Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


VIỆT SỬ TẠP LUẬN










IV – GIAO CHỈ BINH BIẾN


Sau khi Lục Dận hòa được với rợ Giao Chỉ, Cửu Chân. Lại dẹp giặc ở Thương Ngô nên Giao Châu yên bình. Dận làm khách đất lạ hơn 10 năm. Trong suốt thời gian đó ở Giao Chỉ và Cửu Chân, chính quyền cơ sở quản lý trung tâm. Vùng tự trị xa xôi do người rợ giữ. Người rợ không tấn công quan cai trị mà đại diện bắc triều cũng không làm tổn hại những lợi ích của người bản địa. Cả hai tạm sống hòa thuận.

Tam quốc chí chép: “Năm đó (năm 262), sai quan Sát chiến đến quận Giao Chỉ thu chim khổng tước, heo lớn” và “Tháng tư mùa hạ năm thứ sáu (năm 263). Người huyện Tuyền Lâm nói là có rồng vàng xuất hiện. Tháng năm, quan lại của quận Giao Chỉ là bọn Lữ Hưng làm phản, giết Thái thú Tôn Tư. Lúc đầu Tư bắt hơn nghìn thợ khéo trong quận đưa lên Kiến Nghiệp, vừa lúc quan Sát chiến đến, sợ lại bị bắt, cho nên bọn Hưng nhân đó phát động quân dân, chiêu dụ người rợ vậy”.

Tấn thư chép: “Thời Tôn Hạo, Giao Chỉ Thái thú Tôn Tư tham bạo, bị trăm họ chán ghét. Gặp lúc Sát chiến Đặng Tuân đến, tự ý đem ba ngàn con chim trĩ, sai người chở đến huyện Mạt Lăng, người đi bị khổ vì lao dịch nơi xa, có ý làm loạn. Quan lại trong quận là Lữ Hưng giết Tư và Tuân, đem quân nội thuộc”.

Theo đó khi quan Sát chiến đến quận Giao Chỉ thu chim và heo năm 262, quan lại của Thái thú là Lữ Hưng đã phát động quân dân, chiêu dụ người rợ giết Tôn Tư và quan Sát chiến Đặng Tuân. Vậy tính ra Tôn Tư làm Thái Thú quận Giao Chỉ hơn 15 năm.

Tam quốc chí chép: “Hưu hoăng (năm 264), bấy giờ nước Thục vừa mất, lại nữa quận Giao Chỉ phản loạn, người trong nước lo lắng, mong có được vua giỏi”

Tấn thư chép: “Năm Vĩnh An thứ bảy (năm 264), lại lấy ba quận lúc trước lập ra Quảng Châu”.

Như vậy cuộc binh biến ở Giao Chỉ do Lữ Hưng thực hiện, đã gây tiếng vang lớn. Chia đất Châu Giao 7 quận thành 2 vùng. Phía bắc nhà Ngô quản lý, đặt thành Quảng Châu sau cuộc binh biến gồm 4 quận. Phía nam do Lữ Hưng đứng đầu.

Tam quốc chí chép: “Lữ Hưng đã giết Tôn Tư, sai sứ đến nước Ngụy, xin Thái thú và quân sĩ đến. Thặng tướng Hưng dâng tấu chọn vạn người làm ruộng cho làm quân sĩ”.

Tấn thư chép: “Quan lại trong quận là Lữ Hưng giết Tư và Tuân, đem quân nội thuộc. Vũ Đế bái Hưng làm An nam Tướng quân, Giao Chỉ Thái thú. Rồi bị Công tào Lí Thống giết, Đế lại lấy người huyện Kiến Ninh là Lí Cốc làm Giao Chỉ Thái thú, Cốc lại chết, lại sai người quận Ba Tây là Mã Dong thay chức. Dong bệnh chết”.

Tam quốc chí chép: “Năm đó (năm 264), nhà Ngụy đặt quan Thái thú Giao Chỉ sai đến quận”.

Sau cuộc binh biến Hưng đem đất nội thuộc nhà Ngụy, xin Thái thú và quân sĩ đến, Vũ Đế bái Hưng làm Thái thú Giao Chỉ. Nhưng bị Công tào Lý Thống giết. Nên nhà Tấn lấy Lý Cốc sang thay, Cốc lại chết. Sai Mã Dong sang nhậm chức, Dong bệnh chết.

Tấn thư chép: “Nam Trung Giám quân Hoắc Dặc lại sai người quận Kiền Vi là Dương Tắc thay Dong, cùng bọn Tướng quân Mao Quýnh, Cửu Chân Thái thú Đổng Nguyên, Nha môn Mạnh Can, Mạnh Thông, Lí Tùng, Vương Nghiệp, Thoán Năng từ đất Thục đến Giao Chỉ, phá quân Ngô ở Cổ Thành, chém Đại đô đốc Tu Tắc, Giao Châu Thứ sử Lưu Tuấn”.

Tam quốc chí chép: “Năm đó (năm 269), sai Giao Châu Thứ sử Lưu Tuấn, Tiền bộ đốc Tu Tắc vào đánh quận Giao Chỉ, bị tướng Tấn là bọn Mao Quýnh phá, đều chết, quân tan về quận Hợp Phố”

Sau khi Dong chết bênh, Hoắc Dặc lấy Dương Tắc làm Thái thú Giao Chỉ. Năm 269, nhà Ngô sai Lưu Tuấn, Tu Tắc tấn công Giao Chỉ, nhưng không thắng được, quân rút về Hợp Phố. Lúc này, Mao Quýnh, Thái thú Cửu Chân tên Đổng Nguyên, Mạnh Can, Mạnh Thông, Lý Tùng, Vương Nghiệp, Thoán Năng từ đất Thục đến Giao Chỉ, đánh phá quân Ngô ở Cổ Thành(Hợp Phố) chém Tuấn và Tắc.

Tam quốc chí chép: “[năm 270] Sai Giám quận Ngu Tỉ, Uy nam tướng quân Tiết Hủ, Thương Ngô Thái thú Đào Hoàng đi từ đường Kinh Châu, Giám quận Lý Úc, Đốc quân Từ Tồn đi từ đường biển Kiến An, đều đến quận Hợp Phố đánh quận Giao Chỉ”

Tân thư chép: “Nhà Ngô sai Ngu Tỉ làm Giám quân, Tiết Hủ làm Uy nam Tướng quân, Đại đô đốc, Hoàng làm Thương Ngô Thái thú, chống Tắc, đánh ở Phân Thủy. Hoàng thua, lui về giữ Hợp Phố, mất 2 tướng. Hủ giận bảo Hoàng nói: "Nếu tự dâng biểu đánh giặc, lại báo tang 2 tướng, bị trách thì làm sao?". Hoàng nói: "Kẻ quan nhỏ không được làm theo ý mình, các quân không hòa thuận cho nên dẫn đến thua trận đấy thôi". Hủ giận, muốn dẫn quân trở về. Hoàng nhân lúc buổi đêm đem vài trăm quân đánh úp Đổng Nguyên, bắt được vật qúy của Nguyên, dùng thuyền chở đi, Hủ bèn cảm tạ Hoàng, lấy Hoàng lĩnh việc Giao Châu, làm Tiền bộ đốc. Hoàng theo đường biển ra chỗ không ngờ, đi thẳng đến Giao Chỉ, Nguyên chống lại. Các tướng sắp đánh, Hoàng nghi trong tường thành có quân phục, bày kích dài rất nhiều ở đằng sau. Binh vừa đến gần, Nguyên giả rút lui. Hoàng đuổi theo, quân phục quả nhiên xông ra, kích dài đến chống lại, đại phá bọn Nguyên, lấy thuyền mà lúc trước bắt được chở mấy nghìn tấm lụa gấm trao cho tướng giặc Phù Nghiêm là Lương Kì, Kì đem hơn mười ngàn người giúp Hoàng. Nguyên có tướng khỏe là Giải Hệ cùng ở trong thành, Hoàng dụ em của Giải Hệ là Tượng, sai viết thư gửi cho Hệ, lại sai Tượng cưỡi xe nhỏ của Hoàng, đánh trống dẫn đường đi vào. Bọn Nguyên nói: "Tượng còn như thế, Hệ tất bỏ chí". Lại liền giết Hệ. Hủ, Hoàng bèn hãm Giao Chỉ. Nhà Ngô nhân đó dùng Hoàng làm Giao Châu Thứ sử”.

Năm 270, nhà Ngô sai Ngu Tỉ, Tiết Hủ, Đào Hoàng, Lý Úc, Từ Tồn tụ ở Hợp Phố đánh quận Giao Chỉ. Trận thua ở Phân Thủy, phải lui về Hợp Phố. Đêm đánh úp, giành lợi thế trước Nguyên, Hoàng liên minh với Lương Kỳ, ly gián Nguyên và Giải Hệ, nên hãm được Giao Chỉ. Liền được phong Thứ sử Giao Châu.

Tam quốc chí chép: “Năm đó [năm 271] bọn Tỉ, Hoàng phá quận Giao Chỉ, bắt giết tướng giữ thành mà nhà Tấn đặt, do đó các quận Cửu Chân, Nhật Nam đều thu về” và “Đại xá, chia quận Giao Chỉ lập quận Tân Xương. Các tướng phá động Phù Nghiêm, đặt quận Vũ Bình”.

Tấn thư chép: “Tu Tắc đã bị Mao Quýnh giết, con của Tu Tắc là Doãn theo Hoàng đánh phương nam, thành đã hàng, Doãn xin trả thù, Hoàng không cho. Quýnh ngầm mưu tính đánh úp Hoàng, việc lộ, bắt Quýnh, mắng nói: "Giặc Tấn!". Quýnh cất lời nói: "Chó Ngô! bọn nào là giặc?". Doãn mổ bụng Quýnh, nói: "Còn làm giặc được nữa không?". Quýnh vẫn mắng nói: "Chí của ta là giết vua Tôn Lượng của ngươi, cha ngươi là là tên chó chết nào vậy!". Hoàng đã bắt được bọn Tắc, đều tống về kinh sư. Tắc đến Hợp Phố, phát bệnh chết. Bọn Mạnh Can, Thoán Năng, Lí Tùng đến Kiến Nghiệp”.

Tấn thư chép: “Quan Công tào quận Cửu Chân là Lí Tộ giữ quận nội thuộc, Hoàng sai tướng đánh Tộ, không thắng. Cậu của Tộ là Lê Hoảng theo quân. Khuyên Tộ ra hàng. Tộ đáp nói: "Cậu là tướng nhà Ngô, Tộ là quần thần của nhà Tấn, chỉ có thể lấy sức để đối đãi mà thôi". Lâu ngày mới đánh được. Hạo lấy Hoàng làm Sứ trì tiết, Đô đốc Giao Châu chư quân sự, Tiền Tướng quân, Giao Châu Mục. Đất đai các quân Vũ Bình, Cửu Đức, Tân Xương hiểm trở, người Di Lão ương ngạnh, qua các thời không thần phục, Hoàng đánh dẹp, bắt đầu đặt ra 3 quận, cùng hơn 30 huyện thuộc Cửu Chân. Gọi Hoàng về làm Vũ Xương Đô đốc, lấy Hợp Phố Thái thú Tu Doãn thay chức. Người cõi Giao xin lưu Hoàng ở lại đến nghìn lần, do đó sai trở lại”.

Năm 271, Tỉ, Hoàng phá quận Giao Chỉ, giết Quýnh và Tắc. Giam đầy Can, Năng, Tùng đến Kiến Nghiệp. Quan Công tào Cửu Chân tên Lý Tộ giữ quận nội thuộc, chống nhà Ngô, Hoàng đánh mãi mới thắng. Tộ còn quân để giữ lâu ngày với Hoàng, cho thấy Tộ không tham gia chống Hoàng cùng Tắc, nghĩa là Tộ tự trị Cửu Chân, khi Hoàng đánh, mới xin nội thuộc. Phá Tộ lập quận Cửu Đức, mở rộng quận Cửu Chân hơn 30 huyện. Phá thủ lĩnh người Man Di tên là Lương Kỳ ở động Phù Nghiêm đặt quận Vũ Bình.

Động Phù Nghiêm tiêu biểu cho vùng tự trị. Trong hơn 30 huyện được mở rộng ở quận Cửu Chân, là những vùng tự trị. Có người Di Lão ương ngạnh, qua các thời không thuần phục. Phán đoán: Trong lần đánh dẹp này, Bà Triệu hoặc thế hệ tiếp nối của bà bị đánh dẹp.

Tam quốc chí chép: “Mùa hạ năm thứ ba (năm 279) Quách Mã làm phản. Mã vốn là bộ khúc của Hợp Phố Thái thú Tu Doãn” và “Mã cùng tướng bộ khúc là bọn Hà Điển, Vương Tộc, Ngô Thuật, Ân Hưng sợ làm kinh động quân dân, bèn tụ tập binh sĩ, đánh giết Quảng Châu Đốc là Ngu Viện. Mã tự hiệu là Đô đốc việc quân miền Giao, Quảng, An nam tướng quân, Hưng làm Quảng Châu Thứ sử, Thuật làm Nam Hải Thái thú, Điển đánh quận Thương Ngô, Tộc đánh quận Thủy Hưng” và “sai Giao Châu Mục Đào Hoàng đem quân bản bộ cùng quân của các quận Hợp Phố, Uất Lâm và quân đường phía tây cùng đi đánh Mã”.


V – GIAO CHÂU TỰ TRỊ


Tấn thư chép: “Hạo đã hàng nhà Tấn, tự tay viết thư sai Mã Tức Dong khuyên Hoàng quy thuận. Hoàng khóc mấy ngày, sai sứ giả cầm ấn thao đến Lạc Dương. Đế chiếu lệnh cho làm chức cũ, phong làm Uyển Lăng Hầu, đổi làm Quán quân Tướng quân.

Ngô đã bình xong, giảm bớt quân của châu quận, Hoàng dâng thư nói: "Giao Chỉ hoang vu, ngăn giữ một phương, nhiền lần phiên dịch mới nói, liền nối núi biển. Lại nữa Nam Quận cách châu này đi đường biển hơn một ngàn dặm, ngoài ra cách Lâm Ấp đầy bảy trăm dặm. Cừ súy người Di là Phạm Hùng mấy đời đến cướp, tự xưng làm Vương, nhiều lần đánh trăm họ. Lại gần liền với Phù Nam, bọn người này nhiều đông, kết đảng dựa nhau, giữ chỗ hiểm không thần phục. Vào thời thuộc Ngô, nhiều lần cướp nghịch, đánh phá quận huyện, giết hại trưởng lại. Thần tuy yếu kém, trước được nước cũ chọn dùng, đến giữ ở phương nam xa lánh, đã hơn 10 năm rồi. Tuy là trước sau có đánh dẹp, diệt cừ súy của chúng, nhưng núi cao hang sâu, còn có chỗ trốn náu. Lại nữa quân lính mà thần thống lĩnh là hơn bảy ngàn người, phương nam nóng nực, có nhiều khí độc, nhiều năm đánh dẹp, chết diệt hao mòn, nay chỉ còn hai ngàn bốn trăm hai mươi người. Nay bốn cõi gộp lại, không có ý không thần phục, nên cởi giáp giảm đao, sửa sang lễ nhạc. Nhưng người của châu này, kẻ biết nghĩa thì ít, lại chán ghét yên vui, ưa làm loạn hại. Lại nữa phía nam của Quảng Châu, trong vòng hơn sáu ngàn dặm, kẻ không thần phục đã có hơn năm vạn hộ, cùng bọn không ràng buộc được ở quận Quế Lâm còn đến một vạn hộ nữa. Còn những kẻ thần phục quan lại, mới có hơn năm ngàn nhà. Hai châu như môi với răng, chỉ có quân sĩ mới trấn giữ được. Lại còn quận Hưng Cổ thuộc Ninh Châu liền nối ở đầu dòng sông, cách quận Giao Chỉ đến sáu ngàn dặm, đường thủy bộ đều thông, giữ gìn lẫn nhau. Quân của châu không nên giảm bớt, để làm cho lẻ loi”.

Năm 280, Tôn Hạo hàng nhà Tấn. Viết thư khuyên Hoàng quy thuận. Hoàng sai sứ giả cầm ấn thao đến Lạc Dương, cho giữ chức cũ. Đến thời điểm này Hoàng ở Giao Châu tới hơn 10 năm. Trong thời gian ấy, ngoài thì Hoàng phải chống lại sự cướp nghịch, đánh phá huyện ấp, giết hại trưởng lại của Lâm Ấp và Phù Nam, trong thì dẹp loạn hại, trong vòng hơn sáu ngàn dặp(tương tứng Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam), có đến hơn năm vạn hộ không thuần phục. Ở Quế Lâm có đến một vạn nhà, trong khi kẻ thuần phục chỉ bằng một nửa. Hoàng thống lãnh bảy ngàn quân, nay vì khí ẩm, nóng nực, vì đánh dẹp chỉ còn gần hai ngàn rưỡi. Do đó xin không giảm bớt quân ở châu quận.

Tấn thư chép: “Đào Hoàng tự Thế Anh, người huyện Mạt Lăng, quận Đan Dương. Cha là Cơ, thời Ngô làm Giao Châu Thứ sử”.

Tấn thư chép: “Ở phương nam 30 năm, ân uy sáng rõ. Đến lúc chết, cả châu kêu khóc, như có tang cha mẹ. Triều đình bèn lấy Viên ngoại Tán kị Thường thị Ngô Ngạn thay Hoàng. Ngạn chết, lại lấy Viên ngoại Tán kị Thường thị Cố Bí thay Ngạn. Bí chết, người trong châu ép con của Bí là Tham lĩnh việc của châu. Tham không lâu thì chết, em của Tham là Thọ muốn lĩnh việc của châu, người trong châu không nghe, cố sức xin, bèn lĩnh việc của châu. Thọ lại giết bọn Trưởng sử Hồ Triệu, lại muốn giết Đô đốc dưới trướng là Lương Thạc, Thạc chạy trốn được, dấy binh đánh Thọ, bắt Thọ, gặp mẹ của Thọ, đánh thuốc độc giết đi. Thạc lại đón con của Hoàng là Thương Ngô Thái thú Đào Uy lĩnh chức Thứ sử, giữ chức rất được lòng dân chúng, được ba năm thì chết. Em của Uy là Thục, con là Tuy, sau đều làm việc Giao Châu. Từ thời Cơ đến Tuy là bốn đời, 5 người làm việc Giao Châu.

Em của Hoàng là Tuấn, thời Ngô làm Trấn nam Tướng quân, Kinh Châu Mục. Em của Tuấn là Kháng, con thứ giữa của Thái tử vậy. Con của Tuấn là Nhân, tự Cung Chi; em của Nhân là Du, tự Cung Dự, đều có tiếng tăm. Nhân làm đến Lâm Hải Thái thú, Hoàng môn Thị lang. Du làm Tuyên Thành Nội sử, rồi làm Hữu quân Trưởng sử. Con của Nhân là Phức, làm quan lệnh huyện Vu Hồ, bị Hàn Hoảng giết, truy tặng chức Lư Giang Thái thú. Con của Kháng là Hồi, làm đến Tự hữu truyền”. 

Năm 270, Đào Hoàng được sai đánh Giao Chỉ, năm sau thì phá được, nhà Ngô cho giữ chức Châu Mục. Năm 280, Tôn Hạo hàng nhà Tấn, viết thư khuyên Hoàng hàng nhà Tấn. Nhà Tấn có được thiên hạ, ra chiếu giản quân binh ở châu quận, Hoàng viết thư cho rằng: Giao Châu không nên giảm binh, Tấn Vũ Đế nghe theo, Hoàng ở phương nam 30 năm. Tính ra khoảng năm 300 thì mất. Trước đó, tình hình nhà Tấn hết sức rối ren sau khi Tấn Vũ Đế mất năm 290. Một năm sau, 8 vương gia tranh giành quyền lực gây ra loạn lạc, mãi tới năm 306. Vậy họ Đào ở Giao Châu cũng thế lực.

Sau khi Hoàng mất, triều đình lấy Ngô Ngạn thay, Ngạn chết lấy Cố Bí thay. Bí chết người trong châu ép con của Bí là Tham lĩnh việc châu. Rồi Tham chết, em là Thọ muốn lĩnh việc châu, nhưng người trong châu không nghe, cuối cùng thì được. Thọ giết Trưởng sử Hồ Triệu, muốn giết Đô đốc dưới trướng là Lương Thạc. Thạc trốn được, chống lại Thọ, bắt Thọ. Đón con Hoàng là Uy lĩnh chức Thứ sử, được ba năm thì mất. Em của Uy là Thục, con là Tuy cũng làm việc Châu Giao. Sau Thạc bị Đào Khản chém.

Chúng ta thấy rằng: Thời kỳ này, việc các chức quan trong châu là do người trong châu quyết định, đây thực sự là một sự thay đổi mang tính bước ngoặt, nguyên nhân của sự thay đổi này có thể do triều đình phương bắc đang trong thời kỳ loạn lạc.

Thời kỳ loạn lạc được kéo dài thêm bởi Ngũ Hồ thập lục quốc từ năm 304 đến năm 439. Năm 316 nhà Tây Tấn bị nhà Hán Triệu diệt, năm 317 nhà Đông Tấn dựng lên. Tuy nhiên tình hình nhà Đông Tấn cũng loạn lạc, năm 323, Tấn Nguyên Đế chết, năm sau Vương Đôn nổi loạn, nội chiến diễn ra. Sau đó từ năm 327 đến năm 329, Tô Tuấn làm loạn. Đến năm 420, Lưu Dụ dẹp nhà Đông Tấn lập nên nhà Lưu Tống. Có thể nói: Xã hội nhà Tấn luôn luôn có biến loạn, trong thì binh biến, ngoài thì bị các thế lực phương bắc tấn công, nên không quan tâm được vùng phía nam.

Tống thư chép: “Đỗ Tuệ Độ, người huyện Chu Sương(tức Chu Diên), quận Giao Chỉ vậy. Tổ tiên là người quận Kinh Triệu. Ông là Nguyên, làm Ninh Phố Thái thú, rồi đến ở quận Giao Chỉ. Cha là Viện, tự Đạo Ngôn, nhậm chức quan ở phủ châu làm qua các chức Nhật Nam, Cửu Đức, Giao Chỉ Thái thú. Lúc đầu, cha con Cửu Chân Thái thú Lí Tốn khỏe mạnh có quyền thế, uy trùm cõi Giao, nghe tin Thứ sử Đằng Tuần Chi đang đến, sai hai con ngăn chặn các bến sông hiểm yếu. Viện thu tập quân chúng chém Tốn, trong châu được yên ổn. Bổ chức Long Tương Tướng quân. Tuần Chi ở châu hơn 10 năm, đánh nhau liền lần với nước Lâm Ấp”.

Tống thư chép: “Lại lấy Viện làm Long Tương Tướng quân, Giao Châu Thứ sử. Viết chữ lên cờ gọi là Quán quân Tướng quân. Lô Tuần chiếm cứ Quảng Châu, sai sứ giả đến giao hảo, Viện chém sứ giả. Năm Nghĩa Hi thứ sáu (năm 410), bấy giờ 44 tuổi thì chết, truy tặng làm Hữu Tướng quân, giữ chức quan như cũ”.

Tống thư chép: “Tuệ Độ là con thứ 5 của Viện vậy. Lúc đầu làm Chủ bạ của châu, Lưu dân Đốc hộ, chuyển làm Cửu Chân Thái thú. Viện chết, phép tắc của phủ châu giao phó cho người cõi Giao tự tiếp nhận, không nên để trống chức quan, cùng tôn Tuệ Độ lên làm việc của phủ châu, từ chối không được. Năm thứ bảy (năm 411), bổ chứ Sứ trì tiết, Đốc Giao Châu chư quân sự, Quảng vũ Tướng quân, Giao Châu Thứ sử. Chiếu thư chưa đến, mùa xuân năm đó, Lô Tuần đánh phá quận Hợp Phố, theo đường tắt đến Giao Châu”.

Như vậy, khi Đằng Tuấn Chi đến nhận chức Thứ sử, cha con Cửu Chân Thái thú Lý Tốn đã ngăn cản, họ Lý có quyền thế, uy trùm cõi Giao, do vậy đã bất tuân triều đình. Nhưng rồi bị Đỗ Viện là Thái thú Giao Chỉ giết. Chi ở Châu hơn 10 năm, sau lấy Viện thay chức, năm 410 Viện chết, người trong phủ châu theo phép tắc lấy người trong cõi Giao tự tiếp nhận nên lấy con là Tuệ Độ làm việc châu. Năm 411, triều đình chính thức bổ chức Thứ sử Giao Châu.

Vậy là đã quá rõ ràng: Từ thời Đào Hoàng đến thời Tuệ Độ, Châu Giao có phép tắc là lấy người trong châu để giữ chức. Đây là một bước tiến quan trọng trong tiến trình độc lập dân tộc. Nó biểu hiện sự tự chủ của châu, tuy rằng chưa phải là hoàn toàn.

Tống thư chép: “Ngày canh tí tháng sáu, Tuần vừa mờ sáng ra lệnh ở bờ nam, lệnh cho ba quân vào thành mới ăn. Tuệ Độ đem hết tiền của cho họ hàng để khuyến khích. Em là Giao Chỉ Thái thú Tuệ Kì, Cửu Chân Thái thú Chương Dân đều đốc thúc quân thuỷ bộ, Tuệ Độ tự trèo lên thuyền lớn, cùng đánh, phóng tên lửa, bó đuốc đuôi chim trĩ, quân bộ ở hai bên bờ bắn tên. Quân thuyền của Tuần đều bị cháy, một lúc sau tan vỡ lớn, Tuần trúng phải tên rơi xuống nước chết”.

Tống thư chép: “Năm Cảnh Bình (năm 423-424) thời Thiếu Đế, chết, bấy giờ 50 tuổi. Truy tặng làm Tả Tướng quân. 

Lấy con trưởng của Tuệ Độ là Viên ngoại Tán kị Thị lang tên là Hoằng Văn làm Chấn uy Tướng quân, Thứ sử”.

Tống thư chép: “Năm Nguyên Gia thứ tư (năm 427) thời Thái Tổ, lấy Đình úy Vương Huy làm Giao Châu Thứ sử, Hoằng Văn được gọi đến. Lúc đó mắc bệnh nặng, gượng dậy để lên đường, họ hàng thấy ông ta bệnh nặng, khuyên can bệnh hết hẳn mới đi”.

Năm Cảnh Bình nhà Lưu Tống, Tuệ Độ chết, con là Hoằng Văn nối nghiệp, Văn ốm nặng, năm 427, Vương Huy được cử làm Thứ sử Giao Châu. Tuy rằng nhà Lưu Tống được dựng xong xã hội cũng rất phức tạp.

Nam Tề thư chép: “Giao Châu xa cách ở biển đảo, liền nối với nước ngoài, cho nên dựa vào chỗ hiểm trở nhiều lần không thần phục. Đầu năm Thái Thủy (năm 468) thời Tống, Thứ sử Trương Mục chết, người quận Giao Chỉ là Lí Trường Nhân giết bộ khúc của Mục đến từ phương bắc đến, chiếm Giao Châu làm phản. Được vài năm thì bệnh chết. Em họ là Thúc Hiến nối nghiệp chủ việc, hiệu lệnh chưa ban ra, sai sứ giả đến xin làm Thứ sử. Nhà Tống lấy Nam Hải Thái thú Thẩm Hoán làm Giao Châu Thứ sử, lấy Thúc Hiến làm Ninh Viễn Tư mã, Vũ Bình, Tân Xương Thái thú của Hoán. Thúc Hiến nhận lệnh của triều đình, lòng người phục theo, bèn phát binh giữ chỗ hiểm yếu không đón Hoán vào, Hoán ở lại quận Uất Lâm rồi mắc bệnh chết. Năm Kiến Nguyên đầu tiên (năm 479) thời Thế Tổ, vẫn lấy Thúc Hiến làm Giao Châu Thứ sử, đến vỗ về ông ta. Thúc Hiến nhận lệnh, rồi lại chia cắt làm nước ngoài, cống nạp thiếu ít. Thế Tổ muốn đánh Thúc Hiến, năm Vĩnh Minh thứ ba (năm 485), lấy Tư nông Lưu Khải làm Giao Châu Thứ sử, phát binh của các quận Nam Khang, Lư Lăng, Thủy Hưng đánh Giao Châu. Thúc Hiến nghe tin, sai sứ giả đến xin tha cho vài năm, nạp 12 cái mũ trụ bạc ròng cùng lông chim trĩ, Thế Tổ không cho. Thúc Hiến sợ bị Khải đánh úp, ngầm đi đường từ Tương Xuyên vào chầu. 

Năm thứ sáu (năm 488) lấy Thủy Hưng Thái thú Phòng Pháp Thặng nối chức Khải. Pháp Thặng đến giữ, mắc bệnh không coi việc, chỉ ưa đọc sách. Trưởng sử Phục Đăng Chi nhân đó nắm lấy quyền, thay đổi các tướng, quan lại, không để Pháp Thặng biết. Lục sự Phòng Tú Văn báo cho Pháp Thặng. Pháp Thặng giận lắm, bắt trói Đăng Chi vào ngục. Hơn 10 ngày, Đăng Chi đem của hối lộ cho chồng của em Pháp Thặng là Thôi Cảnh Hiến mới được ra, đem bộ khúc đánh úp lấy châu bắt được Pháp Thặng, bảo Pháp Thặng nói: "Sứ quân đã có bệnh, không nên khổ sở". Bắt giam ở nhà riêng. Pháp Thặng không có việc gì làm, lại đến Đăng Chi xin đọc sách, Đăng Chi nói: "Sứ quân ở yên một chỗ còn sợ mắc bệnh, há lại xem sách". Rồi không cho. Lại tấu lên nói Pháp Thặng mắc bệnh tim, không thể làm việc, Thế Tổ vẫn lấy Đăng Chi làm Giao Châu Thứ sử. Pháp Thặng trở về đến núi Ngũ Lĩnh thì chết. Pháp Thặng, người huyện Thanh Hà. Giữa năm Thăng Minh (năm 478) làm Kiêu kị Trung binh của Thái Tổ, làm đến Tả Trung lang tướng. Tính ngay thẳng giản dị, người cao 8 thước 3 tấc, đi ra cao hơn người khác, thường tự mình cúi xuống. Thanh Châu Thứ sử Minh Khánh Phù cũng cao sánh với Pháp Thặng, triều đình chỉ có hai người này”.

Theo như đó năm 468, Thứ sử Trương Mục chết, người trong châu là Lý Trường Nhân, giết bộ khúc của Mục, chiếm châu Giao làm phản. Được vài năm thì mất, em là Lý Thúc Hiến nối nghiệp. Năm 479 nhà Nam Tề dựng lên, phải chấp nhận tự trị ở châu Giao. Ý định tự chủ của Thúc Hiến đã rất rõ ràng, chia cắt với lãnh thổ nhà Nam Tề, cống nạp thiếu. Do đó năm 485, Nam Tề đánh châu Giao, Thúc Hiến vào chầu. Lưu Khải làm Thứ sử Giao Châu, năm 488 lấy Phòng Pháp Thặng nối chức Khải. Trưởng sử Phục Đăng Chi nhân nắm quyền lực, bắt giam Pháp Thặng ở nhà riêng, báo với triều đình Thặng bị ốm, không làm được việc. Triều đình đành cho Chi giữ chức Thứ sử. Đây rõ ràng là sự tiếp nối tính tự chủ của châu Giao.

Năm 502, nhà Lương diệt nhà Nam Tề, cũng giống như nhà Nam Tề, nhà Lương dựng lên, các thế lực địa phương không tuân theo. Năm 505, Thứ sử Giao Châu của nhà Tề tên Lý Khải chiếm giữ châu Giao chống đối với nhà Lương bị Trưởng sử Lý Tắc chém. Nhà Lương cho Lý Tắc làm thứ sử, dư đảng của Lý Khải là Nguyễn Tốn Hiếu vẫn còn, Lý Tắc phải mãi đến năm 516 mới dẹp được.

Một thời kỳ kéo dài loạn lạc từ thời nhà Tấn đến thời nhà Lương, chính quyền trung ương nhiều lần bất lực trước các thế lực địa phương, trong đó có châu Giao. Thời kỳ này châu Giao theo sự biến động của triều đình mà cố thoát ra khỏi ảnh hưởng của quyền lực bắc triều. Tuy nhiên chưa thể trọn vẹn, cho đến cuối năm 541, Lý Bôn chính thức khởi binh chống nhà Lương và tháng giêng năm 544, lên ngôi xưng là Nam Việt Đế, đặt niên hiệu Thiên Đức, đặt tên nước là Vạn Xuân. Cuộc khởi nghĩa của Lý Bôn là cuộc khởi nghĩa thành công và vĩ đại, nó là đỉnh cao của tiến trình đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Tổng kết: Tục lệ các chức quan do người trong châu đảm nhiệm, được cho là biểu hiện rõ rệt nhất về chế độ tự trị ở châu Giao, mà khởi từ Thứ sử Đào Hoàng, tất nhiên không phải tục ấy không có ngoại lệ, khi triều đình phương bắc can thiệp. Nguyên nhân tồn tại chế độ tự trị bởi loạn lạc nơi phương bắc, nên không thể tác động tới phương nam. Do đó ở phương nam chế độ tự trị đã tồn tại suốt thời gian dài và nó trở thành một truyền thống. Phần lớn những người đứng đầu châu Giao luôn có tư tưởng độc lập với bắc triều bất kể về nguồn gốc, xuất thân hay mục đích.


... CÒN TIẾP...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển ngày 11.03.2017.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004