Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






LÃNG DU TRONG ÂM NHẠC ĐỨC                 








JOHANN SEBASTIAN BACH

(1685- 1750)


Ở thời âm nhạc Trung cổ (trước thế kỷ 15) hầu hết các nhạc sĩ chuyên nghiệp đều được nhà thờ Cơ đốc giáo tuyển dụng.   Johann Sebastian Bach  sinh ngày 21 tháng 3  năm   1685   tại   thành phố Eisenach   vùng Thũringen và mất ngày 28 tháng 6  năm   1750   tại Leipzig vùng Sachsen. Ông là nhà soạn  nhạc Baroque (1600 - 1700). Bach sinh trong một gia đình nhạc sĩ có danh tiếng lâu đời ở Eisenach. 15 tuổi Bach phải sống tự lập, tự xoay sở nuôi thân. Ông tự nâng cao trình độ âm nhạc và tìm kiếm sự hoàn hảo trong sáng tác và biểu diễn âm nhạc bằng nỗ lực của bản thân. Ông từng phục vụ trong cung đình của công tước ở Weimar, cung đình của vương tước xứ Anhalt-Gothen, ở cung đình thủ phủ bang Sachsen là Dresden, ở Trường dòng St. Thomas ở thành phố hội chợ quốc tế Leipzig.


Suối - biển cả


Johann Sebastian Bach được coi là bậc thầy và là người sáng lập ra nền âm nhạc hiện đại. Beethoven, Schumann và nhiều nhạc sĩ khác có chịu ảnh hưởng ít nhiều của Bach.

Trong lúc nói chuyện về Bach, Beethoven nhận xét:

- Bach không phải là Bach (con suối) mà là Meer (biển cả).



ĐÁNH GIÁ SEBASTIAN BACH XƯA - NAY

Qua việc học âm nhạc dưới sự hướng dẫn của các thầy, Bach tiếp nhận các phong cách âm nhạc Pháp, Hà Lan và gián tiếp là âm nhạc Anh thời bấy giờ. Năm 1703, Bach bắt đầu sự nghiệp âm nhạc độc lập của mình tại Arnstadt. Bach có tinh thần học hỏi rất mãnh liệt: năm 1701, Bach đã đi bộ 48km đến Hamburg để nghe Reinken biểu diễn và năm 1705 ông đi bộ 300 km đến Lübeck để nghe Buxtehude biểu diễn. Lúc sinh thời, Johann Sebastian Bach nổi tiếng khắp Âu Châu về tài đánh đàn orgel – đàn phong cầm.  Johann Sebastian Bach sáng tác 1.126 tác phẩm, gần như đủ mọi thể loại âm nhạc,   nhưng không mấy người cùng thời hiểu và đánh giá đúng tài năng của ông. Người đương thời cho rằng nhạc của Johann Sebastian Bach thuộc trường phái xưa cũ. Mãi tới cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, các nhạc sĩ Wolfgang Amadeus Mozart, Ludwig van Beethoven, Fédéric Chopin, Robert Schumann và Felix Mendelssohn có dịp nghiên cứu nhạc của Bach và họ khám phá ra Johann Sebastian Bach là một bậc thầy trong nghệ thuật viết nhạc cho đàn phong cầm và đàn phím nói chung. Beethoven gọi Johann Sebastian Bach là “ông tổ của hòa âm.” Giờ đây, hàng trăm năm sau - công chúng cảm nhận tình cảm sâu lắng trong tác phẩm của Bach. Năm 1850, Bach Society - hội những người yêu mến nhạc của Bach - được thành lập. Sau 46 năm sưu tầm và xuất bản những tác phẩm của Johann Sebastian Bach, nhạc của Johann Sebastian Bach được trình diễn tại nhiều nơi trên thế giới. Ngày nay, Johann Sebastian Bach được xem là một trong những nhạc sĩ sáng tác xuất sắc nhất trong thế kỷ 18 thuộc trường phái Baroque.  Nhạc của Bach mang trong mình những mầm mống đầu tiên của thời kỳ Cổ điển và Lãng mạn sau này. Vị trí của Johann Sebastian Bach trong âm nhạc được so sánh với William Shakespeare trong văn học và Isaac Newton trong vật lý.

CANTATA CÀ PHÊ

Thời nhạc sĩ Bach, Cà phê là thứ mọi người già trẻ đều ghiền. *Cantata thế tục Yên lặng nào, hãy ngừng tán gẫu của Bach còn được gọi là Cantata Cà phê.

Người cha Schlendrian đưa ra tối hậu thư cho con gái Lieschen:

- Phải bỏ cà phê thì cha mới gả chồng! .

Việc bỏ uống cà phê với Lieschen thật là khó vì:

- Nếu con không được uống cà phê ba lần một ngày thì trong nỗi dằn vặt, con sẽ quắt queo như miếng thịt dê quay. Vị cà phê mới ngon làm sao, còn ngọt ngào hơn cả hàng ngàn nụ hôn, dịu êm hơn cả rượu nho đen!

Để tiếp tục được uống cà phê, Lieschen có thể dễ dàng hy sinh nhiều thứ. Nhưng khi buộc phải lựa chọn giữa cà phê và một vị hôn phu, Lieschen đành ngậm ngùi hứa sẽ …

Uống cà phê là một chuyện rất “tự nhiên”, đúng như khúc trio kết thúc Cantata “Cà phê” khẳng định:

Mèo không thể ngừng bắt chuột. Các cô gái vẫn thủy chung với cà phê. Người mẹ thân thiết với cà phê. Người bà cũng uống cà phê. Vậy ai có thể quở mắng những cô con gái?”

*/Cantata là một thể loại thanh nhạc cổ điển  Cấu trúc của cantata Cà phê chỉ có một chương viết cho hợp xướng và dàn nhạc

*/ Cantata Schweigt stille, plaudert nicht (Yên lặng nào, hãy ngừng tán gẫu) cùng với các cantata “Đi săn” và cantata “Nông dân” là những bản cantata thế tục nổi tiếng nhất của Johann Sebastian Bach. ” được công diễn lần đầu.

*/Vào khoảng năm 1600 cà phê từ cảng Mocha thuộc Yemen được xuất khẩu sang châu Âu để cung cấp cho những quán cà phê đang bắt đầu rất thịnh hành ở đây. Từ đó cà phê đã dần nhuộm nâu cả châu Âu. Thói nghiện cà phê bị coi là một vấn nạn xã hội ở Leipzig vào thời điểm Cantata “Cà phê

Johannes Brahm (1833-1897) là con của một nhạc công thành phố cảng phương Bắc Hamburg, nên từ thưở niên thiếu ông đã nghe nhiều bài hát dân ca, nhạc nhảy của Hungary, nhạc Walzer trữ tình.

Quan niệm của Brahm


Toàn bộ sáng tác của Brahm chính là gạch nối âm nhạc cổ điển thế kỷ 19 với âm nhạc mang tính kế thừa truyền thống ấy trong thế kỷ 20.

Với dân tộc mình, Brahm nói:

- Trong đời tôi có hai sự kiện lớn: Đó là việc thống nhất nước Đức, việc hoàn thành xuất bản những tác phẩm của Johann Sebastian Bach.

Với âm nhạc, ông nói:

- Nếu chúng ta không thể nào viết hay và đẹp như Mozart, ít nhất chúng ta hãy cố gắng viết cẩn thận như ông.

còn nướng chín tôi


Nhạc của Brahm thông minh và quả cảm, dịu dàng và sôi nổi, kiên nghị và trong sáng; nó mang dáng dấp của dân ca và kế thừa truyền thống Đức, chính vì vậy nhạc của Brahm được nhiều người đương thời ưa thích.

Một hôm, Brahm đến thăm một gia đình quen biết. Gia đình chủ nhà rất thích nhạc Brahm, rất hân hạnh được đón tiếp nhạc sĩ tại nhà nên đã tự tay làm một chiếc bánh, trên mặt bánh là bản nhạc của Brahm. Chủ nhà mời Brahm tự tay cắt bánh. Brahm vui vẻ nhận lời và nói với giọng hài hước:

- Không những bà chơi nhạc của tôi, hát bài của tôi, mà còn nướng chín tôi.

Rượu hiệu Brahm


Frankfurt am Main là một trong những trung tâm thương mại lớn ở Đức. Nhiều ngân hàng lớn đóng trụ sở ở đây. Ladenburg là chủ một trong những ngân hàng, đồng thời cũng là một người rất say mê âm nhạc.

Trong thời gian Brahm lưu lại Frankfurt am Main, Ladenburg ngỏ lời mời Brahm tới dự bữa tối. Brahm nhận lời. Chủ nhà rất lấy làm vinh dự được tiếp một nhạc sĩ lớn tại phòng khách nhà mình. Để chứng minh cho sự hiếu khách, Ladenburg cho lấy từ hầm rượu những lọai rượu ngon nhất, rồi đặt trên bàn những chai còn bám đầy bụi thời gian.

Brahm có thói quen trước khi ăn uống phải cởi cravát và nút áo cổ cho thoải mái.

Kính thưa ông tiến sĩ thân mến” chủ nhà mở đầu, “Sự có mặt của ngài ngày hôm nay là một vinh dự lớn đối với gia đình tôi. Với niềm vinh dự này, tôi cho lấy trong hầm rượu tất cả những loại rượu ngon nhất, xin ngài cứ thưởng thức tự nhiên. Trong số rượu bày ở đây có cả loại rượu tên Brahms.”

Nhạc sĩ liếc nhìn quanh bàn và dừng lại nơi chủ nhà ngồi, nâng cốc lên uống với vẻ sành điệu:”Ngon tuyệt!”- nhạc sĩ gật gù nói với giọng hài hước:” Thật là hạnh phúc được ông cho uống rượu Brahms, rất mong được ông cho thưởng thức nốt loại rượu hiệu Beethoven.”


Ludwig van Beethoven (1770-1827) sinh ở Bonn (Đức) trong một gia đình nhạc sĩ cung đình. Mới 3 tuổi cậu bé Ludwig học đã học đàn clavio. Năm 11 tuổi, cậu bé Ludwig đã biểu diễn đàn dương cầm ở Hà Lan. Năm 1787, Beethoven được gửi sang Áo theo học thần đồng âm nhạc Mozart. Từ năm 21 tuổi đến khi qua đời, Beethoven sống ở kinh đô âm nhạc của thế giới – thành phố Viên.

Đại tướng âm nhạc


Tin nhạc sĩ thiên tài Ludwig van Beethoven qua đời làm chấn động dư luận, văn nghệ sĩ và những người yêu nhạc ở khắp mọi nơi đều về Viên để dự tang lễ và đưa Beeethoven về nơi an nghỉ cuối cùng.

Tang lễ đang cử hành vào ngày 19 tháng 3 năm 1827. Số người đưa đám đông tới mức phải huy động sĩ quan và binh lính làm nhiệm vụ giữ trật tự. Một người khách không hiểu tại sao, tò mò hỏi bà bán hoa:

- Tang ai mà đông người đi đưa đám thế hở bà ? Lại có cả nhà binh nữa ?

Nhìn người lạ mặt, với giọng hài hước bà bán hoa đáp:

- Đây là lần đầu tiên có chuyện như vậy ở Viên. Hôm nay người ta đưa ông Đại tướng Âm nhạc về nơi an nghỉ cuối cùng.

Cũng là người tầm thường


Đối với Beethoven, hào khí là nguyên tắc tự nó biểu thị trong cuộc sống. Sự nghiệp của Napoleon - con người dùng những đòn sấm sét đập tan chế độ quân chủ, đã khích lệ Beethoven sáng tác bản giao hưởng số 3. Ông hi vọng ở người anh hùng lý tưởng Napoleon rất nhiều, hi vọng chính Napoleon sẽ là người đặt nền móng cho hạnh phúc của cả loài người. Với tâm trạng ấy, với dòng máu Prometheus. Beethoven sáng tác bản giao hưởng số 3 vừa mới hoàn thành, tên của Napoleon đã đứng ở trang bìa thì Beethoven được tin Napoleon lên ngôi hoàng đế. Nhạc sĩ Beethoven thất vọng, dằn giọng nói:

- Con người ấy cũng là người tầm thường. Bây giờ ông ta sẽ chà đạp lên tất cả các quyền con người, chạy theo sự hiếu danh, hiếu thắng … và sẽ trở thành một tên bạo chúa.

Beethoven xé tờ bìa bản tổng phổ giao hưởng số 3. Vì bản giao hưởng dồi dào sắc thái chất liệu anh hùng nên nó được Beethoven đặt tên là Eroica- Bản giao hưởng " Anh hùng".


Beethoven và Goethe


Teplitz là nơi có suối nước nóng có muối khoáng, là nơi an dưỡng nổi tiếng của Châu Âu. Hồi đó Nữ hoàng Áo và nhiều công tước Áo cũng đi tắm nước suối ở Teplitz. Cũng thời gian này Goethe và Beethoven cũng đang an dưỡng ở đây.

Một hôm, Goethe và Beethoven đang cùng nhau đi dạo chơi thì gặp Nữ hoàng Anh và đoàn tùy tùng đi ngược chiều hướng về phía hai người. Beethoven nhìn thấy và nói:

- Ta cứ dắt tay nhau đi, họ phải tránh đường ta đi, ta không phải tránh đường cho họ.

Goethe là người không quen làm ngược những nghi lễ thông thường với vua chúa, ông bỏ tay Beethoven và ngả mũ đứng sang đường chào Nữ hoàng , còn Beethoven cứ thế đi vào giữa đoàn tùy tùng. Các công tước trong đoàn vui vẻ chào Beethoven và né sang bên để Beethoven đi tiếp. Đi một đoạn Beethoven đứng lại đợi Goethe. Khi Goethe tới gần Beethoven nói:

- Tôi chỉ đợi ông thôi, vì ông là người có những tác phẩm mà tôi phải kính nể, nhưng với những người kia, ông đã kính nể họ quá đáng đấy.


ODE AN DIE FREUDE (TỤNG CA HƯỚNG TỚI NIỀM VUI)


Đại văn hào Đức Friedrich Schiller  viết bài thơ Ode An die Freude (Tụng ca Hướng tới niềm vui). Beethoven lấy một phần bài thơ này đưa vào chương cuối (dành cho bốn giọng đơn ca, đồng ca cùng dàn nhạc) trong Bản giao hưởng số 9 của ông. Bài   Gửi niềm vui (còn được dịch là H oan ca)   được   Hội đồng châu Âu  chọn làm  bài ca chính thức của Liên minh châu Âu  năm   1972 . Vì ngày càng có nhiều thứ tiếng dùng trong Liên minh châu Âu nên năm   2003 ,   Liên minh châu Âu  chọn phần phổ nhạc của Beethoven cho bài thơ này làm bài ca chính thức cho EU, mà bỏ phần lời bằng tiếng Đức. Dù sao thì phần nhạc vẫn thể hiện rõ ý tưởng bác ái trong thơ Schiller. Trong nguyên văn thơ Schiller có câu "những kẻ ăn mày trở thành anh em với những ông hoàng" (hình ảnh thời phong kiến) nay được chỉnh sửa cho hợp với thời hiện nay của Liên minh châu Âu bằng câu "tất cả mọi người đều là anh em", Hiệp hội London (The Society of London - sau này là Royal Philharmonic Society) đặt hàng bản giao hưởng vào năm 1817. Beethoven bắt đầu làm việc với bản giao hưởng vào năm 1818. * Bản   giao hưởng số 9 cung rê thứ, opus 125  là tác phẩm giao hưởng trọn vẹn cuối cùng do   Ludwig van Beethoven   h oàn thành vào năm 1824 khi ông điếc hoàn toàn.  G iao hưởng số 9, là con đẻ của thời đại của mình, đồng thời là sự thể hiện những lý tưởng và hoài bão của loài người. Nhạc sĩ hoàn thành bản giao hưởng vào cuối đời nhưng đã nghiền ngẫm trong suốt cuộc đời mình. Giao hưởng này như những đỉnh núi cao nhất, trội hơn tất cả những gì mà những thiên tài nghệ thuật của nhân loại tạo nên. Cũng như "Thần khúc" (Divina commedia) của Dante, tranh Đức mẹ của  Raphael , "Faust" của  Goethe   hoặc khúc Messe (Die hohe Messe) của   Bach , Việc sử dụng lời thơ của   Friedrich Schiller là thử nghiệm đầu tiên mà nhà soạn nhạc sử dụng giọng hát con người (tượng trưng cho tiếng nói của nhân loại)ở cùng cấp độ với các nhạc cụ trong một bản   giao hưởng. Khi đi tìm cách đi vào phần mở đầu của đoạn tụng ca của Schiller. Bạn ông, Anton Schindler, sau này kể lại: Một hôm Beethoven nhảy vào phòng và la lớn "Tôi tìm ra rồi, tìm ra rồi" Sau đó anh ấy cho tôi xem phác thảo của những từ "cho chúng tôi hát bản tụng ca của Schiller bất tử". Bản giao hưởng này là tác phẩm được biết đến nhiều nhất trong tất cả các tác phẩm của  âm nhạc cổ điển châu Âu .  Bản giao hưởng số 9 của Beethoven là bản thánh ca về cuộc sống con người. Tại hầu hết các   Thế Vận Hội  từ nửa sau thế kỷ 20, chương bốn được trình diễn như một phần của các lễ nghi thức. Bản Giao Hưởng số 9 đã được các phi hành gia của phi hành đoàn   Apollo 11  đem lên để tại  Mặt trăng  năm 1969 như một thông điệp thân ái của con người đến các nền văn minh ngoài hành tinh.


HƯỚNG TỚI NIỀM VUI

Niềm vui, là hào quang của Thiên Chúa

Là kiều nữ của Thiên cung

Chúng ta hãy bước vào

và uống chén ánh thiều quang Thiên quốc,

chốn thánh điện của Ngài

Phép mầu hiệp nhất muôn người

Xếp xó gươm giáo chiến chinh

Kẻ ăn mày kết bạn với hoàng thân

Nơi đôi cánh ngừng bay ,

Ai thành công to lớn

Sẽ là bạn tâm giao,

Ai đầy tràn yêu mến

Hãy hoà vào niềm hoan hỉ!

Vâng, những ai có tâm hồn

Hãy reo vang trên toàn thế giới!

ai chưa hề nghe biết

Hãy cất đi nước mắt thương đau

Tất cả mừng vui uống

Nơi bầu sữa của tạo hóa

Những điều thiện , những i ác

Hãy cuốn theo dòng suối hoa hồng

Hãy ôm hônchúng tôi

Người bạn thân, trong sinh tử

Nguồn hy vọng của toàn thể nhân gian

thiên thâ ̀ n đứng trước mặt Đức Chúa Trời

Mừng khi ánh dương buổi sớm

Theo chương trình diễm lệ của thiên đường

C ác bằng hữu, hãy chạy theo đường mình chọn

Vui lên, nanh hùng thắng trận

Mở vòng tay ôm lấy triệu sinh linh

tặng cả thế giới cái hôn này

Anh em, chung sống dưới một bầu trời

Nơi cha thương yêu ở

Triệu triệu sinh linh, sao chưa cúi mình bái lạy?

Thế giới, sao chưa thần phục Chúa Trời?

Hãy tìm Ngài tro ng vũ trụ

Ngài cư ngụ trên trời đầy sao.


*/ Bản giao hưởng được xây dựng trong thời gian mà thời kỳ cách mạng Pháp đã đi vào dĩ vãng, và thế lực phản động đang ngự trị ở Châu Âu. Những hy vọng đã đổi thành thất vọng. Trong nghệ thuật đã nảy sinh một trào lưu mới -  chủ nghĩa lãng mạn, thể hiện những tâm trạng mới. Công trạng của người nghệ sĩ ca ngợi Trí tuệ, Tự do, Niềm tin trong thời kỳ đen tối ấy ấy càng có ý nghĩa lớn. Giao hưởng số 9 - một bản tuyên ngôn âm nhạc của thế kỷ 19


FRANZ SCHUBERT

(1797-1828)


Franz Schubert sinh ngày 31 tháng 1 năm 1797 tại Himmelpfortgrund, một làng nhỏ ở ngoại ô Wien trong một gia đình có nguồn gốc Bohemia. Cha của Schubert là một thầy giáo làng chơi được violin và cello, mẹ ông là đầu bếp. Năm 1804, khi mới 7 tuổi, Schubert được gửi tới nhà thờ Lichtenthal ở Vienna để học chơi đàn organ. Năm 1808, Schubert tới học ở trường nội trú Convict nơi có nhà soạn nhạc nổi tiếng Antonio Saliari làm hiệu trưởng. Trong thời gian 5 năm sống tại đây, Schubert ban đầu chơi ở bè violin 2 sau đó chuyển lên bè violin 1 trong dàn nhạc của trường. Những sáng tác đầu tiên của cậu bé cũng bắt đầu xuất hiện trong đó nổi tiếng nhất là bản Fantasia cho 2 Piano (1810).

Schubert đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm thật đồ sộ. Chín bản giao hưởng (bản giao hưởng số 7 bị thất lạc), khoảng 10 vở opera, 15 tứ tấu đàn dây, 8 Mass, gần 20 piano sonata, 600 bài hát. Schubert sáng tác đủ các thể loại âm nhạc: giao hưởng, Sonat, nhạc thính phòng, bài hát. Schubert là người đầu tiên đưa bài hát đến tầm khái quát cao, đồng thời giữ được vẻ tự nhiên ban đầu của nó. Schubert trở nên bất tử qua 600 bài hát mà ông sáng tác (nên giao hưởng và opera của ông bị khuất lấp, bị rơi vào lãng quên lúc sinh thời). Sau khi Schubert qua đời, các tác phẩm của ông mới khẳng định được tên tuổi của mình, một phần nhờ công lao phổ biến của các nhạc sĩ cùng thời như Franz Liszt ,   Robert Schumann ,   Felix Mendelssohn . Schubert được coi là ánh bình minh của chủ nghĩa lãng mạn trong âm nhạc Ông được xếp vào hàng các nhà soạn nhạc vĩ đại nhất của nhân loại.


Còn hơn thế nữa!


Ngày nay, người ta thích nghe những bài hát của Schubert như: Vua Erl, Gretchen quay sợi, Bông hồng xinh trên đồng nội, Bên bờ biển. Sự tĩnh lặng, không giả tạo, đó chính là sự chân thành và giản dị trong nghệ thuật. Đối với Schubert việc thể hiện tình cảm trong âm nhạc có nghĩa là hát – theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từ này. Có những bài hát của Schubert trong sáng và thuần khiết như nụ cười trẻ thơ, có những bài lại sâu kín thâm thúy như tư tưởng của nhà hiền triết. Thông qua bài hát, Schubert thổ lộ những tâm sự vui buồn của mình.

Schubert như một ngôi sao vụt sáng chói trên bầu trời âm nhạc và sớm tắt nên người đương thời ít ai biết đến. Schubert mất ngày 19.11.1928 vì bệnhthương hàn. Di hài được an táng ở nghĩa trang Wering ở thành Viên, cách nơi an nghỉ của Beethoven có hai ngôi mộ. Trên bia mộ Schubert có ghi dòng chữ: “Âm nhạc đã chôn sâu nơi đây một kho tàng quý báu, nhưng còn hơn thế nữa- những hoài bão lớn lao.”


SERENADE CỦA SCHUBERT


Dạ khúc  (Serenade) là một thể loại ca khúc để hát vào buổi tối Bài Dạ Khúc bất hủ mà Franz Schubert sáng tác là để tặng sinh nhật cho một thiếu nữ mà ông thầm yêu trộm nhớ, được viết lời bởi  Ludwig Rellstab. Bài hát (lied ) có tên "Ständchen" đã được dịch sang rất nhiều ngôn ngữ và được chuyển soạn cho nhiều nhạc cụ khác chơi dưới cái tên "Serenade" và cái tên phổ biến nhất là "Serenade của Schubert".   châu Âu  ngay từ  thời trung cổ  các chàng trai thường có lối tỏ tình bằng cách mượn âm nhạc, ban đêm đến đứng dưới cửa lầu "người đẹp" tự thể hiện bằng tiếng đàn và giọng hát của chính mình. Những bài nhạc   lãng mạn  này gọi là "serenade". Để làm cho nàng bất ngờ, Schubert nhờ một bạn thân là   ca sỹ, trình bày ngay dưới cửa sổ nhà nàng. Tối đó, người ta bí mật khiêng cây đàn   piano   vào trong vườn, tất cả đã sẵn sàng cho buổi biểu diễn lãng mạn và độc đáo. Thế nhưng, Schubert lại quên không đến. Trớ trêu thay, cô gái lại đem lòng yêu chính chàng ca sĩ, chứ không dành trái tim cho Schubert.

DẠ KHÚC C A SCHUBERT

Đ êm khuya v ng tiếng anh hát thầm thì, dưới chòm cây tĩnh lặng.

Đến đây hỡi người!

Gió đùa lá xào xạc dưới trăng;

Đừng sợ chi kẻ phản trắc

rình rập đâu đó.

Em nghe chăng

tiếng họa mi vang rền.

Chúng gọi em đấy,

chúng chuyển lời của anh cho em,

vì chúng hiểu

nỗi khắc khoải con tim, nỗi đau tình si.

Giọng hót vang của chúng

làm mỗi trái tim nồng nàn bớt thổn thức.

Người yêu hỡi,

em hãy để cho tiếng chim ca trong tim...

Anh đang run rẫy,

bồi hồi chờ em nơi đây.

Đến đây chúc mừng anh! )


AUF DEM WASSER ZU SINGEN


Auf dem Wasser zu singen” được xếp vào hàng kiệt tác của thể loại barcarolle (chèo thuyền). Lời ca của “Auf dem Wasser zu singen” là bài thơ “ Bài ca trên sông nước do nhà thơ Đức Friedrich Leopold Graf zu Stolberg (1750 - 1819) viết năm 1782. Bài thơ được Stolberg đề tặng:  Für meine Agnes  (Tặng Agnes của tôi).

 “Agnes của Stolberg” tên thời con gái là Agnes von Witzleben. Đây chính là người phụ nữ được Stolberg ca tụng trong nhiều bài thơ thời kỳ đầu sáng tác. Agnes cũng trở thành vợ của Stolberg trong năm 1782 – cùng năm ông viết “Lied auf dem Wasser zu singen”.

 

Lied auf dem Wasser zu singen

Für meine Agnes

 

Mitten im Schimmer der spiegelnden Wellen

Gleitet, wie Schwäne, der wankende Kahn:

Ach, auf der Freude sanftschimmernden Wellen

Gleitet die Seele dahin wie der Kahn;

Denn von dem Himmel herab auf die Wellen

Tanzet das Abendrot rund um den Kahn.

 

Über den Wipfeln des westlichen Haines

Winket uns freundlich der rötliche Schein;

Unter den Zweigen des östlichen Haines

Säuselt der Kalmus im rötlichen Schein;

Freude des Himmels und Ruhe des Haines

Atmet die Seel im errötenden Schein.

 

Ach, es entschwindet mit tauigem Flügel

Mir auf den wiegenden Wellen die Zeit;

Morgen entschwinde mit schimmerndem Flügel

Wieder wie gestern und heute die Zeit,

Bis ich auf höherem strahlendem Flügel

Selber entschwinde der wechselnden Zeit.


Bài ca trên sông nước

Tặng Agnes của tôi

 

Giữa khoảng sáng lung linh sóng nước

Như thiên nga, thuyền nhẹ lướt trôi;

A! theo sóng lóng lánh êm vui

Hồn ta cũng như thuyền trôi lướt;

Rồi từ trời cao vỗ lên sóng nước

Ánh hoàng hôn nhảy múa quanh thuyền.

 


Trên những ngọn cây phía rừng phía tây

Tia nắng đỏ vẫy chào thân thiện;

Dưới những nhành cây rừng phía đông

Đám lau sậy vẫy ta trong ánh đỏ;

Dưới những cành cây

Niềm vui thiên đường và tĩnh lặng nơi cánh đồng.

Hồn thở nhẹ trong ánh hồng


Ôi! cánh sương tan biến dần

Tôi lắc lư trên sóng thời gian;

Ngày mai, cánh chập chờn biến mất

Như hôm qua và hôm nay;

Tới khi tôi cất cánh lên cao

Thời gian đổi thay cũng đi vào dĩ vãng


FELIX B. MENDELSSOHN

(1809-1847)


Felix Bartholdy Mendelssohn   nhà soạn nhạc , một   nghệ sĩ dương cầm , nghệ sĩ đại phong cầm, và   chỉ huy dàn nhạc   người   Đức   thuộc giai đoạn đầu thời kỳ   âm nhạc lãng mạn . Felix Mendelssohn sinh ra trong một gia đình quý tộc   Do Thái , là cháu nội nhà triết học Moses Mendelssohn.Tài năng âm nhạc của Mendelssohn phát triển sớm. Ông ngưỡng mộ Hãndel, Bach, Mozart, Beethoven. Mendelssohn là nhạc sĩ theo chủ nghĩa lãng mạn. Nhạc của ông lúc thì bi ai, lúc thì tươi mát- mơ mộng. Ông là người đầu tiên viết giao hưởng tả cảnh.

Những bản nhạc nổi tiếng của ông là “Bản giao hưởng Italia” (Italienische Sinfonie, 1833), “Bản giao hưởng Xcốtlen” (Schottische Sinfonie, 1830-1842), “Giấc mộng đêm hè” (viết cho vở kịch cùng tên của Shakespeare- Ein Sommernachtstraum, 1826-1842).


Cảm xúc – nghiền ngẫm và sáng tác


Năm 1829 Mendelssohn đi du lịch Xcốtlen. Chàng trai hai mươi tuổi Mendelssohn thấy cảnh đẹp độc đáo của thiên nhiên ở đây cùng cảnh lâu đài hoang tàn của nữ hoàng Maria Stuart. Nhạc sĩ viết ấn tượng của mình cho gia đình:

- Tất cả chung quanh đều đổ nát, tất cả đều điêu tàn. Và chỉ có trời xanh vui tươi đang liếc nhìn vào trong khung cảnh ấy. Khắp mọi nơi, đâu đâu cũng một màu xanh tuyệt vời, nước xanh thẳm, nhưng sao cảnh vật lại nghiệt ngã đến thế, u buồn và hiu quạnh. Tôi nghĩ rằng, hôm nay tôi đã tìm thấy cảm hứng cho giao hưởng nước Xcốtlen.

Mười hai năm sau, Mendelssohn ngồi viết giao hưởng nước Xcốtlen.


Tính dân ca trong nhạc của Mendelssohn


Nhạc của Mendelssohn trong sáng, cân đối , hài hòa, ông xa lạ với anh hùng ca. Ông là nhạc sĩ trữ tình đáng yêu bởi tính chân thành, bởi tính uyển chuyển, linh hoạt nhẹ nhàng trong âm nhạc. Schumann nói:

- Mendelssohn là Mozart của thế kỷ XIX.


GIẤC MƠ – NGHIỀN NGẪM VÀ SÁNG TÁC


Năm 1826, khi mới 17 tuổi, Mendelssohn viết bản Overture “A Midsummer Night's Dream/ Ein Sommernachtstraum” Op. 21 (Giấc mộng đêm hè). Tiếp xúc với Overture này, nhạc sĩ Chopin nhận xét: “Overture A Midsummer Night's Dream có thể khiến bất kỳ nhạc sĩ nào cũng phải kinh hoàng. Tuy kế thừa truyền thống cổ điển nhưng Mendelssohn lại có một tâm hồn lãng mạn. Đây không phải là thế giới vô hình do trí tưởng tượng xây dựng nên, cái thế giới khơi lên những ước mơ này là một thế giới có thật”.  Từ giấc mơ thời trai trẻ tới hiện thực là một chặng đường dài. Vào năm 1843, 17 năm sau kể từ ngày sáng tác overture, Mendelssohn thực hiện nốt ước mơ dang dở thời trai trẻ, Mendelssohn hoàn thành phần âm nhạc cho vở kịch  Giấc mộng đêm hè của Shakespeare với trích đoạn tuyệt vời nhất: Wedding March (Hành khúc đám cưới) mà ngày nay luôn được vang lên ở bất kỳ đám cưới nào trên khắp thế giới như là một nghi lễ bắt buộc.


CẢNH ĐẸP LÀ NGUỒN CẢM HỨNG TRONG SÁNG TÁC


Cuộc đời Felix Mendelssohn cũng thanh bình như chính âm nhạc của ông vậy. Âm nhạc của Mendelssohn có nét tương đồng với Mozart trong đó nổi bật lên là sự dịu dàng và trong sáng. Những miền đất ông đã đi qua, những phong cảnh thiên nhiên mà ông yêu thích đều làm cảm xúc trong Mendelssohn tuôn trào và hình thành nên những tác phẩm xuất sắc Tháng 10 năm 1830, nhà soạn nhạc trẻ băng qua dãy núi Alps tiến vào Italia Trong nhật ký Mendelssohn có viết: “Bây giờ tôi đang ở Italia và chắc chắn rằng đây sẽ là chuyến đi tuyệt vời nhất của tôi”. Nền văn hoá Rome to lớn đã thực sự quyến rũ ông. Những công trình kiến trúc vĩ đại, những bức tranh vô cùng nổi tiếng từ thời Phục hưng và cả cuộc sống bình dị của người dân nơi đây đã khiến long Mendelssohntrào dâng. Chính nước Italia tươi đẹp là nguồn cảm hứng để Mendelssohn sáng tác bản giao hưởng số 4 Italian giọng La trưởng, Op. 90 - một trong những tác phẩm tuyệt vời nhất của ông. 

Năm 1829 Mendelssohn đi du lịch Xcốtlen. Chàng trai hai mươi tuổi Mendelssohn thấy cảnh đẹp độc đáo của thiên nhiên ở đây cùng cảnh lâu đài hoang tàn của nữ hoàng Maria Stuart. Nhạc sĩ viết ấn tượng của mình cho gia đình:

- Tất cả chung quanh đều đổ nát, tất cả đều điêu tàn. Và chỉ có trời xanh vui tươi đang liếc nhìn vào trong khung cảnh ấy. Khắp mọi nơi, đâu đâu cũng một màu xanh tuyệt vời, nước xanh thẳm, nhưng sao cảnh vật lại nghiệt ngã đến thế, u buồn và hiu quạnh. Tôi nghĩ rằng, hôm nay tôi đã tìm thấy cảm hứng cho giao hưởng nước Xcốtlen.

Năm 1942, mười hai năm sau, Mendelssohn ngồi viết Giao hưởng Xcốtlen.


GIAO DU CŨNG TẠO NGUỒN CẢM HỨNG SÁNG TÁC

  

Khi Felix 12 tuổi, cậu bé được Zelter dẫn đến gặp đại văn hào Johann Wolfgang von Goethe. Goethe tỏ ra rất mến Mendelssohn và cậu bé ở nhà ông trong hơn 2 tuần lễ. Sau một lần nghe Mendelssohn biểu diễn, Goethe, khi đó đã 72 tuổi nói: “Khi tôi buồn, tôi nghe Mendelssohn đàn và tìm thấy niềm vui”. Cuộc tiếp xúc này rất quan trọng đối với sự nghiệp của Mendelssohn. Sau này, Mendelssohn đã sáng tác bản Piano quartet giọng Si thứ để tặng Goethe

Năm 1829, ông đến Anh - nơi có nhiều điểm tương đồng về văn hoá với nước Đức thời kỳ đó. Mendelssohn được giới âm nhạc Anh đón chào nồng nhiệt. Trong thời gian này ông có đến thăm Scotland và Hebrides, chính nơi đây đã tạo cho Mendelssohn nguồn cảm hứng viết nên tác phẩm nổi tiếng overture “The Hebrides” Op. 26 (còn có tên khác là “Động Fingal”) - và những ý tưởng ban đầu về bản giao hưởng số 3 Scottish giọng La thứ, Op. 56 cũng bắt đầu được hình thành. Trong lần gặp gỡ Goethe lần cuối cùng tại Weimar vào tháng 5 năm 1830, một bài thơ của Goethe đã truyền cảm hứng cho Mendelssohn sáng tác nên bản cantata thế tục  First Walpurgis-Night.


RICHARD WAGNER

(1813-1883)


Nhà soạn nhạc   kiêm nhạc trưởng, đạo diễn kịch và nhà lý luận âm nhạc người Đức Richard Wagner   sinh ngày 22 tháng 5 năm 1813 ở   khu buôn bán “ Zum roten und weißen Löwen ” ở thành phố hội chợ Leipzig. Richard là con thứ chín trong gia đình, bố là   Carl Friedrich Wagner (1770–1813) và mẹ tên thời con gái là Johanna Rosine Pätz (1778–1848). Khi Richard Wagner mới 6 tháng tuổi thì cha ông qua đời Ngày 28. tháng 8 năm 1814 , mẹ ông lấy nhà thơ, kiêm diễn viên Ludwig Geyer (1778–1821). Khi bố dượng mất năm 1821 ở Dresden, cậu bé Richard được bà con phía bố dượng nuôi đến năm 1827. 1822-1827, Richard học Trường   Kreuzschule   ở thành phố văn hóa Dresden. 1828-1830, Richard học Trường   Nikolaischule   , rồi Trường   Thomasschule ở thành phố Leipzig . Richard sống trong cảnh mồ côi cha nên ngỗ ngược, khó bảo, bị bạn cùng học gọi là “der Kosak ” (dân Cô-dắc). Trong thời gian 1828-1830, Richard coi người người bác Adolph Wagner như một thần tượng . Ông là nhà ngôn ngữ có quan hệ thư từ với đại văn hào Goethe và là dịch giả, dịch các kịch của Sophokle. Richard đọc sách trong thư viện của người bác các tác phẩm của Shakespeare   và các nhà văn lãng mạn, trong số đó có E. T. A. Hoffmann . Richard viết vở kich 5 hồi Leubald theo phong cách Shakespeares khi đang còn là học sinh.

Richard Wagner học nhạc ở Đại học Leipzig. Vấn đề đánh giá tài năng của Wagner tới nay vẫn đang được bàn cãi sôi nổi: hoặc ca ngợi hết lời hoặc là phủ nhận tất cả những gì ông sáng tác.


Ngược – xuôi


Rossini chơi đàn piano với bản tổng phổ vở Tannhãuser của Richard Wagner. Ông nghe không chút hứng thú. Một học sinh của ông nói:

- Thưa thầy, bản tổng phổ để ngược ạ.

Rossini đáp:

- Khi trước tôi để xuôi, nhưng nghe cũng không lọt tai.


Một nhạc sĩ tài ba


Khác với nhạc sĩ Rossini và nhà phê bình Hansblick - những người không thíoch âm nhạc của Wagner. Roland hết lời ca ngợi Wagner. Ông nói:

- Đó là một nhạc sĩ tài ba, có năng khiếu tuyệt vời về thi ca với sức sáng tạo mãnh liệt. Tâm hồn của ông tràn đầy nhiệt tình của vũ trụ.


WAGNER CÓ GÌ KHÔNG ỔN !? 


Đề tài những vở nhạc kịch của Wagner không liên quan tới thời sự. Chúng nảy sinh từ kho tàng văn học dân gian Đức, ví dụ từ câu chuyện cổ tích về người thủy thủ như trong vở ” Người Hà Lan phiêu bạt” (Der fliegende Hollander) năm 1852, hay từ những truyền thuyết Đức như các vở nhạc kịch cùng tên “Tannhãuser”năm 1845, “Lohengrin”năm 1850, “Chiếc vòng Nibelungen”năm 1874, “Walkũre”năm 1869, “Hoàng hôn của các thần linh”năm 1876, .v.v…

Âm nhạc của Wagner huyền bí như chính các câu chuyện cổ tích và truyền thuyết. “Wagner là một nhà Lãng mạn , vì âm nhạc của ông tất cả đều hướng về tự nhiên và tình yêu.” Vaughan Williams thì diễn tả rằng, tác phẩm Wagner mang lại “một cảm giác về sự cảm thông, cũng như khi gặp một người bạn cũ”, Puccini thậm chí còn thừa nhận: “… chúng ta chỉ như tiếng mandolin phụ họa, tô vẽ thêm xung quanh Wagner.” Ngay từ thời kỳ sơ khai của điện ảnh, thì những sáng tác nhạc cho phim đều chịu ảnh hưởng trực tiếp mạnh mẽ từ Wagner, nên nhiều người thấy nhạc Wagner gần với nhạc phim

Lý do nào đó khiến Wagner trở thành một kẻ bị ghét bỏ, gây ác cảm? Nguyên nhân chính chủ yếu do “thói Đức”: cuồng nhiệt, vượt rào tình cảm đến tình yêu, vợ chồng với những mối quan hệ giông bão: Wagner sáng tác chương đầu đặc biệt gợi tình của vở opera “Die Walküre” khi đang mê đắm Mathilde – vợ Otto Wesendonck (1815-1896)- người bảo trợ Wagner. Nhạc trưởng Hans von Bülow là một trong những cộng sự thân thiết nhất của Wagner, chồng hợp pháp của Cosima. Wagner và Cosima đã trở thành một cặp tình nhân và thành vợ chồng

Otto Wesendonck đã hết sức tức giận khi biết hành động ngông cuồng và phô trương của Wagner. Sự căng thẳng ở Đồi Xanh đã trở nên không thể chịu đựng nổi khi Wagner ngày càng công khai tình cảm dành cho Mathilde, dẫn đến sự tan vỡ mối quan hệ giữa hai gia đình. Gia đình Wesendonck cuối cùng đã bán căn biệt thự ở ngoại ô Zürich và ngôi nhà thôn dã gần đó trên Đồi Xanh vào năm 1871 rồi chuyển đến nước Đức.

Trong lịch sử opera, các nhà văn viết lời, các nhạc sĩ viết nhạc, rất ít khi nhạc sĩ viết lời. Richard Wagner là nhạc sĩ sáng lập ra trường phái mới trong lịch sử opera với từ Gesamtkunstwerk   (nghĩa là “toàn bộ tác phẩm nghệ thuật”) với sự nhất quán giữa kịch bản, nhạc, diễn suất trên sân khấu để làm tăng giá trị của nội dung kịch . Wagner là một trường hợp lẻ loi: Wagner viết lời và nhạc cho tất cà các opera của mình. Wagner tin rằng ngôn từ và âm nhạc luôn cần phải được viết bởi một đầu óc độc lập, đó là lý do vì sao ông luôn cố gắng tự viết lời cho opera của mình.

Hằng năm, kể từ năm 1876, tại Bayreuth diễn ra một festival âm nhạc dành riêng cho các vở opera của Wagner. Wagner chính là người khởi xướng và thúc đẩy ý tưởng tổ chức festival này. Các buổi biểu diễn diễn ra trong một nhà hát - Bayreuth Festspielhaus. Festival trở thành điểm hành hương của những người hâm mộ Wagner.


LUDWIG II - VUA TRUYỆN CỔ TÍCH


Ludwig II (Louis II) sinh ngày  25 tháng 8  năm 1845 tại  lâu đài Nymphenburg  ở München, là con cả của  vua   Maximilian và hoàng hậu Marie. Khi rửa tội ông được đặt tên là Otto Friedrich Wilhelm Ludwig. Năm 1861 Ludwig được xem lần đầu tiên vở nhạc kịch Tannhäuser und Lohengrin của   Richard Wagner. Từ đó ông bắt đầu yêu thích nhạc kịch của Wagner và cái thế giới huyền thoại của truyền thuyết và cổ tích Đức. Cha ông Maximilian băng hà vào ngày 10 tháng 3 năm 1864, cùng ngày thái tử Ludwig 18 tuổi cao 1,93 m được tuyên bố làm vua. Ngay từ ban đầu Ludwig II bỏ công sức để hỗ trợ văn hóa, đặc biệt là nhà soạn nhạc  Richard Wagner, người mà ông lần đầu tiên đích thân gặp vào ngày 4 tháng năm 1864. Giữa năm 1864 và 1865 ông đã cung cấp cho Wagner 170.000 Gulden (đồng tiền vàng). Ngân khố thâm hụt. Tháng 12 năm 1865 Ludwig II vấp phải sự chống đối của chính phủ, người dân München cùng cả gia đình ông, đòi hỏi Wagner hãy rời khỏi Bayern. Tuy nhiên, nhạc kịch của Wagner  Tristan und Isolde  (10 tháng 6 năm 1865),  Die Meistersinger von Nürnberg  (21 tháng 6 năm 1868),  Das Rheingold  (22 tháng 9 năm 1869) và  Die Walküre  (26 tháng 6 năm 1870) vẫn khai mạc tại   Kịch viện quốc gia München. Từ năm 1872 Ludwig II xem các vở nhạc kịch của Wagner chỉ với Wagner (2 người là vua và nhạc sĩ) trong nhà . Là vua, nhưng Ludwig II thực hiện những công việc chính quyền bằng những sứ giả của mình. Ô ng để thì giờ cho những tư tưởng  lãng mạn  tại những lâu đài của mình. Ludwig thường vắng mặt tại München (thủ phủ Bavaria) nhưng vẫn điều hành công việc nước cho tới khi mất rất có lương tâm. Vào những năm cuối cùng nhà vua tránh né xuất hiện trước công chúng. N gày 8 tháng 6 năm 1886 với sự sắp đặt của chính quyền , một bản chứng nhận của 3 vị bác sĩ (không có khám xét tình trạng sức khỏe con bệnh) , Ludwig bị đánh giá là "tâm thần rối loạn" cũng như "căn bệnh bất trị". N gày 9 tháng 6 năm 1886 Ludwig bị chính quyền tước quyền. Ludwig   Luitpold   với tư cách nhiếp chính đã lên nắm quyền vào ngày hôm đó. M ột ủy ban khác đã tới bắt ông đi và nhốt tại lâu đài Berg nằm ở bờ hồ Starnberger See. Nhà vua tự trầm với viên y sĩ riêng, Bernhard von Gudden , ở hồ Starnberg. Cái chết này được coi như kết thúc của "một sự điên rồ lãng mạn" Ít năm sau khi lên ngôi, * Ludwig II chỉ còn quan tâm đến kiến trúc và nghệ thuật. Để thỏa mãn trí tưởng tượng bay bổng, ông đích thân thiết kế và cho xây nhiều cung điện. như Neuschwanstein, Linderhof, Herrenchiemsee


Ludwig II được tưởng nhớ trong lịch sử của Bayern là một người đam mê xây lâu đài, trong số đó phải kể tới lâu đài  Neuschwanstein . Vì thế trong dân gian người ta gọi ông là  Vua truyện cổ tích  ( Märchenkönig ). Lịch sử thế giới biết đến vua Ludwig Đệ nhị qua lâu đài *Neuschwanstein được xây dựng ở ranh giới giữa cái thực và mộng tưởng, bay bổng và hòa quyện trong những huyền thoại thời Trung Cổ, đặc biệt là truyền thuyết về chàng “hiệp sĩ thiên nga” Lohengrin mà vị vua coi là thần tượng của mình – đến nỗi, khi đã đăng quang, ông vẫn hay ăn vận theo trang phục của vị anh hùng này.


*/ Ludwig Đệ nhị ngày một xa rời chính trị và có một cuộc sống bất thường: xa cách triều thần, đêm thức chong chong, ngày ngủ vùi với những giấc mơ kỳ dị, như dùng bữa trưa với hồn ma hoàng đế Pháp Louis XIV

*/ Tại một vùng thung lũng sơn thủy hữu tình, bên dòng sông Polatt cuộn sóng, trên nền vách đá chót vót, ông bắt đầu cho xây Neuschwanstein từ năm 1869, với kiến trúc và bài trí pha trộn các phong cách Mor, gô-tích, barock và tạo dựng một màu sắc, một bầu không khí huyền bí và nên thơ như trong các tiểu thuyết “kiếm hiệp kỳ tình” Trung Cổ.


Những bản giao hưởng nổi tiếng của Richard Strauss (1864-1949) là “Giao hưởng núi Alpen”, “Giao hưởng ngẫu hứng”, những bản nhạc cho ca vũ kịch nổi tiếng của ông là “Eulenspiegel”; “Don Quixote”; “ Zarathustra đã nói như vậy”; “Cuộc đời của người anh hùng”.


Họ và tên của người nổi tiếng


Richard Strauss nổi tiếng , nhưng cái tên Johann Strauss thì đã quá quen thuộc với công chúng. Vì vậy người ta hay lẫn hai người. Để tránh nhầm lẫn giữa Johann và Richard Strauss và Richard Wagner, trong giới âm nhạc người ta gọi Richard Strauss là Johann Wagner của Đức. Có lần Richard Strauss nói:

- Nếu đã nói Richard thì phải nói Richard Wagner, còn bắt đầu với Johann thì tất nhiên phải nói Johann Strauss.


Sinh vì nghệ,…


1905 vở ca vũ kịch Salome của Richard Strauss được công diễn ở thành phố Dresden nằm bên bờ sông Elbe. Đây là một thành công của Strauss. Vua Đức Wilhem II có dự buổi công diễn đó. Nhà vua không thích vở đó nên nói:

- Đáng lẽ Richard Strauss không nên viết nhạc cho vở ca vũ kịch Salome , cái đó chỉ làm tổn thương cái tên của ông ta.

Có người nói lại cho Strauss biết nhận xét của nhà vua. Strauss cười và nói:

- Cũng nhờ sự tổn thương ấy mà tôi xây được một biệt thự ở Garmisch.


Biết điều …!


Richard Strauss được mời làm giám đốc nhà hát ca vũ kịch thành phố Viên. Có người khuyên can:

- Tại sao Ông lại tới thành phố Viên ? Dân chúng ở đó là dân không biết điều!

Strauss an ủi người khuyên mình:

- Ở đâu dân chúng cũng đều không biết điều, chỉ có dân thành phố Viên (dân sành điệu trong âm nhạc) không biết điều ở mức có thể chịu đựng được.


LỜI BÌNH: Theo digitaldreamdoor.com thì 10 nhạc sĩ đứng đầu trong 50 nhạc sĩ cổ điển thì số 1 là Johann Sebastian Bach , số 2 là Wolfgang Amadeus Mozart số 3 là Ludwig van Beethoven số 4 là Richard Wagner , số 5 là Joseph Haydn , số 6 là Johannes Brahms , số 7 là Franz Schubert , số 8 là Robert Schumann số 9 là Georg Friedrich Händel , số 10 là Piotr Illitch Tchaïkovsky . Như vậy Đức có tám trong mười người, còn lại Áo có một, Nga có một. Để có cái nhìn tổng quát, tiêu biểu về một số nhà soạn nhạc lừng danh nhất, giữ vai trò quan trọng trong lịch sử âm nhạc thế giới, chúng tôi tìm cách xếp loại và tóm tắt những nét đặc trưng nhất của từng người trong số họ thì
danh sách những nhà soạn nhạc bậc thầy của nền âm nhạc
NHÓM BẤT TỬ có

1. Johann Sebastian BACH (1685 – 1750 )  
Người Đức.Thời kỳ âm nhạc: Baroque. “Chàng khổng lồ của nghệ thuật âm nhạc phương Tây”.

2. Wolfgang Amadeus MOZART (1756 – 1791)
 
Người Đức, Thời kỳ âm nhạc: Cổ điển. “Thiên tài âm nhạc siêu nhiên”.

3. Ludwig van BEETHOVEN (1770 – 1827)
 
Người Đức, Thời kỳ âm nhạc: Cổ điển. “ Thần sấm bất tử của cảm xúc và sức mạnh”.

NHÓM THIÊN TÀI có
1. Felix MENDELSSOHN - BARTHOLDY (1809 – 1847)
 
Người Đức. Thời kỳ âm nhạc: Lãng mạn. Thần đồng của thời Lãng mạn; Âm nhạc cho piano và giao hưởng đầy tính giai điệu, tao nhã.

2. Antonín DVOŘÁK (1841 – 1904)
 
Người Sez. Thời kỳ âm nhạc: Lãng mạn. Nhà soạn nhạc đứng đầu số 3 nhạc sĩ Sez có tên trong danh sách này; sáng tạo giai điệu tuyệt vời.

3. Franz LISZT (1811 – 1886)
 
Người Hung-ga-ri. Thời kỳ âm nhạc : Lãng mạn. Nghệ sĩ piano hay nhất, người sáng tạo ra thể loại “Thơ giao hưởng”.

4. Frédéric CHOPIN (1810 – 1849)
 
Người Ba-lan. Thời kỳ âm nhạc: Lãng mạn. Được mệnh danh là “Ngài Piano”.

5. Igor STRAVINSKY (1882 – 1971)
 
Người Nga. Thời kỳ âm nhạc: Thế kỷ XX . Nhà soạn nhạc hay nhất của thế kỷ XX và dẫn đầu nhóm nhạc sĩ Tiền phong (Avant-Garde).

6. Giuseppe VERDI (1813 – 1901)
 
Người Ý. Thời kỳ âm nhạc : Lãng mạn. Nhà soạn opera được yêu mến nhất.

7. Gustav MAHLER (1860 – 1911)
 
Người Đức. Thời kỳ âm nhạc: Lãng mạn. Tác giả của 9 giao hưởng độc đáo và các ca khúc.

8. Sergei PROKOFIEV (1891 – 1953)
 
Người Nga. Thời kỳ âm nhạc: Thế kỷ XX . Thần đồng, một “hợp âm nghịch” tuyệt vời trong nền âm nhạc .

9. Dmitri SHOSTAKOVICH (1906 – 1975)
 
Người Nga. Thời kỳ âm nhạc: Thế kỷ XX . Nhà soạn nhạc hàng đầu của nước Nga Xô-Viết.

10. Richard STRAUSS (1864 – 1949)
 
Người Đức. Thời kỳ âm nhạc : Lãng mạn . Tiền thân của “nền Âm nhạc mới”; người sáng tạo nên 8 bản thơ giao hưởng lừng danh.

NHÓM ƯU TÚ có

1. Hector BERLIOZ (1803 – 1869)
 
Người Pháp. Thời kỳ âm nhạc: Lãng mạn. Nhạc sĩ lãng mạn thuần túy; Chuyên gia về thể loại “Tranh giao hưởng” (symphonic spectacle).

2. Claude DEBUSSY (1862 – 1918)
 
Người Pháp. Thời kỳ âm nhạc: Thế kỷ XX. Nhà soạn nhạc đầu tiên của trường phái Ấn tượng; nổi tiếng về ca khúc, nhạc cho piano và các tác phẩm dàn nhạc.

3. Giacomo PUCCINI (1858 – 1924)
 
Người Ý. Thời kỳ âm nhạc: Lãng mạn. Bậc thầy của opera Ý thời “hậu Verdi”.

4. Giovanni da PALESTRINA (1525 – 1594)
 
Người Ý. Thời kỳ âm nhạc: Phục hưng . Bậc thầy của nhạc nhà thờ Công giáo thời Phục hưng.

5. Anton BRUCKNER (1824 – 1896)
 
Người Đức. Thời kỳ âm nhạc: Lãng mạn. Nhạc sĩ hàng thứ 6 trong số 7 nhạc sĩ giao hưởng của Vienne.

6. Georg TELEMANN (1681 – 1767)
 
Người Đức. Thời kỳ âm nhạc : Baroque. Bậc thầy của âm nhạc Baroque với khoảng 3.000 tác phẩm.

7. Camille Saint-Saësns (1835 – 1921)
 
Người Pháp. Thời kỳ âm nhạc: Lãng mạn. “Hoàng tử” của nhạc kịch và thơ giao hưởng Pháp.

8. Jean SIBELIUS (1865 – 1957)
 
Người Phần-lan. Thời kỳ âm nhạc: Thế kỷ XX. Nhà soạn nhạc số một của Phần-lan.

9. Maurice RAVEL (1875 – 1937)
 
Người Pháp. Thời kỳ âm nhạc: Thế kỷ XX. Nhà soạn nhạc Pháp nổi bật, thường được gắn liền với nhạc sĩ trường phái Ấn tượng Debussy.

10. Gioacchino ROSSINI (1792 – 1868)
 
Người Ý. Thời kỳ âm nhạc: Lãng mạn. Bậc thầy của opera Ý thời “tiền Verdi”.

Chắc hẳn sẽ có đôi chút thiên lệch, mang tính tương đối. Ví dụ, Chopin được gọi là “Ngài Piano” chỉ vì các tác phẩm nổi tiếng của ông gần như đều viết cho piano. Trong khi đó Liszt cũng là một thiên tài piano, nhưng đồng thời được nhà “phát minh” ra thể loại thơ giao hưởng và có ảnh hưởng rất lớn đến nhiều lãnh vực âm nhạc khác. Hoặc, Schumann, Schubert và Brahms được coi là những nhạc sĩ sáng tác ca khúc hàng đầu.

Trong số 10 quốc gia có các nhà soạn có tên trong bảng xếp loại trên đây, nước Đức có nhiều nhà soạn nhạc nhất. Và chỉ 4 quốc gia Đức, Pháp, Ý, Nga đã chiếm đến 41 trong số 50 nhà soạn nhạc lỗi lạc nhất mọi thời đại.


Hai đặc điểm của các bộ tộc Germanen (gồm vùng nói tiếng Đức: Đức, Áo, Thụy Sĩ) là truyền thống quân sự và truyền thống triết học, ngoài ra có thể kể tới truyền thống âm nhạc (rõ nét là ở Áo và Đức), truyền thống kỹ thuật (ở cả ba nước Áo, Đức, Thụy Sĩ). Nhìn khái quát ta có thể tóm tắt như sau: người Germanen đã khởi xướng cái gì là làm cái đó cho đến mức hoàn hảo, nếu có thể thì tuyệt hảo. Họ sống chết cho mục đích đời mình, cũng chính vì thế họ khoanh vùng hoạt động của mình, điều đó ta thấy rõ ở nhạc trưởng người Áo Gustav Mahler - nhạc sĩ hậu lãng mạn, ta thấy ở nhạc sĩ Sebastian Bach, Ludwig Beethoven, ở Richard Strauss. Sebastian Bach là người đạt tới đỉnh cao nhất trong sáng tác âm nhạc phức điệu (12 nốt), đồng thời là người sáng lập ra âm nhạc phức điệu. Đối với Bach, âm nhạc là một phương tiện tín ngưỡng. Những người sành âm nhạc đều biết tới bản “Konzert Brandenburg”; “Bản thánh ca Thánh John”; “Thánh Mattew”; “Konzert cho đàn Klavier”; “Khúc Missa cung Si thư”

Beethoven là một trong những nhạc sĩ thiên tài. Ông đã đưa âm nhạc cổ điển thành Viên lên đến đỉnh cao của âm nhạc cổ điển thế giới và ảnh hưởng của nó còn âm vang đến ngày nay.Chín bản giao hưởng của Beethoven đã mở ra kỷ nguyên mới- lần đầu tiên trong lịch sử âm nhạc, giao hưởng sánh vai ngang tầm với những bi hài kịch của Shakespeare và những khúc nhạc thánh ca. Giai đoạn Âm nhạc Cổ điển - Trường phái cổ điển Vienna (1730 -1820) khép lại với những tên tuổi lừng lẫy như Haydn, Mozart, Beethoven để mở ra một giai đoạn mới - giai đoạn Âm nhạc Lãng mạn (1800 - 1910) Những nhà soạn nhạc thời kì Lãng mạn thường lấy cảm hứng từ văn học, hội họa hay từ những nguồn ngoài thế giới âm nhạc. Vì vậy, âm nhạc chương trình được phát triển rất mạnh mẽ và dẫn đến sự ra đời của thể loại thơ giao hưởng.Các bài thơ trong thế kỉ 18 và 19 là cơ sở đề hình thành nên các bài hát nghệ thuật mà trong đó các nhà soạn nhạc dùng âm nhạc để khắc họa hình ảnh và tâm trạng của lời ca. Sự huy hoàng của Âm nhạc lãng mạn lan toả suốt thế kỷ XIX với rất nhiều nhà soạn nhạc ưu tú như Mendelssohn, Schumann, Chopin, Liszt hay Tchaikovsky nhưng trong đó người khai phá và là “nhân vật vĩ đại” đầu tiên chính là Franz Schubert. Cuộc đời Richard Wagner đầy sôi động với những thăng trầm. Ông là người tiên phong dùng kỹ thuật chất nửa cung (chromatism), cấu trúc đối âm (contrapuntal). Điều đó đã tạo ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của nền âm nhạc châu Âu.Richard Wagner là một trong những nghệ sĩ tiêu biểu của âm nhạc lãng mạn thế kỷ XIX ở châu Âu.


Người Đức sẵn sàng đạp đổ thần tượng để làm cái mới, đó là trường hợp Nietzsche, nhưng cái gì người Đức cho là tốt, cần phát triển tiếp Cái Tốt Đẹp ấy thì họ kiên quyết đi theo. Brahm là một ví dụ. Brahm sống trong thời kỳ hết sức phức tạp của lịch sử Đức. Sau cách mạng 1848-1849, thế lực phản động ở nước Đức ngày càng phát triển. Trong âm nhạc cũng có nhiều trường phái trái ngược nhau, mâu thuẫn nhau gay gắt như trường phái lãng mạn Weimar, trường phái kinh viện Leipzig. Trong lúc các trường phái này đang hưng thịnh thì Brahm kiên quyết chủ trương tiếp tục truyền thống của Beethoven. Trong sáng tác của Brahm ta thấy rõ tình yêu tổ quốc, lòng ngưỡng mộ sự phong phú của nền văn hóa dân tộc Đức và thái độ trung thành tiếp bước truyền thống tốt đẹp của những thế hệ đàn anh. Chính vì vậy mà Bulow đã gọi bản Giao hưởng số 1 của Brahm là Giao hưởng số 10 của Beethoven.

Đức và Áo là hai nước giữ và phát triển liên tục truyền thống âm nhạc của mình. Nước Áo có Johann Strauss với những bản nhạc valse (tiếng Đức là Walzer), nước Đức có Richard Strauss với những bản giao hưởng và những bản nhạc cho ca vũ kịch. Richard Strauss là một nhạc sĩ đa tài và là một trong những thiên tài âm nhạc của thế kỷ XX. Trong các nhạc sĩ thì Sebastian Bach được coi là nhạc sĩ thiên tài nhất trong các thiên tài của Đức. Đức cũng là nước có nhiều thiên tài âm nhạc nhất trong âm nhạc thế giới./.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 04.01.2017.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

TÁC PHẨM CỦA LƯƠNG VĂN HỒNG TRONG VIỆT VĂN MỚI

Quay Lên Đầu Trang

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004