Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG

CHINH PHỤ NGÂM CỦA ĐẶNG TRẦN CÔN











K ính thưa Ban chủ nhiệm CLB Sách Xưa & Nay cùng toàn thể hội viên và quý thi hữu.

Trước khi nói về đề tài này, chúng tôi xin phép nói qua về tiểu sử của tác giả Đặng Trần Côn và lai lịch bản diễn Nôm hiện hành.

Tiểu sử Đặng Trần Côn

Đặng Trần Côn người làng Nhân Mục (tục gọi là làng Mọc), huyện Thanh Trì, Tỉnh Hà Đông. Ông sinh vào thời kỳ vua Lê Dụ Tông đầu thế kỷ thứ 18. Dưới triều chúa Trịnh Cương, ông được phong chức An Đô Vương. Lúc thiếu thời, ông rất thông minh và hiếu học. Nhiều đêm, ông phải đốt đèn trong hang động để học bài vì bấy giờ trong thành Thăng Long thường xảy ra hỏa hoạn nên có lệnh cấm lửa. Sau khi đỗ cử nhân, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu văn học và sáng tác.

Vào thời Hậu Lê, dưới triều vua Cảnh Hưng (1740-1786), các thanh niên trai tráng trong làng đều phải bị nhập ngũ lên đường đi giữ biên cương, bờ cõi… Dĩ nhiên, các quân sĩ phải rời bỏ gia đình trong niềm thương yêu của gia đình và vợ con. Trước tình hình đó, Đặng Trần Côn đã sáng tác cuốn CHINH PHỤ NGÂM bằng chữ Hán, theo thể “Cổ Nhạc Phủ”, vào giữa thế kỷ 18 (khoảng 1741-1742). Sau đó vài năm, bà Đoàn Thị Điểm đã dịch tập thơ Chinh Phụ Ngâm sang chữ Nôm, theo thể Song Thất Lục Bát, hoàn toàn có tính cách Việt Nam. Có thuyết cho rằng bản dịch Chinh Phụ Ngâm này được dịch vào thời chúa Trịnh Sâm (1767-1782).

Sau khi xuất bản tập thơ “Chinh Phụ Ngâm”, ông được phong chức Huấn Đạo và giữ chức Ngự sử Đài. Theo sở thích, ông thường đi ngao du sơn thủy, du ngoạn khắp các vùng cao nguyên vì ông rất yêu thiên nhiên. Ngoài tác phẩm Chinh Phụ Ngâm, ông còn viết: Tiêu Tương bát cảnh, Trương Hàm Tư Thuần Lư, Trương Lương Bố Y, Khâu Môn Thanh…

Trong thời kỳ đó, bà Đoàn Thị Điểm (1705- ?) sinh vào đầu thế kỷ thứ 18, dưới triều Lê, là người đương thời với Đặng Trần Côn, quê làng Hiếu Phạm, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh. Chồng là ông Nguyễn Kiều, nên bà phải đổi họ theo chồng thường gọi là Nguyễn Thị Điểm, và bà có biệt hiệu là Hồng Hà nữ sĩ.

Thuở nhỏ bà có học sử học và thường làm thơ xướng họa với chồng. Bà có soạn Tục Huyền Kỳ và diễn nôm bài Chinh Phụ Ngâm. Một hôm tình cờ, có sứ giả nước tàu sang thăm nước ta, bà giả làm người bán quán. Sứ tàu ghé vào quán của bà, nhìn các câu đối treo trên tường, ông ta liền đọc câu thơ sau có ý chọc ghẹo:

An nam nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh”

Bà liền đối đáp như sau:

Bắc quốc chư đại phu, giai do thử đồ xuất”

Thật tuyệt vời. Đó là khẩu khí của một nhà thơ nữ của chúng ta thời bấy giờ. Sứ giả lấy làm hổ thẹn, khen ngợi và cáo từ ra về.

Theo nguyên tác của Đặng Trần Côn, tác phẩm Chinh Phụ Ngâm có tất cả 476 câu, viết theo thể “Cổ Nhạc Phủ” tức Cổ Phong, câu dài câu ngắn khác nhau, có từ thời Hán Ngụy. Đến đời Đường (618-927), người ta mới sửa luật lệ sáng tác cho hợp với luật thơ Đường. Bà Đoàn Thị Điểm khi dịch lại Chinh Phụ Ngâm đã rút ngắn còn 412 câu, theo thể Song Thất Lục Bát, nhưng vẫn giữ ý tứ đầy đủ cho toàn bài.

Ai là tác giả thật sự của bản dịch này?

Có nhiều người cho rằng bản dịch Chinh Phụ Ngâm bằng chữ Nôm không phải của bà Đoàn Thị Điểm mà là của ông Phan Huy Ích, ta cũng nên biết sơ qua:

Vào năm 1926, ông Phan Huy Chiêm, một hậu duệ của ông Phan Huy Ích có gửi cho ông Đông Châu (báo Nam Phong tạp chí) một lá thư trình bày ý kiến cho rằng chính ông Phan Huy Ích (1) mới là tác giả bản diễn Nôm Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn, chứ không phải của bà Đoàn Thị Điểm.

Năm 1943, ông Hoàng Thúc Trâm có tìm hiểu vấn đề này và đặt câu hỏi: “Ai là tác giả thật sự của bản dịch này?”

Đến năm 1953, ông Hoàng Xuân Hãn, một học giả Việt Nam thời cận đại, đã trưng thêm nhiều tài liệu mới trong cuốn “Chinh Phụ Ngâm bị khảo” của ông để chứng minh rằng ông Phan Huy Ích mới thật sự là tác giả của bản diễn Nôm Chinh Phụ Ngâm chứ không phải của bà Đoàn Thị Điểm, giống như ý kiến của ông Phan Huy Chiêm đã trình bày. Thế là một cuộc tranh luận bỗng nhiên bùng nổ trở lại, giữa những người ủng hộ ý kiến của ông Hoàng Xuân Hãn và ông Phan Huy Chiêm. Nhóm này gồm các nhà văn, nhà báo: Đông Châu, Trúc Khê, Nguyễn Văn Dương… Còn những người phản đối gồm các nhà trí thức: Thuần Phong, Thừa Minh, Biệt Lam (Trường Bác Cổ Hà Nội), Phạm Văn Diêu… Riêng ông Hoàng Thúc Trâm (Hoa Bằng) trước còn do dự, sau lại nghiêng về phía ý kiến của nhóm sau tức công nhận đó là bản dịch của bà Đoàn Thị Điểm.

Cuộc tranh luận thứ hai kéo dài trong 10 năm, nhưng vẫn không đi đến một kết luận nào. Nhóm các ông Thuần Phong, Biệt Lam,… viện dẫn rằng những lý lẽ của ông Hoàng Xuân Hãn vẫn không đủ thuyết phục, chưa có đủ chứng cứ để kết luận rằng bản dịch hiện hành là của ông Phan Huy Ích, nhất là bản dịch của ông Phan Huy Ích vẫn chưa được xuất bản, mặc dù nhiều người đã yêu cầu ông Phan Huy Chiêm công bố bản dịch của ông Phan Huy Ích, nhưng ông Phan Huy Chiêm vẫn không trả lời vì còn muốn giữ bí mật. Đến nay, bản dịch này vẫn chưa được xuất bản.

Ngoài ra, trong bản dịch tiếng pháp, chúng tôi có in kèm toàn văn “Chinh Phụ Ngâm” bằng chữ Hán để quý vị tiện bề tra cứu và đối chiếu.

Đến đây, chúng tôi xin tạm khép lại cuộc tranh luận. Kính mong quý vị thông cảm và cho phép chúng tôi được đi vào đề tài hôm nay.


Kính thưa quý vị,

Mở đầu tác phẩm Chinh Phụ Ngâm, Đặng Trần Côn đã vẽ ra một bức tranh khói lửa và báo hiệu những nỗi truân chuyên mà người chinh phụ phải gánh chịu:

Thiên địa phong trần.
Hồng nhan đa truân.”

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.

Khói lửa chiến chinh đã nổi lên và người phụ nữ cảm thấy không còn sống bình yên êm ấm nữa. Và nàng sẽ phải chịu đựng những mất mát đau thương do chiến tranh gây ra. Người phụ nữ đã bắt đầu gióng lên tiếng kêu than:

Xanh kia thăm thẳm từng trên!
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này.

Thân phận người phụ nữ sẽ ra sao? Chúng ta thử phân tích và tìm hiểu số phận người phụ nữ xuyên qua tác phẩm của Đặng Trần Côn.

1. TIẾNG KÊU THAN CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ.

Từ những bất mãn, đau thương, người chinh phụ đã kết tội ông trời gieo rắc những thảm họa, tang thương cho nàng và những phụ nữ khác. Từ nay, nàng sẽ không còn được vui sum họp, được sống trong hạnh phúc gia đình. Nàng cảm thấy mình như mất cả lẽ sống ở đời và sẽ là nạn nhân của một cuộc binh biến. Nàng và nhiều phụ nữ khác đành phải chấp nhận số phận của những người chinh phụ. Đối với nàng, cuộc đời đã mất hết ý nghĩa và sẽ không còn ai để nương tựa, sẽ sống bơ vơ lạc lõng giữa cuộc đời. Đời nàng sẽ đi dần vào con đường không có lối thoát, với những gian truân, vất vả trong khi nàng vẫn còn là người đàn bà non trẻ mà đáng lẽ ra nàng phải được sống hạnh phúc như mọi phụ nữ khác. Tương lai của nàng càng trở nên mờ mịt kể từ khi người chinh phu cất bước lên đường, giong ruổi trên yên ngựa:

Đường giong ruổi lưng đeo cung tiễn

Đời nàng sẽ dần dần khép lại sau cánh cửa và nàng chỉ còn là một chiếc bóng đơn điệu giữa những đêm trường giá lạnh. Mọi vật chung quanh đã trở nên xa lạ, với những nỗi chua cay, đau xót. Có thể nói thân phận người phụ nữ trong Chinh Phụ Ngâm là thân phận của một số kiếp đau thương. Nàng sẽ nhìn đời không còn như trước nữa. hạnh phúc lứa đôi đã bắt đầu đổ vỡ, từ khi xa cách, mỗi người một ngã:

Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây.

Chân trời hạnh phúc đã trở nên xa cách và cuộc đời đã thành vô vị, không còn ý nghĩa. Nói thế không có nghĩa nàng không còn khát vọng yêu đương. Do đó, chúng ta thấy tâm hồn nàng là một tâm hồn lãng mạn từ khi biết yêu thương và đau khổ. Chính sự nhớ nhung, yêu thương đó, nhất là biết nén những đau khổ vào trong lòng, càng làm cho nàng trở nên lãng mạn hơn. Không phải chỉ có những người ở thế kỷ 19 hay 20 mới là người biết nói đến lãng mạn. Tâm hồn lãng mạn là một tâm hồn biết yêu thương và chia sẻ những khổ đau, hạnh phúc với người tình, người yêu trong những hoàn cảnh khó khăn, nghiệt ngã. Đó là một tâm thức huyền nhiệm, biết hướng lòng mình vào nội tâm, mà không còn ở ngoại giới, biết dấu kín những đau thương của mình vào trong lòng của một tâm hồn sâu sắc.

Dù tác phẩm của Đặng Trần Côn là một tác phẩm cổ điển nhưng tâm hồn của người chinh phụ chất đầy những tình cảm của một con người lãng mạn hôm nay. Xét trong văn học Việt Nam chúng ta, trước đây không hề nói đến thi ca lãng mạn nhưng ở đây, tâm hồn của người phụ nữ trong tác phẩm Chinh Phụ Ngâm là một tâm hồn lãng mạn, đã nếm đủ mọi chua cay của cuộc đời, trong lãnh vực tình yêu:

Nếm chua cay, tấm lòng mới tỏ,

Với một tâm hồn đa cảm, người chinh phụ lúc nào cũng tưởng nhớ, yêu thương người chồng khi xa cách và luôn biết dồn nén những đau thương của mình vào nội tâm, dù đang gặp phải những hoàn cảnh khó khăn. Chính sự đau thương đó đã giới hạn cuộc đời nàng vào một không gian nhỏ hẹp mà nàng đành phải chấp nhận số phận qua những tiếng thương đau. Trong tâm thức lãng mạn, tình cảm cá nhân được đề cao, nhất là những tình cảm đau thương khi xa cách, ly biệt. Càng xa cách càng nhớ nhung, càng nhớ nhung càng đau khổ, càng đau khổ càng yêu thương. Đó là một quá trình gần như khép kín trong một tâm hồn lãng mạn. Người chinh phụ luôn hướng về nội tâm để tự an ủi mình và chỉ có những người thật sự yêu thương mới cảm nhận được điều đó. Nói đúng hơn, chì có hai người đang yêu nhau mới thật sự hiểu hết những hạnh phúc và đau khổ trong tình yêu. Có thể nói người chinh phụ đã sống trọn vẹn trong tình cảm khổ đau của số kiếp đau thương tức thực sự đã sống trong một tâm thức lãng mạn và thật sự hiện hữu giữa cuộc đời.

Trong Chinh Phụ Ngâm, chúng ta nhận thấy tác giả Đặng Trần Côn đã dùng một hình thức diễn đạt mới, không còn theo khuôn phép cũ như trước đây nữa. Nó gần như thể thơ mới ngày nay. Có những câu dài ngắn khác nhau với một nội dung rất sâu sắc, biết đi sâu vào tâm hồn của nhân vật trong một tâm thức lãng mạn. Phải đợi đến thế kỷ thứ 19, người Tây phương mới nói đến thi ca lãng mạn với những nhà thơ lỗi lạc như Lamartine, Rimbaud, Verlaine… Trong khi đó, vào thế kỷ thứ 18, Đặng Trần Côn đã thể hiện được tâm thức lãng mạn, xuyên qua nhân vật người chinh phụ trong tác phẩm Chinh Phụ Ngâm của mình, không thua kém gì những tác phẩm của Victor Hugo.

Từ ngày chàng “Giã nhà đeo bức chiến bào/ Thét roi cầu Vị ào ào gió thu”, nàng đã có cái nhìn khác biệt về cuộc đời, về hạnh phúc lứa đôi, dù nàng chưa thật sự trở thành thiếu phụ. Ánh sáng cuộc đời không đủ thắp sáng đêm trường mênh mông, vắng lặng của đời nàng. Dường như hoàn cảnh bên ngoài đưa đẩy nàng mỗi lúc một xa cách với chàng nhưng tình yêu của nàng vẫn còn đọng lại tâm tư của nàng. Hình ảnh của chàng vẫn còn khắc sâu trong tâm hồn nàng. Và, nàng chỉ còn biết nhìn ngẩn ngơ khi chàng đã đi vào nơi gió cát:

Thiếp nhìn rặng núi, ngẩn ngơ nỗi nhà.

Và tự hỏi:

Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng?

Không gian đã bị thu hẹp và giới hạn cái nhìn về cuộc đời nàng, nếu không muốn nói là đời nàng đã bị một bóng đen bao phủ. Mọi ngả đường đã thật sự bế tắc khi nghĩ đến tương lai của nàng. Giờ đây, nàng chỉ còn biết tìm về với quá khứ để an ủi qua những hình bóng xa xưa của một thời:

Thoa cung Hán thuở ngày xuất giá.
Gương lầu Tần dấu đã soi chung

Càng tưởng nhớ đến đến chàng, nàng càng lo sợ cho chàng. Không biết lúc này chàng sống như thế nào? Đành rằng nàng tự biết thân phận người chiến binh trong thời chiến là mong manh. Lúc nào tính mệnh của người chiến sĩ cũng như màu cỏ cây:

Những người chinh chiến bấy lâu,
Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây.

Dĩ nhiên, nàng cũng không thể biết được ngày về của chàng. Vương Hàn, một nhà thơ đời Đường, đã từng viết:

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.
(Lương Châu Từ - Vương Hàn)

(Nếu bạn có thấy người chiến binh nằm say sưa, xin đừng cười
Vì từ xưa đến nay, trong thời chinh chiến, có mấy người đi được trở về)

Thân phận người chiến binh là thế, không biết được ngày về và sống được bao lâu:

Trải chốn nghèo, tuổi được bao nhiêu?

Nghĩ đến cái sống, cái chết của chàng, nàng cảm thấy tương lai của nàng càng trở nên bấp bênh, không còn hy vọng gì để gặp lại người yêu, người chồng. Chỉ mong sao chàng còn ngoảnh lại để tưởng nhớ đến nàng:

Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang!

Người ngoảnh lại, kẻ trông sang nhưng có thể nào gặp lại nhau không? Hay sẽ xa cách biền biệt. Càng ngoảnh lại, càng trông sang lại càng chẳng thấy, chỉ thấy một màu dâu xanh:

Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng, ý thiếp ai sầu hơn ai?

Đó mãi mãi là tâm sự của chàng và nàng khi xa cách. Thật sự, chàng và nàng đều nghĩ về nhau chứ không riêng nàng nhớ đến chàng mà thôi.

II. GIẤC MỘNG CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ.

Xuất phát từ một tâm hồn lãng mạn, người chinh phụ lúc nào cũng mơ tưởng đến người yêu ở biên cương xa xôi. Bao nhiêu xuân qua, đông lại đều không làm cho nàng quên được chàng:

Nhớ chàng trải mấy sương sao
Xuân từng đổi mới, đông nào còn dư.

Cho nên, lúc nào nàng cũng mong ước được gần gũi bên chàng, được sống chung cùng chàng để thỏa lòng nhớ mong nhưng điều đó khó thực hiện lúc này nên nàng chỉ biết mong mỏi gặp chàng trong mộng:

Duy còn hồn mộng được gần,
Đêm đêm thường đến Giang Tân tìm người.

Đôi lúc nàng cảm thấy mình còn thua cả giấc mộng:

Giận thiếp thân lại không bằng mộng,
Được gần chàng bến Lũng, thành Quan.

Chỉ trong mộng nàng mới có thể gặp chàng, mới cảm nhận được sự hiện hữu của chàng, dù chàng ở vùng cát trắng hay rêu xanh. Thực tế đã quá phũ phàng với nàng vì nàng không còn nghĩ đến việc sống chung mà chỉ mong gặp chàng trong mộng để quên đi nỗi nhớ nhung, để hồn nàng có thể tiếp cận với chàng, dù chỉ trong vài giờ vài phút để tìm lại những ngày sống hạnh phúc cùng chàng của thời thanh xuân:

Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuân

Phải, chỉ còn trong giấc mộng, nàng mới có thể gặp chàng. Như thế còn hơn là không bao giờ được gặp chàng, nói chi đến chuyện sống chung. Điều đó chứng tỏ nàng vẫn còn yêu chàng tha thiết, vẫn muốn theo chàng dù chàng ở bất cứ đâu. Chỉ mong được như cá nước sum vầy. Đối với nàng lúc này, mộng và thực không còn xa cách. Mộng là thực, thực là mộng. Làm sao có cái thực như nàng đang mong ước! Đời còn có nghĩa gì nếu không có tình yêu. Và, theo tác giả, trần gian này sẽ là cõi chết không hơn không kém. Thà chết còn hơn sống trên trần gian này mà chẳng có tình yêu. Chính vì thế, Roméo và Juliette đã chết để được yêu thương, được gần mãi bên nhau.

Cho nên, nàng lúc nào cũng mơ về một không gian trong đó chàng và nàng được sống gần gũi bên nhau, với một tình yêu chân thật, đắm đuối say mê. Tiếc thay, ngay cả trong giấc mộng, nàng vẫn không tìm thấy được chàng dù chàng chỉ còn là chiếc bóng. Đó thật sự là nỗi chua cay, xót xa vô cùng tận. Lúc này, tình yêu đã thật đổ vỡ, tiêu tan:

Khi mơ những tiếc khi tàn,
Tình trong giấc mộng, muôn vàn cũng không

Tất cả chỉ còn là khoảng trống vắng, vô vọng. càng mơ ước, càng khát vọng để từ đó dẫn đến một sự chán chường, thất vọng, chua cay sớm chiều:

Cớ sao cách trở nước non?
Khiến người thôi sớm, thôi hôm những sầu.

Chính trong khát vọng đó, chúng ta thấy nàng vẫn yêu thương và chung thủy với chàng trong những ngày xa cách. Đó là điều khiến chúng ta phải khâm phục và kính yêu người chinh phụ. Thử so sánh tình yêu của người chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn với Thúy Kiều của Nguyễn Du:

- Một bên, Tình yêu à Xa cách à lòng chung thủy (Chinh Phụ Ngâm)
- Một bên, Tình yêu à Xa cách à phụ bạc (Thúy Kiều)

Chính nàng Kiều cũng đã tự thấy hổ thẹn với chính mình và than thở:

Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!

Đó là điều hiển nhiên và rõ ràng, dù Thúy Kiều có viện dẫn bất cứ lý do nào nàng vẫn được xem là người đã phụ bạc chàng Kim. Trái lại, trong Chinh Phụ Ngâm, lúc nào người chinh phụ cũng tưởng nhớ đến người chồng ở xa xôi, giữ một lòng chung thủy với chàng. Chỉ sợ chàng có thay lòng đổi dạ không? Có còn tưởng nhớ đến nàng như trước không?

Lòng chàng biết có như lòng thiếp chăng?

Đó là sự khác biệt giữa hai tác phẩm của Đặng Trần Côn và Nguyễn Du và càng làm nổi bật giá trị tình yêu trong Chinh Phụ Ngâm. Ở đây, nàng chỉ còn biết gánh chịu những nỗi dau thương. Không riêng gì nàng, chàng cũng vẫn nhớ thương nàng:

Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng

Con người sinh ra ở đời, ai cũng muốn sống trong hạnh phúc lứa đôi, gia đình. Từ khi xuất hiện sự chia ly, nàng càng cảm thấy xót xa khi sự đau thương và cái chết của chàng đã đến gần, dù nàng vẫn biết không ai có thể thoát được. Sớm muộn ai cũng phải chết nhưng nàng đang ở tuổi thanh xuân. Tại sao cái chết đến quá sớm với chàng? Đó là điều mà nàng không thể vượt qua và nàng cũng không thể giúp chàng vượt qua được. Cho nên, nàng không muốn chấp nhận cái chết một cách dễ dàng lúc này. Chính hoàn cảnh đất nước đã tạo dựng những người chinh phụ. Họ phải nhận lãnh những nỗi buồn xa cách, nhớ mong và thương đau. Tình cảm của người chinh phụ dường như bị lãng quên. Những tiếng kêu than không còn được lắng nghe đã khiến cho tâm trạng của người chinh phụ càng trở nên bi đát. Cái nhìn của người chinh phụ chỉ còn là cái nhìn vào khoảng vắng đêm trường lạnh giá. Hình ảnh cái chết đang ám ảnh nàng, đang muốn cướp đi lẽ sống của nàng ở đời này. Nàng dường như bất lực trước mọi hoàn cảnh, trước mọi đổi thay của cuộc đời. Lúc nào nàng cũng mơ ước gặp lại chàng nhưng Nào ngờ mọi sự đã thật sự biến đổi ngay cả trong giấc mộng:

Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời.

Chính những cái bất ngờ đã làm đổi thay, đảo ngược mọi dự ước của nàng và dẫn nàng vào một mê lộ giữa cuộc đời. Nói cách khác, nàng đã sống trong sự cô đơn đang vây phủ tâm hồn nàng. Đời nàng đã thật sự đóng khung và bị giới hạn.

III. NỖI CÔ ĐƠN TRONG LÒNG NGƯỜI CHINH PHỤ.

Từ sự đổi thay về cái nhìn trước cuộc đời, nàng chỉ còn biết hướng về nội tâm để tìm lại chính mình. Tha nhân, vũ trụ không còn cần biết đến nàng và nàng càng cảm thấy xa lạ, cách biệt với không gian bên ngoài. Nàng cảm thấy cô đơn, không còn ai thân thuộc để tâm sự:

Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai?

Đâu đâu cũng chỉ thấy vắng lặng, cô đơn. Cuộc đời trở nên vô nghĩa. Chung quanh nàng là một không gian u tối, giá băng, chỉ còn lại chiếc bóng cô đơn. Thúy Kiều trước giờ ly biệt còn có người em để thổ lộ tâm sự và nhờ cậy:

Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi mới thưa.

Trái lại, người chinh phụ không còn ai để hôm sớm trò chuyện, chỉ còn biết dấu kín tâm sự của mình vào trong lòng. Đó là thân phận của người chinh phụ hay nói đúng hơn là thân phận của một kẻ cô đơn giữa trần gian. Đi giữa đời mà không còn ai đề đối thoại. Nàng đành phải chấp nhận số phận của một con người cô đơn, tuyệt vọng:

Trong cửa này, đã đành phận thiếp

Nói như Albert Camus, đời là phi lý. Thật đúng vậy, đời nàng chẳng còn chút ý nghĩa nào từ khi chàng đã thật sự xa cách. Tình yêu, hạnh phúc lứa đôi đã hoàn toàn tan vỡ. Nàng chỉ muốn kêu lên một tiếng cho thỏa lòng căm tức.

Nhưng tiếng kêu không được đáp trả. Dường như tiếng kêu quá bé nhỏ giữa một vũ trụ bao la. Nàng muốn vượt qua nhưng không đủ khả năng. Những ngọn gió lốc đã nổi lên như muốn cuốn đi cả cuộc đời nàng:

Một hàng tiêu, gió thốc ngoài hiên
Lá màn lay, ngọn gió xuyên,

Hay:

Gió tây nổi không đường hồng tiện,
Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa,

Phải chăng ngọn gió thốc là dấu hiệu của sự cuốn hút, phân hóa của cuộc đời nàng? Những lời hò hẹn chờ mong không còn có thể trở thành hiện thực được nữa và nàng chẳng còn gì để hy vọng. Hạnh phúc đã tan vỡ. Đã bao xuân qua, thu lại mà vẫn vắng bóng chàng:

Trải mấy thu, tin đi, tin lại,
Tới xuân này, tin hãy vắng không.

Chẳng còn gì để mong đợi. Tất cà đều là đơn sai, ảo tưởng. Thực tế chỉ là một nỗi đau bất tận, không thể nào so sánh:

Lời sao mười hẹn, chín thường đơn sai?

Mọi sự tái ngộ dường như không còn gì để chờ mong, dù trong tương lai gần hay xa. Đời nàng đã thật sự khép kín, vô vọng:

Hẹn cùng ta: Lũng tây nham ấy,
Sớm đã trông, nào thấy hơi tăm?

Và, nàng chỉ còn tìm lại những hình ảnh quen thuộc trong quá khứ, nhưng càng nhìn lại càng xót xa não lòng, không cầm được nước mắt:

Hương gượng đốt, hồn đà mê mải,
Gương gượng soi, lệ lại chứa chan

Nỗi buồn đau mỗi lúc càng gia tăng và nàng chỉ còn biết nhờ ngọn đèn khuya làm bạn:

Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương!

Đôi lúc, chỉ còn biết mượn chén rượu tiêu sầu:

Sầu làm rượu nhạt, muộn làm hoa ôi,

Nàng tự hỏi vì đâu mà chàng và nàng phải xa cách? Vì ai nàng phải sống lẻ loi như thế này?

Vì chàng, lệ thiếp nhỏ đôi
Vì chàng, thân thiếp lẻ loi một bề

Ngày ngày nghe tiếng chim quyên ghẹo nhau, hay nghe tiếng trống tiều khua, nàng cũng không cầm được giọt lệ:

Ca quyên ghẹo, làm rơi nước mắt,
Trống tiều khua như đốt buồng gan,

Vì ai nàng biếng cầm kim, biếng đưa thoi?

Oanh đôi thẹn dệt, bướm đôi ngại thùa.

Chỉ xót thương cho chàng ở cõi ngoài xa xăm:

Xót nỗi chàng ngoài cõi trùng quan.

Cho nên khi xa cách, nàng chẳng còn tha thiết với việc điểm phấn tô son:

Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai?

Nàng chỉ biết chịu đựng mọi đắng cay, chua xót và thương cho số kiếp của nàng mỗi khi thấy hoa thấy nguyệt:

Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
Trước hoa, dưới nguyệt, trong lòng xiết bao.

Dường như không còn ai thấu hiểu nỗi lòng của nàng trong một không gian bi thảm khi không còn hy vọng ngày trở về của chàng. Ngày ra đi, chàng đã hẹn ước sẽ trở lại khi nghe tiếng chim quyên hót nhưng nay tiếng chim đã vắng lặng:

Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu
Hỏi ngày về, ước nẻo quyên ca.
Nay quyên đã giục oanh già,
Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo.

Hết hè lại đông, vẫn không thấy bóng chàng:

Nay đào đã quyến gió đông,
Phù dung lại đã bên sông bơ phờ.

Hai chiều không gian và thời gian đã không giúp nàng tìm được lối thoát mà mỗi lúc chỉ làm nàng xót xa, sống trong đau khổ giữa cuộc đời. Nàng chấp nhận đau thương của người chinh phụ nhưng không hoảng hốt, lo sợ mà rất bình thản. Chính cái đau thương đó đã làm đẹp thêm tâm hồn người chinh phụ và càng làm nàng trở nên lãng mạn hơn. Lúc này, nàng chỉ mong tìm cách gởi đến cho chàng những tình cảm nhớ thương của nàng:

Cậy ai mà gởi tới cùng?
Đề chàng thấu hết tấm lòng tương tư.

Nỗi nhớ thương dường như không được lấp đầy, nếu không muốn nói là mỗi lúc lại càng gia tăng:

Mối sầu thêm nghìn vạn ngổn ngang

Tưởng mong cá nước sum vầy, nào ngờ cách trở nước mây đôi đàng. Nàng vẫn thường mơ ước, xem mơ ước như là những dự phóng của cuộc đời để nàng giải niềm tâm sự:

Ước gì gần gũi tấc gang,
Giải niềm cay đắng để chàng tỏ hay.

Nhưng tất cả chỉ còn là nỗi thất vọng trong một không gian bi thảm. Sẽ không còn cơ hội gặp lại chàng, dù chỉ một lần mà thôi. Mãi mãi sẽ là sự xa cách, nhớ thương… Tình yêu của nàng sẽ không còn được đền đáp dù nàng vẫn yêu chàng tha thiết. Đó là một tâm thức lãng mạn của người chinh phụ và cũng là số phận đau thương của nàng. Có thể nói tình yêu của nàng vẫn nóng bỏng, say sưa trong lòng người chinh phụ và nàng chỉ còn biết ấp ủ, dấu kín trong lòng. Lúc nào nàng cũng tưởng nhớ đến chàng, mơ về những ngày đẹp đẽ của tuổi thanh xuân, ngày mới xuất giá. Thế mà giờ đây, hoàn cảnh đã đổi thay, khiến chàng và nàng phải xa nhau. Không còn lối về để tìm lại hạnh phúc lứa đôi khi thời gian mỗi ngày một chồng chất. Nói như nhà thơ Đức HOLDERLIN (1770-1883), tình yêu chỉ còn là cái bóng. Đúng vậy, giờ đây, nàng chỉ còn theo đuổi cái bóng của một thời:

Trời hôm, tựa bóng ngẩn ngơ
Trăng khuya, nương gối, bơ phờ tóc mai.

Chỉ trong mơ mới thấy mình là một vị thần theo nhiều người đã nói, để thấy mọi mơ ước trở thành hiện thực. Nhưng trong thực tế, đó chỉ là những ảo tưởng. Lúc nào nàng cũng chỉ thấy bóng hình cô đơn đang vây phủ nàng. Tâm tư, nỗi lòng chỉ là một vực thẳm, hố sâu không còn bao giờ được lấp đầy. Và, thân phận người chinh phụ đã trở nên bi thảm hơn bao giờ hết. Tiếng kêu than, lời trách móc chỉ là những tiếng kêu vô vọng giữa một không gian vắng lặng u tối. Tình yêu của nàng như đi dần vào cõi chết. Mọi khát vọng tình yêu đã thật sự bị hủy diệt, từ sự xa cách nhớ mong. Cuộc đời nàng đã bị giới hạn trong một thảm trạng cô đơn và mọi ước mơ đã tan biến theo mây khói. Không còn một lối thoát nào có thể giúp nàng tìm gặp lại chàng. May ra còn có ngọn đèn khuya có thể an ủi nàng:

Đèn có biết, dường bằng chẳng biết

Không còn ai trả lời, chỉ có vắng lặng, cô đơn khiến nàng cảm thấy đời càng trở nên bi thảm hơn:

Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi

Đôi lúc nàng muốn tìm đến thăm chàng nhưng đường đi quá xa xôi, cách trở:

Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.

Nỗi đau thương của người chinh phụ đã đi đến chỗ cùng tột, không còn có thề so sánh. Theo nàng, thà được sống trong cõi chết còn hơn sống đau khổ giữa trần gian này. Có thể nói, dù sống trong đau thương, nàng vẫn nghĩ đến tình yêu của nàng đối với chàng. Vì thế, nàng đành châp nhận mọi đau thương để làm sáng lên ý nghĩa của TÌNH YÊU. Đó cũng là ý nghĩa đích thực trong tác phẩm CHINH PHỤ NGÂM của Đặng Trần Côn. Dù sao, nàng cũng không thể từ bỏ cuộc đời này vì còn có bổn phận đối với mẹ già và con thơ.

IV. CHỮ TÌNH TRONG CHINH PHỤ NGÂM

Chữ Tình hay Tình Yêu, trong Chinh Phụ Ngâm, thường được trình bày một cách kín đáo, không lộ liễu. Có lẽ trong thời phong kiến, xã hội chúng ta không dành một ưu đãi, một địa vị nào cho người phụ nữ (thập nữ viết vô). Bổn phận của người phụ nữ, đàn bà là làm vợ, làm mẹ, lo việc gia đình hay nuôi già dạy trẻ. Cho nên, Đặng Trần Côn không nói nhiều hay đề cập đến tình yêu một cách trực tiếp và manh dạn như chúng ta hôm nay, nhưng chúng ta thấy rõ, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, người chinh phụ vẫn nghĩ đến tình yêu của nàng. Lúc nào nàng cũng muốn sống trọn vẹn với chữ Tình.

Dù sống trong hoàn cảnh nào,nàng cũng vẫn tưởng nhớ đến chàng, mơ về hạnh phúc lứa đôi:

Như chim liền cánh, như cây liền cành,

Con chim, loài sâu còn muốn có đôi, có bạn huống gì con người:

Kìa loài sâu đôi đầu cùng sánh,
Nọ loài chim chắp cánh cùng bay

Cho nên, lúc nào nàng cũng mơ ước làm chiếc bóng theo chàng:

Xin làm bóng theo cùng chàng vậy,
Chàng đi đâu cũng thấy thiếp bên.

Tiếc thay, ông Trời không chiều lòng nàng, không đoái hoài đến thân phận nàng. Mỗi lúc, bóng chàng càng xa cách, thời gian cứ dần trôi qua và tuổi xanh vụt biến mất:

Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa,

Càng nghĩ càng thấy đời sao ngắn ngủi và thời gian đi quá nhanh như thoi đưa:

Thoi đưa ngày tháng ruỗi mau,
Người đời thắm thoát như màu xuân xanh.

Hạnh phúc lứa đôi đã thật sự tan vỡ, nàng chẳng còn hy vọng ở ngày về của chàng, cuộc đời đã mất dần ý nghĩa, càng trở nên nhạt nhẽo lạnh lùng trước cảnh vật đổi sao dời:

Thức mây đòi lúc nhạt nồng,
Chuôi sao Bắc đẩu thôi Đông lại Đoài.

Giờ đây, nàng chỉ còn nuối tiếc những ngày tháng êm đềm, đẹp đẽ đã qua và tự thấy chàng và nàng mỗi ngày một xa cách như sao Sâm, sao Thương:

Xưa sao hình ảnh chẳng rời,
Bây giờ nỡ để cách vời Sâm Thương.

Thảm trạng ly bôi đã thật sự đến với nàng. Hình ảnh sao Sâm, Thương đã bắt đầu xuất hiện trước cuộc đời nàng như báo hiệu một sự xa cách vĩnh viễn. Càng nghĩ càng thấy xót thương cho thân phận của người chinh phụ. Kìa Ả Chức, chàng Ngưu mỗi năm còn được gặp nhau một lần, còn chàng và nàng mãi mãi xa nhau, chẳng còn dịp để gặp nhau nói gì đến sống chung. Nàng chỉ còn biết than trách ông Trời:

Trách Trời sao để nhỡ nhàng,

Từ đây, thân phận của người chinh phụ đã thật sự là thân phận của một kẻ lạc loài và tiếng kêu than của nàng chẳng khác gì tiếng kêu của con chim lạc đàn, phiêu bạt ngoài sương gió:

Con chim bạt gió, lạc loài kêu sương,

Còn tiếng kêu đau thương nào bằng tiếng kêu của cánh chim bạt gió, lạc loài giữa trần gian này. Đó thật sự là tiếng kêu thảm thiết giữa một không gian bao la, vô vọng. Có thể xem đây như chiếc đinh cuối cùng đóng vào cây thập tự giá của kiếp người, vốn dĩ đã quá đau thương. Thời gian như ngưng đọng và dường như nỗi đau đã thấm sâu vào con tim của nàng. Hiện thực của tình yêu đã trở nên lạnh lùng, bi thảm, không còn mơ ước, hy vọng mà chỉ đi dần vào cõi chết. Nói như Malharmé, một nhà thơ Pháp:

Cái chết đã ngự trị trong lòng tôi”
(La mort habite en eux, au milieu de la vie)

Không còn gì để hy vọng và đời nàng chẳng còn ý nghĩa nếu không muốn nói là tâm hồn nàng dường như đã hóa đá:

Lòng này hóa đá cũng nên,
E không lệ ngọc mà lên trông lầu.

Đó cũng là nỗi đau của người chinh phụ trong tác phâm Chinh Phụ Ngâm. Giờ đây, nàng không còn gì để nói, chỉ còn biết ngâm nga chữ tình để tự an ủi mình:

Ngâm nga, mong gởi chữ Tình.

Nàng vẫn biết hạnh phúc lứa đôi không thể dễ dàng tìm kiếm trong thời chinh chiến nhưng nàng vẫn luôn mong mỏi sự đoàn tụ gia đình với sự trở lại của chàng. Đối với nàng, chỉ có hạnh phúc đời này là quan trọng hơn ở thế giới nào khác:

Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau , (câu 366)
(Mieux vaudrait vivre dans cette existence que dans la future) (4)

Ý tưởng này giống với quan niệm của “Triết học hiện sinh” trong thế kỷ thứ 20, chi muốn bàn đến hạnh phúc của con người ở đời này mà thôi. Chính vì thế, nàng vẫn luôn khát khao sự trở về của chàng để cùng sống những ngày còn lại của cuộc đời trong hạnh phúc. Điều này dường như khó thực hiện trong thời chinh chiến nhưng nàng vẫn thương nhớ chàng và cũng không quên bổn phận của nàng đối với mọi người trong gia đình. Cho nên, thi phẩm CHINH PHỤ NGÂM của Đặng Trần Côn và bản diễn nôm của bà Đoàn Thị Điểm thật là một tác phẩm có giá trị của văn học Việt Nam trong thế kỷ thứ 18.

Và, chữ TÌNH trong tác phẩm của Đặng Trần Côn đã trở nên huyền nhiệm, không có lối về và từ đây chàng và nàng thật sự chia xa.

V. KẾT LUẬN.

Tóm lại, tâm trạng của người chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm là tâm thức của con người lãng mạn, được thể hiện trong sự yêu thương và đau khổ trước mọi hoàn cảnh của cuộc đời. Dù muốn dù không, nàng vẫn chấp nhận số phận bi thương của một phụ nữ, người chinh phụ phải xa cách người yêu, người chồng trong thời chinh chiến nhưng chính sự đau thương, xa cách đó đã làm sáng lên ý nghĩa tình yêu của người chinh phụ với tấm lòng chung thủy. Trước sau, người chinh phụ vẫn theo đuổi chữ Tình như hình với bóng. Không một hoàn cảnh, một không gian nào có thể chia cách hai tâm hồn của chàng và nàng. Có thể nói thân phận người chinh phụ trong tác phẩm của Đặng Trần Côn là thân phận của một số kiếp đau thương, với bao nỗi chua xót đắng cay giữa cuộc đời. Dù sống trong sự cô đơn, nàng lúc nào cũng mơ về hạnh phúc lứa đôi trong một dự phóng, hướng về tương lai nhưng thực tế lại không chiều theo ý nàng. Dù biết đời đầy những nghịch lý nàng vẫn can đảm sống, chấp nhận số phận đau thương của mình và vẫn mơ về hạnh phúc. Tuy nhiên, theo tác giả, chỉ có hạnh phúc ở đời này là đáng quý, đáng trọng mà thôi. Và, thân phận của người chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm là thân phận của người phụ nữ biết chấp nhận mọi đau thương trước mọi hoàn cảnh của cuộc đời, với một lòng chung thủy. Điều đó càng làm cho chúng ta thán phục và yêu mến người chinh phụ hơn bao giờ hết. Sự xa cách, cô đơn không làm cho người chinh phụ yếu đuối, lo sợ trước những gian truân của cuộc đời. Trái lại nàng đã biết chọn lựa, hy sinh cuộc đời mình, không vì hạnh phúc cá nhân mà xao lãng bổn phận đối với gia đình, với mẹ già và con thơ đang cần sự săn sóc của nàng. Đồng thời, nàng còn phải lo khuyến khích chàng làm tròn trách nhiệm đối với quê hương đất nước để xứng đáng là bậc trượng phu trong xã hội. Hằng ngày, nàng vẫn mong đón nhận tin chiến thắng của chàng dẫu biết rằng ngày về của chàng là vô vọng và vẫn mơ ước được sống chung hạnh phúc với chàng trong những năm tháng còn lại của cuộc đời.

Xin cảm ơn và kính chào toàn thể quý vị.


(13/9/2008)

GHI CHÚ :

(1) Phan Huy Ích (1750-1852), một học giả Việt Nam thời bấy giờ, là tác giả của nhiều văn bản chữ Nôm, văn tế, ngôn ngữ văn tự học thuật của nước ta. Ông tên thật là Phan Dụ Am, người tỉnh Sơn Tây, đỗ tiến sĩ thời Lê mạt, làm quan triều Tây Sơn đến chức Lễ bộ Thượng Thư. Ông là chú của ông Phan Huy Chú (đã viết Lịch Triều Hiến Chương).

Trong bản “Chinh Phụ Ngâm bị khảo” ông Hoàng Xuân Hãn có sao chép lại bản “Chinh Phụ Ngâm diễn ca” của ông Phan Huy Ích với những hiệu đính của ông mà không chép lại các từ trong bản gốc. Như thế là không theo đúng nguyên tắc hiệu đính (luôn đi kèm bản gốc), nhất là vế thời gian. Ngoài ra, trong bản của ông Hoàng Xuân Hãn cũng có những sự khác biệt với bản của bà Đoàn Thị Điểm, như “Tràng An” (bản Phan Huy Ích) với “Tràng Thành” (bản Đoàn Thị Điểm)(2)

Cuối cùng, một số nhà tri thức như GS Nghiêm Toản (Đại Học Văn Khoa cũ), một học giả Việt Nam, đã lên tiếng để tạm kết thúc cuộc tranh luận này, trong khi chờ đợi những tài liệu mới xác thực hơn: “Chinh Phụ Ngâm là một khúc ngâm do bà Đoàn Thị Điểm dịch từ bản chữ Hán của Đặng Trần Côn”. Đó cũng là ý kiến của chúng tôi đã trích dẫn trong bản dịch tiếng Pháp “Chinh Phụ Ngâm”(Chanson de la Femme d’un Guerrier) do Lưu Hoài dịch (NXB Trẻ 2000 – Tái bản NXB Thanh Niên 2006)(3).

(2) Trích tài liệu của ông Nguyên Văn Dương (Đại Học Huế -1964):
Theo CPN bị khảo và CPN diễn ca của Hoàng Xuân Hãn và Phan Huy Ích:
Tràng An: Kinh đô cũ của Trung Hoa
CPN của Bà Đoàn Thị Điểm:
Tràng thành: Vạn Lý Tràng Thành hay Vạn Lý Trường Thành
(xây dựng thời Tần Thỉ Hoàng)

Trống Tràng thành lung lay bóng nguyệt
“Cổ bề thanh động Tràng thành nguyệt”

Cần nói thêm là bà Đoàn Thị Điểm trước thế hệ ông Phan Huy Ích gần nửa thế kỷ. Bản dịch của Phan Huy Ích viết vào khoảng năm 1803-1807.

(3) (trang 118-119): …Có thể có nhiều bản khác nhau xảy ra cùng thời với bản dịch của bà Đoàn Thị Điểm. Cần phải xác minh các bản dịch đó trước khi xác định ai là tác giả của bản dịch này. Trong khi chờ đợi những tài liệu chính xác, chúng ta có thể mượn ý kiến của GS Nghiêm Toản để kết luận.

Nhà thơ Lưu Hoài trình bày tại CLB Sách Xưa & Nay ngày 13/9/2008



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 04.01.2017.


trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004