy tôi lại cẩn thận nhắc: “Anh chị em đừng tin tôi, tin tôi là nhị thừa, là mê tín, anh em cần đọc Kinh để tìm tương kiền tương đồng”. Nhờ những lời Thầy dặn dò mà sau đó tôi tự tìm hiểu, không nhất nhất tin vào Thầy, mà đều kiểm chứng coi Thầy có nói giống như trong Kinh dạy hay không? Nhờ đó tôi thấy nhiều điều, nhiều việc hơn là chỉ máy móc ghi tâm lời của Thầy.

Chúng tôi chỉ có duyên ở bên Thầy 4 năm. Thời gian đó lúc nào Thầy tôi thường nhắc nhở: “Anh chị em nên cố gắng, vì thời kỳ hành nguyện của tôi đến năm 1981 là hết”. Nhưng không ai hiểu Thầy muốn nói gì, chỉ nghĩ rằng có lẽ Thầy bận việc khác, không giảng dạy nữa, nên cũng ít ai lưu tâm. Tôi thì do bản tính tò mò nên đọc Kinh thật nhiều, thắc mắc cũng nhiều. Nhà tôi thì ở Quận 1, nhà Thầy gần Nhà thờ Tân Sa Châu. Lúc đó điện thoại chưa ai có, muốn hỏi gì thì trực tiếp đến nhà Thầy. Vậy mà ông xã tôi có ngày phải chở tôi lên nhà Thầy đến 3 lần, chỉ để thầy giải đáp thắc mắc cho tôi! Cho tới lúc Thầy tôi bị bệnh nặng, nhớ lại lời Thầy tôi càng hỏi nhiều hơn. Hỏi cho hết những điều còn thắc mắc. Và cũng nhờ thm thía được Quy Luật Vô Thường, có đến ắt phải có đi, nên tôi mới đủ bình tĩnh viết được bài Điếu Văn để chồng tôi đọc trước lúc hạ huyệt Thầy, trong khi các anh em khác cuống lên vì mất bình tĩnh không thể làm gì được.

Thầy đi rồi thì Giáo Pháp, Kinh Sách là Thầy, tôi tiếp tục đọc nhiều Kinh. Lần lượt từ quyển dễ đến những quyển khó, đọc đi đọc lại, tìm hiểu đối chiếu… Nhiều năm sau tôi cũng thấy ra. Nhờ những lời giải thích của Tổ Đạt Ma, Lục Tổ Huệ Năng, tôi mới thấy rõ: Muốn thực hành đúng theo Chánh Pháp thì không phải làm theo hình tướng bên ngoài, tìm bên ngoài, cứu vớt người hay những chúng sinh bên ngoài, vì Chúng Sinh mà Phật dạy phải cứu vớt, phải giải thoát hay Phóng Sinh là những Chúng Sinh trong nội tâm của chính mình. Từ bao nhiêu kiếp, mỗi chúng ta nuôi, chứa, giam giữ biết bao nhiêu Chúng Sinh Tham Lam, Sân Hận, Si Mê chờ có dịp là thả cho chúng ra khác nào người ta thả chó dữ để tấn công đối phương! Cái Tham luôn chực chờ cứ muốn vơ vào, tìm cách này hay cách khác để kiếm thêm. Gặp việc không vừa ý là cái Sân đùng đùng nổi lên, bất kể là với người thân hay người ngoài. Do vậy mà cuộc sống không an ổn. Tất cả là do bám lấy cái Thân này, xem nó là Mình, bảo vệ nó đến cùng, trong khi chính vì nó mà bao nhiêu đời phải trôi lăn trong phiền não. Muốn tu hành theo Đạo Phật là phải hiểu về nó, rồi theo hướng dẫn của Đạo Phật mà thực hành, tuần tự theo Lục Độ: Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, Trí Huệ để tìm cái nào mới Thật sự là Tâm của mình, rồi thực hành ở đó. Kinh Lăng Nghiêm cũng viết: “Chứng Thánh hay đọa phàm cũng do Sáu Căn mà thôi”. Và muốn Thành Phật thì phải “Độ Tận Chúng Sinh”. Không phải là chúng sinh nào bên ngoài, mà là những chúng sinh của chính mình. Tức là những tư tưởng bất thiện. Tôi vừa thực hành, vừa quan sát, vừa đọc Kinh để mở rộng thêm sự hiểu biết mà theo Thầy là Chư vị đi trước đã cắm sẵn những cái mốc trong đó, người sau có thể nương theo mà không sợ lạc lối.

Đối chiếu lại với lời dạy của Chư Tổ: “TU PHẬT LÀ TU TÂM”. “PHẬT chính là tình trạng cái tâm đã Giải Thoát khỏi phiền não”, tôi đồng thời cũng hiểu được PHÓNG SINH, BỐ THÍ cũng là CÚNG DƯỜNG PHẬT. Tức là khi chúng ta Xả đi những tư tưởng Tham Lam, Sân Hận, Si Mê trong Tâm thì tâm ta sẽ được an lạc, tức là đã Thoát Phiền Não, gọi là Thành Phật, hay Giải Thoát, vì Thành Phật là “thành tựu công việc Giải Thoát cho bản thân”, không phải là thành Thần Linh. Điều đó cũng liên quan đến những gì được viết trong kinh là: “Hiến Châu báu cho Phật”. “Cởi chuỗi Anh Lạc để dâng cho Phật”. “Hiến lâu đài, cung điện cho Phật” v.v… mà rất nhiều người đã hiểu lầm, mang tài sản, tiền của cúng cho chùa hay ai đó bên ngoài mà tưởng rằng cúng cho Phật!

Tu Phật thì ai cũng muốn thực hành theo lời Phật dạy, nhưng cùng một hành động Bố Thí, Phóng Sinh, Cúng Dường mà lại có hai kết quả khác nhau:

l. Phóng Sinh, Bố Thí hay Cúng Dường Cho Phật theo đúng Chánh Pháp thì phải TAM LUÂN KHÔNG, tức là “không có kẻ cho, không có người cho, không có người nhận”. Bố Thí này gọi là “NỘI TÀI THÍ”, cũng gọi là LÀM CÔNG ĐỨC, tức là người tu Tự Xả những cái xấu, cái ác, những tính Tham Lam, Đố Kỵ, Giận Hờn, Tranh Chấp, Hơn Thua nơi mình. Tất cả những điều này Kinh gọi là Chúng Sinh. Việc làm này cũng được gọi là CÚNG DƯỜNG CHO PHẬT MÌNH, vì kết quả là cái Tâm của mình được thanh tịnh, an lạc. Bởi KẺ CHO cũng là chính mình. NGƯỜI NHẬN cũng là chính mình và CỦA CHO cũng chính tự nơi mình. Đó cũng gọi là ĐỘ SINH, vì làm cho những Chúng Sinh của mình được thanh tịnh, gọi là được về Niết Bàn. Điều này ta thấy trong Kinh DPLH viết: “Ông Mãn Tử Từ sẽ cúng dường Ba Trăm Sáu Mươi Ức Đức Phật, rốt sau sẽ thành Phật”. Tức là ông sẽ “Độ” vô số Chúng Sinh nơi Tâm của ông. Đến khi không còn Chúng Sinh nào nữa. Khi tất cả đều được Giải Thoát, thì ông cũng sẽ được Giải Thoát hay Thành Phật.

2. “NGOẠI TÀI THÍ” là người Bố Thí mang tiền của đi cất Chùa, đúc Tượng, độ Tăng, mua thật nhiều sinh vật để thả, hay giúp cho người khác thì gọi là tạo PHƯỚC ĐỨC HỮU VI. Kết quả chỉ là tích phước. Người làm sẽ được phước báo trả lại ở kiếp này hay kiếp khác. Điều đó cũng tốt, nhưng “Ngoại tài thí” chỉ là tạo Thiện Nghiệp, không có ích lợi nhiều cho con đường tu hành. Kinh Hoa Nghiêm viết: “Vong thiết Bồ Đề Tâm, tu chư thiện nghiệp, thị danh ma nghiệp”, vì người càng làm nhiều càng thấy mình tốt, mình cao siêu, nổi tiếng, được nhiều người kính phục! Bố Thí mà để biểu diễn. Có người thậm chí còn lập bia, ghi rõ tên tuổi, dựng hình để mọi người đều biết! Đó là Cầu Danh, đâu phải cầu Phước? Nếu không Xả được cái tâm chấp đó thì càng làm lại càng lớn thêm cái Ngã mà thôi!

Thật ra Đạo Phật không nói chuyện cao siêu, xa vời, chỉ mượn Cảnh Giới Phật, Niết Bàn, Tây Phương Cực Lạc để dạy con người sửa chữa những sai lầm, bỏ ác, hành thiện để kiếp sống được tốt đẹp, an vui mà thôi. Đọc kỹ 32 Tướng Tốt của Phật ta thấy đó là những kết quả của những việc đối tốt với Cha mẹ, Thầy, bạn, và mọi người chung quanh được gọi là TƯỚNG. Gom đủ 32 Tướng thành những TƯỚNG TỐT CỦA PHẬT. Do đó Kinh viết: “PHẬT LÀ VÔ TƯỚNG, DO VÔ LƯỢNG CÔNG ĐỨC MÀ THÀNH”, chẳng phải là những Tướng được nhìn thấy bằng mắt mà nhiều người hiểu sai rồi mang đúc, tạc, chạm khắc lên vàng, ngọc, gỗ, xi măng, đá để thờ. Phật, Chúng Sinh, Bồ Tát, Thánh Chúng, Tây Phương Cực Lạc, Đông Phương Tịnh Quốc, Niết Bàn hay Địa Ngục cũng thế. Cũng là những hình ảnh tượng trưng cho những việc làm, kết quả nơi Tâm của mỗi con người, không phải là cảnh giới ở trên trời cao hay ở nơi nào đâu xa xôi.

Theo Đức Thích Ca, tất cả những loài Biết Sống đều có cái tri giác. Nhưng do NGHIỆP đã gây tạo mà hình tướng có những sự khác biệt. Loài cầm thú thì cái Tri Giác đó kém cỏi, phải mất nhiều thời gian để tích lũy mới tiến thêm. Chỉ có con người là đầy đủ, và có Phật Tánh mới có cơ hội Giải Thoát hay Thành Phật được nếu chịu tu sửa.

Mỗi loài đều có Nghiệp riêng của mình. Cứu được một mạng cho loài cầm thú cũng là điều nên làm, nếu có dịp hay điều kiện. Nhưng con người là những vị “Phật sẽ thành”, cần được ưu tiên giúp đỡ hơn. Họ vì dư Nghiệp nên rơi vào hoàn cảnh bi đát, không thể tự thoát ra, rất cần được cứu giúp. Xã hội còn biết bao nhiêu hoàn cảnh đáng thương cần giúp đỡ? Rất nhiều người bệnh không tiền để chữa trị còn đang nằm dật dờ chờ chết! Bao nhiêu học sinh phải bỏ dở dang việc học vì cha mẹ không đủ kinh phí! Nhiều người đã bất lực, tuyệt vọng, bế tắc đến độ phải xa lìa cuộc sống vì không có bàn tay nào chìa ra để giúp họ vượt qua. Nhiều nơi xa xôi cần lắm Cầu, Đường để lưu thông, mua bán, đi lại, vận chuyển hàng hóa để cuộc sống bớt khó khăn phần nào. Như vậy, thay vì tiền để thả chim, thả cá, sao chúng ta không giúp cho đồng loại, để họ thoát qua hoàn cảnh ngặt nghèo? Nếu ta dư tiền, thừa lòng nhân ái thì tạo cho họ điều kiện, giúp cho họ cơ hội biết đâu mai kia họ thoát Nghiệp, sẽ trở thành những người hữu dụng cho đất nước? Lẽ nào ta coi trọng sinh vật là loài hạ đẳng hơn đồng loại của mình đang đau khổ, từng giây chờ mong Phật, Bồ Tát hiển linh cứu giúp?

Người xưa cũng nói: “Dẫu xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người”. Việc cứu người lúc nào cũng nên đặt lên hàng đầu, vì đó là vốn quý nhất của cuộc sống. Có con người mới xây dựng, bảo vệ đất nước, dân tộc được. Quốc gia có hưng thịnh hay không cũng là nhờ ở con người. Xã hội có tiến bộ, có giàu mạnh hay không cũng nhờ mọi người chung tay. Người tu cũng không nằm ngoài sự tồn vong của đất nước, dân tộc, đâu thể đứng bên lề mặc cho xã hội chậm tiến, tụt hậu, ai khổ mặc ai, chỉ chăm chăm lo phụng sự cho Phật Quá Khứ? Bỏ mặc cuộc đời. Bỏ mặc Phật Hiện Đời, Phật Tương Lai, thì đó là một sự thiếu sót rất lớn, vì người tu Phật được dạy phải đền ân Đất Nước đã cưu mang mình.

Tất nhiên ai có tiền, muốn sử dụng vào mục đích gì thì hoàn toàn có quyền. Xã hội cũng không cấm. Nhưng nếu chúng ta muốn thực hành theo lời Phật dạy thì cũng cần sáng suốt để phân biệt để thế nào có thể mang lại kết quả tốt đẹp nhất. Mục đích Bố Thí, Phóng Sinh theo Nhất Thừa thì không chỉ là để dành phước báo, mà là để được Thành Phật. Vậy thì tại sao ta không quay vô để Cúng Dường, Bố Thí cho Phật của mình, lại để mặc Chúng Sinh của mình bị giam hãm nơi tù ngục Tham Sân Si, không Phóng Thích nó đi? Giữa việc tạo phước, để được hưởng phước, hết phước sẽ trở lại bị đọa, và quay vào tâm để Giải Thoát cho những tư tưởng còn mang tính xấu xa, độc ác, tham lam, sân hận, si mê của chính mình để được Giải Thoát thì điều nào lợi lạc hơn? Tại sao không Bố Thí, Phóng Sinh mà có kết quả tốt nhất như Đạo Phật mong mỏi? Ngay cả vì lòng Từ Bi theo lời Phật dạy, muốn quay ra để giúp người để “đầu tư phước báo”, thì cứu giúp cho những vị “Phật sẽ thành” chẳng phải là có phước hơn là giúp cho những loài sinh vật thấp kém hay sao? Vì tương lai, nếu họ được thành Phật được thì có phải phước báo vô lượng sẽ lại trả về cho mình?

Sở dĩ Đạo Phật có mặt ở đời là vì để cứu khổ cho con người. Bố Thí cho con người cũng là Bố Thí cho Phật. Kinh Duy Ma Cật viết: “Nếu người thí chủ dùng tâm bình đẳng thí cho một người ăn xin rất hèn hạ xem như tướng phước điền của Như Lai, không phân biệt, lòng Đại Bi bình đẳng, không cầu quả báo. Đó gọi là đầy đủ Pháp Thí vậy”. Ngẫm lại buổi đầu tập tành làm công việc Phóng Sinh chúng tôi bị phê phán không sai. Cổ nhân cũng dạy: “Dục tu Tiên Đạo, tiên tu Nhân Đạo. Dục tu Phật Đạo, tiên tu Tiên Đạo”. Muốn tu đạo Tiên, trước phải tu đạo Làm Người. Muốn tu đạo Phật, phải tu đạo Tiên trước. Đạo Làm Người chưa tròn. Làm người còn chưa biết thương nhau. Bỏ mặc đồng loại thiếu thốn, đói khổ, sống chết, để đi cứu loài hạ đẳng, xem ra vừa không thuận thế gian vừa chứng tỏ người làm chưa thực hiện đúng lời Phật dạy vậy.


(Tháng 02/2017)




. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 19.03.2017.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004