Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (42)



Lý Thái Tổ Xây Hoàng Thành Thăng Long







L ý Thái Tổ lập triều Lý (1010 - 1225). Việc đầu tiên, vua Lý Thái Tổ dời đô. Đại Việt sử kí toàn thư chép:

“Vua thấy Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đế vương, muốn dời đi nơi khác, tự tay viết chiếu truyền rằng:

“Ngày xưa, nhà Thương (Trung Quốc) tính đến đời Bàn Canh là năm lần dời đô, nhà Chu (Trung Quốc) tính đến Thành Vương là ba lần dời đô; há phải các vua đời tam đại ấy (tam đại gồm Hạ, Thương và Chu) theo ý riêng mà tự dời đô, không tính toán gì đâu. Làm thế chẳng qua cũng cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo dân, xem có chỗ tiện thì dời đô, cho  nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ của các nhà Thương, Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất lấy làm đau đớn, không thể không dời đô. Huống chi Đại La là thành cũ của Cao Vương (chỉ Cao Biền) ở giữa trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuốn hổ ngồi, chính giữa đông tây nam bắc, tiện núi sông sau trước, rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân không khổ về ngập  lụt tối tăm, muôn vật tốt tươi phồn thịnh. Xem khắp nước Việt ta, đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của tứ phương, đúng là đất đóng đô mãi mãi đến muôn đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào ?”.

Bầy tôi đều nói: “Bệ hạ vì thiên hạ mà lập kế dài lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông đúc giàu có, ai dám không theo ?”. Vua nghe vậy cả mừng.

Mùa thu tháng bảy, năm 1010. Vua từ thành Hoa Lư dời đô ra phủ thành Đại La. Khi thuyền Vua đang tạm đỗ dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự. Vua nhân đó đổi gọi thành Đại La là Thăng Long”.

Thành Đại La dân Việt đuổi nước Tàu, giành độc lập

Nước Việt thời nhà Đường cai trị. An Nam chia thành 12 châu, 50 huyện. Trung tâm của An Nam đô hộ phủ là huyện Tống Bình (Hà Nội ngày nay). Năm 866. Cao Biền, tướng nhà Đường, xây dựng một thành trì cai trị. Tống Bình đổi tên thành Đại La. Là Thủ phủ của Tĩnh Hải quân. Từ đó, đất Tống Bình (sau là kinh thành Thăng Long) giữ vai trò Trung tâm quyền lực chính trị. Theo truyền thuyết, khi đắp thành, Cao Biền thấy một vị thần hiện lên, xưng là thần Long Đỗ. Vì vậy, sử sách gọi Thăng Long là đất Long Đỗ.

Cuối thế kỷ IX. Chính quyền nhà Đường suy thoái. Đầu thế kỷ X. Các thế lực cát cứ nổi loạn. Đánh giết nhau. Nước Tàu tự băm nát thành năm, mười mảnh, gọi là Ngũ Đại Thập Quốc. Tại nước Việt, Khúc Thừa Dụ, Hào trưởng Chu Diên, được dân ủng hộ, đã tiến ra chiếm đóng phủ thành Đại La, tự xưng là Tiết độ sứ. Nắm được quyền lực trên đất Tĩnh Hải quân, Khúc Thừa Dụ xây dựng chính quyền dựa trên danh xưng của chính quyền nhà Đường, nhưng, là một chính quyền độc lập, do người Việt quản lý.

Nước Nam Hán cướp quyền cai trị của họ Khúc. Năm 931. Dương Đình Nghệ đem quân từ Ái châu ra Đại La đánh đuổi thứ sử Lý Tiến của Nam Hán. Lý Tiến bỏ chạy. Dương Đình Nghệ giải phóng thành Đại La giành quyền tự chủ nước Việt được sáu năm, thì bị Kiều Công Tiễn giết. Năm 938. Ngô Quyền hạ thành Đại La. Giết Kiều Công Tiễn. Sau đó, Ngô Quyền chỉ huy trận Bạch Đằng, đánh bại quân Nam Hán. Giết Hoằng Thao. Mùa xuân năm 939. Ngô Quyền xưng Ngô Vương. Về Cổ Loa đóng đô. Sau loạn 12 sứ quân. Các triều Đinh, Tiền Lê đóng đô ở Hoa Lư. Đại La lúc này do Đô hộ phủ sĩ sư Lưu Cơ cai quản, đã tu sửa Hoàng thành quay về hướng Nam (hướng về kinh đô Hoa Lư. Không hướng về nước Tàu như chính quyền đô hộ Tàu). Lưu Cơ được coi là người "giao chìa khóa" thành Đại La cho Lý Thái Tổ.

Đoàn thuyền dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long

Hơn một năm, sau khi lên ngôi Hoàng đế. Tháng 7 năm Canh Tuất, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Đại La. Việc tìm đất, nghị bàn, đến việc chuẩn bị để dời đô, diễn ra nhanh.

Sử cũ không chép chi tiết nhà Lý dời đô bằng đường nào. Các nhà nghiên cứu xác định nhà Lý dời đô bằng đường thuỷ. Chỉ có dời đô bằng đường thuỷ thì mới an toàn và tải được cả bộ máy triều đình, cùng vật chất đồ sộ. Ca dao vùng Hoa Lư lưu truyền về sự tiếc nuối của người dân cố đô, khi tiễn đoàn thuyền dời đô cũng như tâm trạng của thái tử Lý Phật Mã:

Dập dìu cánh hạc chơi vơi
Tiễn thuyền vua Lý đang dời kinh đô
Khi đi nhớ cậu cùng cô
Khi về lại nhớ cá rô Tổng Trường

Thời vua Đinh Tiên Hoàng đã buôn bán với nước ngoài bằng thuyền. Lý Công Uẩn dời đô cùng đội thuyền. Đoàn thuyền xuất phát từ bến Ghềnh Tháp (nay là nơi giữa phủ Vườn Thiên và nhà bia Lý Thái Tổ ở cố đô Hoa Lư). Rồi thuyền vào sông Sào Khê, qua cầu Đông, cầu Dền ở Hoa Lư để ra bến đò Trường Yên vào sông Hoàng Long. Đi tiếp đến Gián Khẩu, rẽ vào sông Đáy. Từ sông Đáy, rẽ vào sông Châu Giang. Đến Phủ Lý, đoàn thuyền ngược sông Hồng, vào sông Tô Lịch trước cửa thành Đại La.

Hành trình dời đô, qua sáu con sông. Sông Sào Khê, sông Hoàng Long, sông Châu Giang đi xuôi dòng. Sông Đáy, sông Hồng, sông Tô Lịch đi ngược dòng.

Lý Thái Tổ tiếp nối Văn hóa Tràng An- Hoa Lư

Kinh đô Hoa Lư buổi đầu của vua Đinh Tiên Hoàng với Văn hóa Tràng An thanh lịch. Đoàn thuyền vua Lý Thái Tổ dời đô dập dìu thương nhớ.

Về Thăng Long. Lý Thái Tổ thừa hưởng hệ thống chính trị và cơ sở vật chất, tinh thần, tư tưởng độc lập dân tộc, thoát Tàu, của kinh đô Hoa Lư. Lý Thái Tổ đã xây dựng nhiều công trình kiến trúc giống ở Hoa Lư tại kinh đô Thăng Long, để ơn nhớ công lao đặt nền móng xây dựng độc lập, tự chủ nước Việt của vua Đinh. Những địa danh của Hoa Lư trên đất Thăng Long còn vang đến nay như: Ô Cầu Dền, phố Tràng Tiền, phố Cầu Đông, chùa Một Cột, ngã ba Bồ Đề, cống Trẹm, tháp Báo Thiên, phố Đình Ngang...

Sách Đại Nam nhất thống chí chép:

"Đô cũ nhà Đinh, nhà Lê ở xã Trường Yên Thượng và Trường Yên Hạ về phía tây bắc huyện Gia Viễn, có nội thành và ngoại thành, có cửa xây bằng đá, lại có các danh hiệu: cầu Đông, cầu Dền, cầu Muống, Tràng Tiền, chùa Tháp, chùa Nhất Trụ,... nền cũ vẫn còn. Về sau Lý Thái Tổ dời đô đến Thăng Long đều dùng theo các danh hiệu ấy...".

Lý Thái Tổ xây Hoàng thành Thăng Long

Năm 1010. Khi mới định đô tại thành Đại La cũ. Lý Thái Tổ khởi công xây dựng Hoàng Thành và hàng loạt cung điện ở trong Hoàng Thành. Lý Thái Tổ đổi tên thành Đại La là Thăng Long. Đầu năm 1011 hoàn thành.

Kinh thành Thăng Long được Lý Thái Tổ xây theo mô hình Tam trùng thành quách. Vòng ngoài cùng gọi là La thành hay Kinh thành. Vòng thành thứ hai là Hoàng thành. Giữa hai lớp thành này là nơi sinh sống của cư dân. Lớp thành còn lại là Tử cấm thành, hay Long Phượng thành. Là nơi ở của nhà vua. Các thời sau đều theo cách ấy.

Hoàng thành đắp bằng đất. Phía ngoài có hào. Mở bốn cửa. Cửa Tường Phù ở phía đông. Cửa Quảng Phúc ở phía Tây. Cửa Đại Hưng ở phía Nam. Cửa Diệu Đức ở phía Bắc. Căn cứ vào sử liệu và di tích, có thể xác định cửa Tường Phù mở ra phía Chợ Đông và khu phố buôn bán tấp nập của phường Giang Khẩu và đền Bạch Mã. Cửa Quảng Phúc mở ra phía chùa Một Cột và chợ Tây Nhai (chợ Ngọc Hà). Cửa Đại Hưng ở khoảng gần Cửa Nam hiện nay. Cửa Diệu Đức nhìn ra trước sông Tô Lịch, khoảng đường Phan Đình Phùng hiện nay.

Những cung điện chính ghi trong sử sách. Điện Càn Nguyên là nơi thiết triều đặt trên núi Nùng tức núi Long Đỗ. Hai bên tả hữu là điện Tập Hiền và điện Giảng Võ. Bên trái mở cửa Phi Long thông với cung Nghinh Xuân. Bên phải mở cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn. Chính Bắc dựng điện Cao Minh. Thềm các quan chầu vua gọi là Long Trì có hành lang chạy xung quanh. Đằng sau điện Càn Nguyên là điện Long An và điện Long Thụy, nơi vua ở. Bên trái xây điện Nhật Quang. Bên phải xây điện Nguyệt Minh. Đằng sau là cung Thúy Hoa của các phi tần.

Kinh thành là khu dân và quan ở, bao lấy Hoàng thành. Gồm có 61 phường, gọi là phủ Ứng Thiên.

Năm 1029. Lý Thái Tông xây dựng lại toàn bộ khu cấm thành sau khi nơi đây bị tàn phá bởi Loạn tam vương. Trên nền cũ điện Càn Nguyên, Lý Thái Tông cho dựng điện Thiên An làm nơi thiết triều. Hai bên tả hữu là điện Tuyên Đức và điện Thiên Phúc. Phía trước điện Thiên An là sân Rồng có đặt một quả chuông lớn. Hai bên tả hữu sân rồng có đặt gác chuông. Phía đông, tây sân Rồng là điện Văn Minh và điện Quảng Vũ, phía trước sân rồng là điện Phụng Tiên, trên Điện có lầu Chính Dương là nơi báo canh, báo khắc. Sau điện Thiên An là điện Thiên Khánh hình Bát Giác. Sau điện Thiên Khánh là điện Trường Xuân. Trên điện Trường Xuân có gác Đồ Long. Từ điện Thiên Khánh nối với điện Thiên An ở phía sau đều có bắc cầu gọi là cầu Phượng Hoàng.

Cung điện ngói bạc, hoa thơm, hồ thắm, vườn xanh

Năm 1203. Lý Cao Tông, vua thứ bảy, triều Lý (1175- 1210) xây dựng thêm Hoàng thành. Cung điện mới xây ở phía tây tẩm điện. Bên trái dựng điện Dương Minh. Bên phải dựng điện Chính Nghi. Ở trên xây điện Kính Thiên, thềm gọi là Lệ Giao. Ở giữa mở cửa Vĩnh Nghiêm. Bên phải mở cửa Việt Thành, thềm gọi là Ngân Hồng. Đằng sau xây điện Thắng Thọ. Bên trái xây gác Nhật Kim. Bên phải xây gác Nguyệt Bảo. Xung quanh dựng hành lang, thềm gọi là Kim Tinh. Bên trái gác Nguyệt Bảo là tòa Lương Thạch. Phía tây xây gác Dục Đường (nhà tắm). Phía sau xây gác Phú Quốc, thềm gọi là Phượng Tiêu. Phía sau dựng cửa Thấu Viên, ao Dưỡng Ngư trên ao xây đình Ngoạn Y. Ba mặt đình có trồng hoa thơm cỏ lạ nước thông với sông.

Các cung điện khác cũng được xây dựng liên tục. Mỗi cung điện đều có tường bao quanh và làm cửa thông với cung điện khác. Ngoài cung điện, cho xây dựng nhiều công trình văn hóa tín ngưỡng. Đền Quán Thánh, chùa Chân Giáo (nơi vua Lý Huệ Tông tu). Năm 1161. Dựng Đài Chúng Tiên, tầng trên lợp ngói bạc. Hồ ao thanh cảnh lấp lánh trong Hoàng thành. Năm 1049. Đào hồ Kim Minh Vạn Tuế. Đắp núi đá cao ba ngọn trên mặt hồ và xây cầu Vũ Phượng đi vào.

Mười năm sau. Xây thêm điện Hồ Thiên bát giác ở đấy. Năm 1051. Đào hồ Thụy Thanh, hồ Ứng Minh. Năm 1098. Đào hồ Phượng Liên. Xây bên hồ này điện Sùng Uyên. Bên trái lập điện Huy Dương, đình Lai Phượng. Bên phải dựng điện Ánh Thiềm, đình Át Vân. Phía trước xây lầu Trường Minh. Phía sau bắc cầu Ngoạn Hoa.

Nhiều vườn ngự hoa thắm, hương thơm trong Hoàng thành. Mùa thu năm 1048. Trồng thêm ba vườn ngự. Vườn Quỳnh Lâm. Vườn Thắng Cảnh và vườn Xuân Quang. Năm 1065. Thêm vườn Thượng Lâm. Giữa Thế kỷ XIV dựng một vườn ngự nữa nối liền với hậu cung.

Sử cũ còn ghi giữa vườn có đào một cái hồ lớn: "Trong hồ chất đá làm núi, trên bờ hồ trồng thông, trúc và nhiều thứ kỳ hoa diệu thảo khác thêm vào đấy là chim quý thú lạ. Bốn mặt khai cho sông nước thông vào, gọi hồ ấy là Lạc Thanh Trì. Về phía tây hồ trồng hai cây quế, dựng một tòa điện gọi là điện Lạc Thanh. Lại đào các hồ nhỏ khác, bắt người ở Hải Đông chở nước mặn chứa vào hồ ấy, để nuôi các loài hải sản như đồi mồi cá biển và các loại ba ba. Rồi bắt người Hóa Châu bắt cá sấu thả vào đấy. Lại có hồ Thanh Ngư dể nuôi cá Thanh Phụ (cá diếc đuôi đỏ vảy biếc)... Lại làm dãy hành lang ở tây điện thẳng đến cửa Hoàng Phúc, dựng dãy Trường Lang từ gác Nguyên Huyền đến cửa Đại Triều phía tây.

Nghệ thuật đất nung Rồng bay, Phượng múa

Đại Việt sử ký toàn thư mô tả việc xây dựng kinh thành Thăng Long thời Lý Thái Tổ:

Xây dựng các cung điện trong kinh thành Thăng Long, phía trước dựng điện Càn Nguyên làm chỗ coi chầu, bên tả làm điện Tập Hiền, bên hữu dựng điện Giảng Võ. Lại mở cửa Phi Long thông với cung Nghênh Xuân, cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn, hướng chính nam dựng điện Cao Minh, đều có ba thềm rồng, trong thềm rồng có hành lang dẫn ra xung quanh bốn phía...

Cấm Thành (nơi ở của vua) có trục đối xứng Bắc- Nam. Điện Càn Nguyên ở trên núi Nùng (núi Long Đỗ). Nhà Lý cho xây dựng 36 cung, 49 điện ở khu trung tâm Cấm thành Thăng Long. Kết quả khai quật hoàng thành Thăng Long của giới khảo cổ học Việt Nam năm 2002 cho thấy những dấu tích nghệ thuật kiến trúc thời Lý.

Lý Thái Tổ và nhà Tống

Các nhà nghiên cứu khẳng định. Sự ra đời của Văn hiến Thăng Long bắt đầu từ Chiếu dời đô. Từ ngày kinh đô Thăng Long ra đời (1010). Hàng ngàn năm lịch sử Tổ Tiên Bách Việt đã chuẩn bị cho sự ra đời và phát triển của Văn hiến Thăng Long. Văn hiến Thăng Long, tiếp nối những giá trị vật chất và tinh thần của Tổ Tiên đã tạo dựng từ mấy ngàn năm trước, mà Trống Đồng là minh chứng hùng hồn…

Lý Thái Tổ dời đô là tuyên bố vang dội bốn phương về chủ quyền bất khả xâm phạm của nước Việt. Về sức mạnh chiến thắng của dân tộc Việt, vươn lên, độc lập và phát triển. Trải qua ba triều vua Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông và Lý Thánh Tông, nước Đại Việt phát triển ổn định, vững mạnh. Sức mạnh của nước Đại Việt làm cho nhà Tống phải kiêng nể.

Lý Thái Tổ củng cố khu vực biên giới phía Bắc. Nhà Lý gả công chúa cho các thủ lĩnh miền núi để gắn chặt mối quan hệ bảo vệ đất nước.

Ở nước Tàu. Nhà Tống từ khi thành lập (960) đã phải gánh những hậu quả do thời chia cắt Ngũ Đại Thập Quốc. Ngoài việc đánh dẹp các nước cát cứ, nhà Tống phải đối phó với nước Liêu lớn mạnh ở phương Bắc. Đó là Quốc gia của người Khiết Đan được vua nhà Hậu Tấn cắt cho 16 châu Yên Vân, ở phía bắc từ năm 936, nên lãnh thổ bành trướng nhiều về phía nước Tàu. Nhân đó, họ can thiệp vào Trung Nguyên. Đến thời Tống Thái Tông, dù dẹp hết các nước trong Thập Quốc nhưng nguy cơ uy hiếp từ phía nhà Liêu luôn tiềm ẩn đe dọa nhà Tống.

Sang thời Tống Nhân Tông. nhà Tống lại bị thêm sự uy hiếp của nước Tây Hạ của người Đảng Hạng phía Tây Bắc mới nổi. Nhà Tống phải cống nộp nhiều của cải và bị mất nhiều phần lãnh thổ cho Liêu và Tây Hạ. Trong nước, triều Tống bị rối loạn, bởi những cải cách của Vương An Thạch.

Âm mưu tiến đánh các nước phía Nam, để giải tỏa các căng thẳng nội bộ của nước Tàu, thành một chiến lược của nhà Tống.

Hồn Việt bay bổng Tinh hoa Việt

Các họa tiết trên gốm đất nung thời Lý xây hoàng thành in đậm tài hoa, hồn Việt. Đời nối đời chúng ta khám phá. Đắm mê. Hình tượng các con vật (Rồng, Phượng, cá, chim, hổ). Các hình Hoa lá (hoa sen, hoa cúc, hoa phù dung, lá đề). Sóng nước là sóng hình sin hay sóng ba lớp chồng nhau như ba ngọn núi (gọi là sóng tam sơn)... Tất cả đều tinh tế, tạo những nét giản dị. Các hình vẽ, khắc trước phủ men sau. Đường nét trang trí giản dị mộc mạc mà sinh động. Gốm xây dựng, gốm trang trí kiến trúc, tự nung để xây cung đình Lý Thái Tổ. Sản phẩm gốm đủ loại: gạch xây, ngói lợp, ngói bò ốp trên bờ nóc, ngói đầu mái, hoặc gạch trang trí…

Những hình Rồng, Phượng, hoa lá khắc chìm hoặc đắp nổi trên bề mặt gạch. Trên mặt tròn đầu mũi ngói ống ấn nổi hình hoa sen, hoa cúc, hoa thị, có khi hình mặt con thú, hổ phù. Những trang trí trên mặt gạch đã áp dụng lối in khuôn dập lên mặt gạch khi đất còn mềm trước khi để khô và nung. Thường có đường chỉ gờ viền chung quanh trong các bố cục hình vuông, chữ nhật, hình tròn, hình lá đề, hình đa giác. Bên trong các hình đó, có chạm các hình hoa sen, hoa cúc dây, hoa thị, hay hình Rồng, Phượng uốn lượn. Sự xắp xếp theo bố cục trang trí đăng đối, đối xứng.

Có những bố cục trang trí to rộng, gắn ghép gốm với nhau. Có những gốm đất nung được đắp, nặn, chạm trổ to, để gắn trên bờ nóc, diềm mái, đầu đao. Những gốm lớn gắn vào kiến trúc có hình chim Phượng, hình Rồng uốn mình chầu ngọc. Những đầu Rồng có mào bờm uốn lượn, hình chim Phượng mỏ dài quặp lại, có mào, hai cánh uốn cong (để gắn trên đầu bờ nóc hay đầu đao). Gốm đa dạng, trang trí các loại công trình kiến trúc chùa, tháp, cung điện, lầu to, lầu nhỏ.

Hoàng thành Thăng Long- Châu báu tặng cháu con

1000 năm. Gió mưa. Chinh chiến. Cát bụi trở về cát bụi. Người Hà Nội- Việt Nam tưởng như tay trắng. Không ai hay biết nguồn tri thức, tài năng, gia sản của Tổ Tiên. Vậy mà. Năm 2002. Hoàng Thành Thăng Long ngủ yên trong lòng đất Mẹ Việt, bỗng phát lộ. Cuộc khảo cổ năm 2003 có quy mô lớn nhất Đông Nam Á, đã làm phát lộ một phức hệ di tích- di vật phong phú, đa dạng. Đó là những bài học lịch sử xương máu liên tục, qua nhiều triều đại của Thăng Long- Hà Nội.

Hơn mộ̣t triệu hiện vật được khai quật, tìm thấy các dấu tích kiến trúc và di vật thời Lý- Trần- Lê nằm chồng lên các di tích kiến trúc và di vật thời Đại La- Tống Bình. Những hiện vậy này được nghiên cứu, là tiếng nói đa thanh về lịch sử, tư tưởng, nghệ thuật, các nghề thủ công, đời sống xã hộị của Người và Đất Thăng Long, để tiếp tục phát huy, trong sự nghiệp giữ gìn đất nước và sản xuất, mỹ thuật, giao thương quốc tế, thời @.

Đấy là kho báu của Tổ Tiên được gìn giữ trong lòng đất Nam Quốc Sơn Hà, làm hành trang cho muôn đời con cháu Việt, vui sống cùng nhân loại Thế kỷ XXI. Đấy là Thăng Long Tinh Hoa trường tồn bất diệt trong dòng chảy Tâm linh Việt.

Đêm Hồ Gươm 2016. Người Nấu Sử Sôi Kinh cảm nhận Thăng Long Tinh Hoa Trầm tích lên cao đỉnh ngát thơm dành cho những người Việt Nam luôn mở tầm Tư tưởng Lớn, hướng lên cao.

Thăng Long Tinh Hoa

Qua nghìn tuổi hồn Việt tao nhã
Nét Tinh hoa lắng đọng anh linh
Hương tình chắt lọc hình xoáy ốc
Trầm tích lên cao đỉnh ngát thơm
Như trai biển ngậm bùn nhả ngọc
Như cây bị thương kết trầm hương
Như Mẫu Phật xêng xang tám hướng
Bay cùng Di Lặc tới mười phương.


(… Còn tiếp ...)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 13.03.2017.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004