Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Tượng đài vua Lý Thái Tổ


Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (41)



Lý Công Uẩn Lên Ngôi - Ý Trời, Lòng Dân







L ý Thái Tổ (8/3/974- 31/3/1028). Đức vua anh minh sáng lập nhà Lý, xây nền Văn hiến Thăng Long trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ năm 1009 đến khi qua đời năm 1028.

Theo Ngọc phả các vua triều Lê ở các di tích cố đô Hoa Lư- Ninh Bình. Lý Công Uẩn hàng năm theo Thiền sư Lý Vạn Hạnh vào hầu vua Lê ở thành Hoa Lư. Lý Công Uẩn được vua Lê Hoàn yêu, cho ở lại kinh thành học quân sự. Vua gả con gái cả Lê Thị Phất Ngân. Nàng sinh ra Lý Phật Mã. Lý Công Uẩn được thăng chức Điện tiền chỉ huy sứ. Chức này, chỉ dành cho hoàng tộc hoặc quốc thích. Theo Đại Việt sử ký toàn thư Lý Công Uẩn là người khoan thứ nhân từ, có mệnh đế vương.

Lý Công Uẩn lên ngôi theo ý Trời (Thuận Thiên)

Nhiều sách sử Việt Nam: Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử Thông giám cương mục thống nhất ghi. Tháng 10- 1009, vua nhà Tiền Lê là Lê Long Đĩnh mất. Các con còn nhỏ. Quan Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn được Chi nội Đào Cam Mộc cùng Thiền sư Vạn Hạnh ủng hộ, đã lên ngôi vua. Các quan trong triều đồng tình, suy tôn Lý Công Uẩn. Thái hậu nhà Tiền Lê (vợ Lê Đại Hành) gọi Lý Công Uẩn vào cung, mời lên làm vua.

Các bộ sử, kể cả Đại Việt sử ký tiền biên, đều ghi trăm quan của triều đình Tiền Lê tôn Lý Công Uẩn lên ngôi. Chính sử không ghi nhận một cuộc nổi dậy nào của những người trung thành với nhà Tiền Lê, chống lại nhà Lý.

Tháng Mười năm Kỷ Dậu (1009). Lê Long Đĩnh mất. Tả thân vệ Lý Công Uẩn, Điện tiền chỉ huy sứ cùng với Hữu thân vệ Nguyễn Đê, Điện tiền chỉ huy sứ. Mỗi người cầm đầu 500 quân vào cung canh giữ. Giữa lúc trong triều có biến. Tình thế đặc biệt nghiêm trọng, Đào Cam Mộc nói với Lý Công Uẩn:

“Người trong nước ai cũng nói họ Lý khởi nghiệp lớn, lời sấm hiện ra rồi, đó là cái họa không thể che giấu được nữa. Chuyển họa làm phúc, chỉ trong sớm chiều. Đây là lúc Trời trao người theo, Thân vệ còn nghi ngại gì nữa?”.

Lý Công Uẩn nói: “Tôi đã hiểu rõ ý ông, không khác gì ý của Vạn Hạnh”.

Quan Chi hậu Đào Cam Mộc đã khẩn cấp họp bàn cùng với những người chủ sự, chuẩn bị cho Lý Công Uẩn đăng quang. Ngày Quý Sửu, tháng Mười năm Kỷ Dậu (tức 21- 11- 1009), Lý Công Uẩn lên làm vua, lập nhà Lý. Cuộc chuyển giao quyền lực từ họ Lê sang họ Lý đã diễn ra một cách êm thấm, hòa bình. Một triều đại mới, mạnh mẽ và tiến bộ hơn, đã thay thế triều Tiền Lê suy đồi, bại hoại, từ nhiều năm trước. Nước Việt bước vào thời phục hưng và phát triển.

Các sử thần nhà Lê sau này viết:

“Vua ứng mệnh Trời, thuận lòng người, nhân thời mở vận, là người khoan thứ nhân từ, tinh tế, hòa nhã, có lượng đế vương”.

Lý Thái Tổ đặt niên hiệu là Thuận Thiên nghĩa là "theo ý Trời".

Lý Thái Tổ phong cha là Hiển Khánh Vương. Mẹ là Minh Đức Thái hậu. Chú là Vũ Đạo Vương. Anh ruột là Vũ Uy Vương. Em ruột là Dực Thánh Vương.

Lý Thái Tổ lập sáu hoàng hậu. Con trưởng là Lý Phật Mã, con của hoàng hậu Lê Thị Phất Ngân (là con gái Lê Hoàn và Dương Vân Nga) được phong Khai Thiên Vương, lập làm Thái tử. Các con trai khác của ông, được phong vương. Con gái lớn An Quốc công chúa Lý Thiềm Hoa được Lý Công Uẩn gả cho Đào Cam Mộc. Đào Cam Mộc được phong Nghĩa Tín Hầu. Lĩnh Nam công chúa Lý Bảo Hòa, Lý Thái Tổ gả cho động chủ Giáp Thừa Quý.

Các nhà nghiên cứu nhận định. Lý Công Uẩn có nguồn gốc “Nhà chùa” và tư tưởng bác ái của Phật giáo đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhân cách và chính sách cai trị của Lý Thái Tổ.

Ngay sau khi lên ngôi. Lý Thái Tổ đại xá cho thiên hạ. Mở cửa nhà ngục. Xóa bỏ những luật lệ hà khắc. Xuống chiếu từ nay ai có việc tranh kiện, cho đến triều tâu bày. Vua tự thân xét quyết. Truy phong cho cha mẹ. Sắp đặt lại bộ máy nhà nước. Phong chức tước cho những người có công với việc lập ngôi nhà Lý, cho những người ruột thịt trong hoàng tộc và ban y phục cho các tăng đạo.    

Lý Thái Tổ tìm đất để lập đô mới. Trong buổi đầu thiết lập vương triều, cũng như trong toàn bộ sự nghiệp của Lý Thái Tổ việc dời đô là lớn nhất. Nhận thấy thành Hoa Lư chật hẹp, “không đủ làm chỗ ở của bậc đế vương”. Một năm sau. Mùa thu 1010. Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long.

Lý Thái Tổ thoát hệ tư tưởng Nho giáo nước Tàu

Lý Thái Tổ được Thiền sư Vạn Hạnh nuôi dạy từ nhỏ. Ông tinh thông Phật Pháp. Văn, Võ song toàn. Tầm nhìn xa rộng. Lên ngôi, ông hậu đãi giới tăng lữ. Thiền sư Vạn Hạnh được phong Quốc sư. Lý Công Uẩn tiếp nối nhà Đinh và Tiền Lê, lấy Phật giáo làm Quốc Đạo. Đó là nền tảng tinh thần và Tâm tinh người Việt. Thoát hệ tư tưởng Nho giáo nước Tàu.

Lý Công Uẩn cho xây nhiều chùa, phát hàng ngàn lạng vàng thuê thợ đúc chuông đặt trong các chùa. Năm 1010, sau khi đã dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, việc đầu tiên ông xuất ra 2 vạn quan để làm chùa ở phủ Thiên Đức (tức Cổ Pháp).

Cùng năm, sau khi củng cố xây dựng Hoàng thành, ông lại chùa ngự Hưng Thiên và tinh lâu Ngũ Phượng. Xây chùa Thắng Nghiêm, ngoài thành, về phía Nam,

Tháng 6- 1018) năm Thuận Thiên thứ 9, Lý Thái Tổ sai quan Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc sang nhà Tống, nước Tàu, thỉnh kinh Tam Tạng đem về để vào kho Đại Hưng.

Các vua Lý kế nghiệp cũng tiếp tục xây chùa, đúc chuông, tô tượng, cử sứ sang nước Tàu xin nhà Tống kinh Phật. Các chùa là nơi cầu nguyện, làm lễ tạ ơn, lễ cầu siêu độ cõi Âm, khi chiến thắng quân xâm lược… Đạo Phật hợp lòng dân. Các quý tộc và nhân dân đóng góp xây dựng nhiều chùa ở các địa phương.

Việc chú trọng xây dựng chùa thời Lý được sử gia Lê Văn Hưu thời Trần ghi "xây tường cao ngất, tạc cột chùa bằng đá, làm chùa thờ Phật lộng lẫy hơn cả cung điện của vua".

Chùa mọc lên khắp nơi và trở thành biểu tượng của Phật giáo, của tâm hồn Việt. Chùa thời Lý chia làm ba hạng: Đại, Trung và Tiểu danh lam. Các chùa lớn thời Lý là chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Dạm (Bắc Ninh), chùa Long Đọi (Hà Nam)…

Do du nhập vào Đại Việt qua những con đường khác nhau và do sự tiếp nhận của nhân dân đương thời, Phật giáo không có một dòng duy nhất. Có dòng hòa với tín ngưỡng dân gian cổ truyền (các chùa Pháp Vân, chùa Pháp Vũ, chùa Diên Hựu- Một Cột…). Có dòng thiên về Mật Tông (với những nhà sư giỏi về pháp thuật và chữa bệnh). Có dòng thoát tục. Có dòng tu tại gia, lấy "Tâm" làm gốc…

Trong Việt sử cương mục tiết yếu của Thiện Đình Đặng Xuân Bảng, phần Kỷ nhà Lý, Thái Tổ Hoàng đế có đoạn chép: “Năm 1010, vua cho phát hai vạn quan tiền, dựng tám ngôi chùa và lập bia để ghi công đức. Lại xây chùa Hưng Thiên, cung Đại Thanh, chùa Vạn Tuế ở nội thành Thăng Long. Ngoại thành dựng bảy ngôi chùa là Thắng Nghiêm, Thiên Vương, Cẩm Y, Long Hưng, Thiên Thọ, Thiên Quang, Thiên Đức, chùa quán ở các hương ấp nếu bị hỏng thì cho sửa lại.” 

Ảnh hưởng Phật giáo trong triều đình Lý Thái Tổ

Kế tục từ thời Đinh- Lê, nhiều nhà sư tham gia vào việc triều chính. So sánh ảnh hưởng của Phật giáo tới chính trị thời Lý với các thời kỳ mới giành lại độc lập như Ngô, Đinh, Tiền Lê, Hoàng Xuân Hãn cho rằng có sự khác biệt. Trước thời Lý, các vua xuất thân đều từ võ biền, ít kiến thức nên phải nhờ nhiều vào vai trò của các nhà sư trong mưu lược chính trị, điển hình như sư Khuông Việt nhà Đinh hay sư Vạn Hạnh nhà Tiền Lê. Sang thời Lý, các vua có học vấn cao hơn, triều thần cũng có nhiều người uyên bác hơn.

Vai trò giáo hóa tư tưởng của đạo Phật sâu sắc. Thể hiện ở phong tục, luật pháp thuần hậu hơn so với trước. Các vua Đinh và Tiền Lê ưa dùng hình phạt nặng, cực hình tàn nhẫn. Sang thời Lý các vua dùng pháp luật khoan dung hơn. Lý Thái Tông tha những người em từng có ý định tranh ngôi và thủ lĩnh người Tày Nùng Trí Cao. Lý Thánh Tông tha vua Chiêm Thành là Chế Củ và quan tâm tới tù nhân bị đói rét… Những việc làm đó, là biểu hiện của lòng từ bi do ảnh hưởng đạo Phật.

Trong phạm vi tín ngưỡng, tôn giáo, các vị cao tăng được tôn trọng. Vua và thái hậu thường mời các vị sư có tiếng vào trụ trì trong thành nội để giảng kinh như: Viên Chiếu, Mãn Giác, Huệ Sinh, Chân Không, Giác Hải, Thông Biện, Không Lộ… Không chỉ giảng đạo, các Thiền sư còn có khả năng chữa bệnh như Không Lộ, Đạo Tuệ, Nguyệt Học… Họ được vua, hoàng tộc và các quan văn võ xem trọng như bậc thầy.

19 năm Lý Thái Tổ làm vua thân dân, yên bờ cõi 

Lý Công Uẩn lên ngôi. Nhà Tống bận nhiều việc, tạm ngưng, không sinh sự xâm lược Đại Việt. Hoàng đế nhà Tống phong Lý Thái Tổ Giao Chỉ quận vương. Sau lại gia phong Nam Bình vương vào năm 1017 (thời Tống Chân Tông). Các vương quốc láng giềng như Chiêm Thành và Chân Lạp đều sang triều cống nước Việt. Việc bang giao thời Lý Thái Tổ được yên. Năm Thuận Thiên thứ 11 (Canh Thân 1020), Lý Thái Tổ lệnh cho con đem quân đi đánh Chiêm Thành, và chiến thắng.

Vua Thái Tổ sửa thể chế trong nước. Đổi phép cũ của nhà Tiền Lê; chia nước ra làm 24 lộ, gọi Hoan Châu và Ái Châu là trại. Năm 1013, lại định ra sáu hạng thuế. Thuế ruộng, đầm, ao. Thuế đất trồng dâu và bãi phù sa. Thuế sản vật ở núi. Thuế mắm, muối đi quan Ải quan. Thuế sừng tê giác, ngà voi và hương ở miền núi xuống. Thuế tre gỗ hoa quả. Lý Thái Tổ cho những công chúa coi việc trưng thu các thứ thuế ấy.

Lý Thái Tổ thực hiện chính sách thân dân. Dưới triều ông, có nhiều lần người dân được xá thuế. Năm 1016 ban lệnh xá tô thuế ba năm. Năm 1017, tô ruộng cũng được xá.

Trong nước cũng có đôi ba nơi nổi lên làm loạn, như Diễn Châu (thuộc Nghệ An) và ở vùng thượng du hay có sự phản nghịch, nhà vua phải thân chinh đi đánh dẹp mới yên. Thời bấy giờ các hoàng tử đều phong tước vương, và phải cầm quân ra chiến trường, bởi vậy ai cũng giỏi nghề dùng binh.

Năm Thuận Thiên thứ 5 (Giáp Dần 1014), được lệnh của Lý Thái Tổ, Dực Thánh Vương đánh dẹp quân Man. Theo Đại Việt Sử Lược, ở Lộ Kim Hoa, quân của Dực Thánh Vương đánh bại tướng Man là Đỗ Trương Huệ, chém vạn đầu giặc, bắt được quân sĩ và ngựa nhiều vô số. Ly Châu dâng con Kỳ Lân. Đổi phủ Ứng Thiên làm Nam Kinh. Chân Lạp sang cống.

Năm Thuận Thiên thứ 13 (Nhâm Tuất 1022), Lý Thái Tổ ra lệnh cho Dực Thánh Vương đánh dẹp Đại Nguyên Lịch.

Năm Thuận Thiên thứ 15 (Giáp Tý 1024), Thái tử được lệnh ra quân đánh châu Phong Luân, còn Khai Quốc Vương thì đánh Châu Đô Kim. Thành Thăng Long được xây.

Năm Thuận Thiên thứ 18 (Mậu Thìn 1028), Thái tử lại được lệnh đánh châu Thất Nguyên, Đông Chinh Vương cũng đi đánh Châu Văn.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tháng Hai năm 1011, tức là năm Thuận Thiên thứ hai, vua Lý Thái Tổ mang sáu quân đi phạt quân Cử Long ở Ái Châu. Quân Cử Long thất bại, bộ lạc bị đốt, người cầm đầu bị bắt, giải về.

Tháng 10 năm Thuận Thiên thứ 4 (Quý Sửu 1013). Vua Lý Thái Tổ thân chinh đánh quân Man ở châu Vị Long, quân vua chiến thắng.

Lý Thái Tổ tôn kính thờ Trời

Theo Đại Việt sử ký toàn thư. Có lần Lý Thái Tổ đem quân đi đánh Diễn Châu. Khi ông về tới Vũng Biện, "Trời Đất tối sầm, gió sấm dữ dội". Thấy vậy, Lý Công Uẩn đốt hương và khấn Trời:

"Tôi là người ít đức, lạm ở trên dân, nơm nớp lo sợ như sắp sa xuống vực sâu, không dám cậy binh uy mà đi đánh dẹp càn bậy. Chỉ vì người Diễn Châu không theo giáo hóa, ngu bạo làm càn, tàn ngược chúng dân, tội ác chồng chất, đến nay không thể dung tha không đánh. Còn như trong khi đánh nhau, hoặc giết oan kẻ trung hiếu, hoặc hại lầm kẻ hiền lương, đến nỗi hoàng thiên nổi giận phải tỏ cho biết lỗi lầm, dẫu gặp tổn hại cũng không dám oán trách. Đến như sáu quân thì tội lỗi có thể dung thứ, xin lòng trời soi xét".

Sau khi ông khấn, gió sấm không còn dữ dội, trở nên yên lặng.

Lê Phụng Hiểu vung gươm dẹp ba vương tranh vua

Theo Đại Việt sử lược năm 1028 (tức năm Thuận Thiên thứ 19), sức khỏe Lý Thái Tổ không được tốt, thường xuyên đau yếu. Ngày 31- 3 năm ấy, vua băng hà ở điện Long An . Ông ở ngôi 19 năm, hưởng thọ 54 tuổi. Lý Thái Tổ được táng ở Thọ Lăng, phủ Thiên Đức.

Khi Lý Thái Tổ vừa qua đời, việc tế táng lại chưa hoàn tất, thì ba hoàng tử Vũ Đức vương, Dực Thánh vương và Đông Chinh vương cùng quân sĩ vây hãm thành, nhằm mục đích cướp ngôi Thái tử Lý Phật Mã. Thái tử đem quân vào thành, quyết một trận với ba vương, sử gọi là Tam vương chi loạn.

Khi quân của Thái tử Lý Phật Mã và quân các vương đối trận, thì quan Võ vệ tướng quân Lê Phụng Hiểu rút gươm ra chỉ vào Vũ Đức vương mà bảo rằng: "Các người dòm ngó ngôi cao, khinh tự quân, trên quên ơn Tiên đế, dưới trái nghĩa tôi con, vậy Phụng Hiểu xin dâng nhát gươm này!". Nói xong chạy xông vào chém Vũ Đức vương ở trận tiền. Quân các vương trông thấy sợ hãi bỏ chạy. Dực Thánh vương và Đông Chinh vương cũng phải chạy trốn, về sau xin ra hàng, được tha. Thái tử Lý Phật Mã lên nối ngôi, là Lý Thái Tông.

Lý Thái Tổ Đức Trí lớn, Dời đô mở nước, thương dân

Sử thần Ngô Sĩ Liên soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư bình:

Lý Thái Tổ dấy lên, trời mở điềm lành hiện ra ở vết cây sét đánh. Có đức tất có ngôi, bởi lòng người theo về, lại vừa sau lúc Ngọa Triều hoang dâm bạo ngược mà vua thì vốn có tiếng khoan nhân, trời thường tìm chủ cho dân, dân theo về người có đức, nếu bỏ vua thì còn biết theo ai! Xem việc vua nhận mệnh sâu sắc lặng lẽ, dời đô yên nước, lòng nhân thương dân, lòng thành cảm trời, cùng là đánh dẹp phản loạn, Nam Bắc thông hiếu, thiên hạ bình yên, truyền ngôi lâu đời, có thể thấy là có mưu lược của bậc đế vương. Duy có việc ham thích đạo Phật, đạo Lão là chỗ kém.

Cũng trong Đại Việt sử ký, Lê Văn Hưu so sánh:

Có người hỏi: Lê Đại Hành với Lý Thái Tổ ai hơn? Thưa rằng: Kể về mặt trừ dẹp gian trong, đánh tan giặc ngoài, làm mạnh nước Việt ta, ra oai với người Tống thì Lý Thái Tổ không bằng Lê Đại Hành có công lao gian khổ hơn. Nhưng về mặt tỏ rõ ân uy, lòng người suy tôn, hưởng nước lâu dài, để phúc cho con cháu thì Lê Đại Hành không bằng Lý Thái Tổ lo tính lâu dài hơn. Thế thì Lý Thái Tổ hơn ư? Đáp: Hơn thì không biết, chỉ thấy đức của họ Lý dày hơn họ Lê, vì thế nên nói theo họ Lý.

Sử gia Lê Văn Hưu phê bình trong Đại Việt sử ký:

Lý Thái Tổ lên ngôi mới được hai năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho làm tăng hơn nghìn người ở Kinh sư, thế thì tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể. Của không phải là trời mưa xuống, sức không phải là thần làm thay, há chẳng phải là vét máu mỡ của dân ư? Vét máu mỡ của dân có thể gọi là làm việc phúc chăng? Bậc vua sáng nghiệp, tự mình cần kiệm, còn lo cho con cháu xa xỉ lười biếng, thế mà Thái Tổ để phép lại như thế, chả trách đời sau xây tháp cao ngất trời, dựng cột chùa đá, điện thờ Phật, lộng lẫy hơn cung vua. Rồi người dưới bắt chước, có kẻ hủy thân thể, đổi lối mặc, bỏ sản nghiệp, trốn thân thích, dân chúng quá nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng chùa chiền, nguồn gốc há chẳng phải từ đấy?

Chùa Thắng Nghiêm Quốc Đạo nghìn năm sáng soi

Theo nghiên cứu của Đại đức Thích Minh Thanh trụ trì chùa Thắng Nghiêm tại Hà Nội.

Chùa Thắng Nghiêm được xây dựng từ rất sớm trên thế đất "Liên Hoa hàm tiếu", từ thời Ngô Sỹ Nhiếp làm Thái thú xứ Giao Châu, năm 187-266 (Phật lịch 731-810), do ngài Tôn giả Bảo Đức (tương truyền là hoá thân của Bồ Tát Văn Thù) từ nước Thiên Trúc sang sáng lập, để truyền bá Phật Pháp. Ngài đã cho xây dựng ngôi đại bảo tháp thờ xá lợi Phật gọi là khu Mả Bụt (nay vẫn còn).

Đại Việt sử ký toàn thư chép:

“Năm 1010, mùa thu, tháng 7, vua Lý Thái Tổ từ thành Hoa Lư dời đô ra kinh phủ ở thành Đại La… Lại ở trong thành làm chùa ngự Hưng Thiên và tinh lâu Ngũ Phượng. Ngoài thành về phía Nam dựng chùa Thắng Nghiêm”…

“Mùa đông, tháng 10, xuống chiếu phát trăm lạng bạc trong kho để đúc hai quả chuông treo ở chùa Thắng Nghiêm và tinh lâu Ngũ Phượng. Đắp thành đất ở bốn mặt kinh thành Thăng Long. Đổi phủ Ứng Thiên làm Nam Kinh”.

Niên hiệu Thái Tông Hoàng đế chép: “Mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1, vua thân đi đánh giáp Đản Nãi, cho Đông cung thái tử ở lại Kinh sư làm Giám quốc. Khi đánh được giáp Đản Nãi rồi, sai Trung sứ đốc suất người Đản Nãi đào kênh Đản Nãi. Vua từ Đản Nãi trở về Kinh sư. Có dấu người Thần hiện ở chùa Thắng Nghiêm”.

Niên hiệu Nhân Tông Hoàng Đế chép: “Tháng 9, ngày Tân Tỵ, mở hội Thiên Phật (Nghìn Phật) để khánh thành chùa Thắng Nghiêm Thánh Thọ, cho sứ Chiêm Thành đến xem”.

Chùa là nơi trụ xứ tu hành của nhiều bậc danh Tăng, danh Tướng thời Lý (1009-1225) và thời Trần (1225-1400) như: Khuông Việt Quốc sư, Vạn Hạnh Quốc sư, Trùng Liên Bảo Tích Quốc sư, Đạo Huyền Quốc sư, Huyền Thông Quốc sư (tức Linh Thông Hòa thượng Đại vương), Hưng Đạo Đại vương...

Chùa Thắng Nghiêm Hưng Đạo Vương trấn Thăng Long

Sách Đi Tìm Tổ Tiên Việt (NXB Văn hóa Thông tin- 2014) viết:

“ Đại đức Thích Minh Thanh tu Mật tông cổ Việt Nam, hòa dòng chảy Tâm linh chùa Thắng Nghiêm, gặp nhiều linh ứng.

Thăm chùa Thắng Nghiêm, chúng tôi được thầy hé mở nhiều điều kỳ diệu.

Thầy cho chúng tôi chiêm ngưỡng bản sao chép bức vẽ thời Trần dài 9m về con đường làm vua và đi tu của Phật hoàng Trần Nhân Tông từ cung đình đến sơ Tổ Trúc Lâm. Bức vẽ bị người Tàu lấy về từ thời đó. Vửa rồi, họ mang bán đấu giá tại Trung Quốc. Một Phật tử Việt ở Trung Quốc có được bản sao chép, mang về biếu thầy, mới nửa tháng nay. Chúng tôi ngắm bức vẽ thấy cảnh vua, quan, dân thời Trần hiện lên sinh động. Võng, lọng, trang phục của vua, quan, lính, dân nguyên vẹn thời Trần. Với bức vẽ này, từ nay nghệ thuật Việt Nam không còn phải tưởng tượng trang phục, lễ hội, lễ nghi, cờ, võng, lọng, áo bào, mũ miện... thời Lý- Trần nữa. Có những tưởng tượng làm tượng, đội nhầm mũ miện, trang phục vua Trung Quốc cho vua Lý...

Phòng làm việc và phòng khách của thầy trong Thiền thất trầm hương ngan ngát. Ban thờ Tượng Phật, Tượng vua Lý Thái Tổ, Trần Hưng Đạo, thờ tấm bản đồ Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ triều Nguyễn vẽ năm 1838 cuộn ống tre, được thầy ngày đêm tụng niệm, trì chú. Tấm bản đồ có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Đất Nước Việt Nam.

Nhà văn nữ Việt Nam Phan Việt ở Mỹ viết tác phẩm Bất hạnh là một tài sản về chùa Thắng Nghiêm nghiên cứu và tu học, được tặng tấm bản đồ sao này. Cô mang Bản đồ thiêng về Thiền thất Thắng Nghiêm tặng thầy Thích Minh Thanh để tiếp hào quang Tâm linh Tổ tiên, Thần Phật.


Thắng Nghiêm Cổ Tự

Ngôi chùa cổ bên bờ sông Nhuệ
Hưng Đạo Vương trấn giữ Thăng Long
Nối dòng Mật tông Tiên Tổ Việt
Lý Công Uẩn xây chùa học Phật
Quốc Đạo nghìn năm mãi sáng soi
Khí thiêng vụt tuôn trào Thánh địa
Đa Thần không tuổi xanh bình yên
Trừ giặc quỷ ma, Trí Huệ Quang
Khai đường Tình Thương Thời Đại Mới.”


(… Còn tiếp ...)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 12.01.2017.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004