Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Chùa Tiêu Bắc Ninh


Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (40)



Chùa Tiêu Sơn & Thiền sư Vạn Hạnh







C hùa Tiêu Sơn (chùa Lục Tổ) thuộc xã Tương Giang, huyện Từ Sơn- Bắc Ninh. Dân gọi là chùa Tiêu, tên chữ Thiên Tâm Tự. Chùa ngự sườn núi Tiêu, dưới chân núi in khoảng nước trời, dấu tích dòng sông Tiêu Tương cổ.

Chùa Tiêu là chốn tu Thiền huyền bí của người Việt xưa. Là một trong những trung tâm Phật giáo lớn cổ của Việt Nam. Nơi trụ trì của Quốc sư Lý Vạn Hạnh.

Linh khí đất Tiêu Sơn sinh cho nòi giống Việt một người con ưu tú. Vua Lý Công Uẩn. Tại chùa Tiêu, Thiền sư Lý Vạn Hạnh nuôi dạy Lý Công Uẩn. Người lập vương triều nhà Lý. Xây nền Văn minh Đại Việt rạng rỡ, trường tồn.

Chùa Tiêu lưu giữ ván in sách Thiền Uyển Tập Anh ghi chép về các danh tăng cổ Việt Nam có giá trị về văn học, sử học, triết học.

Ở giữa nhà bia đặt một tấm bia bằng đá nhám, kích thước 60 x 40 x 25cm, mặt chính khắc bốn chữ Lý gia linh thạch niên đại “Cảnh Thịnh nguyên niên” (1793), ghi về Lý Công Uẩn.

Hiện tại, chùa Tiêu là kiến trúc của nhiều lần trùng tu tôn tạo. Chùa gồm các tòa: Tam bảo, nhà tổ, nhà bia và các công trình phụ trợ ngự quanh bóng Cây Thị già nghìn tuổi. Tại nhà tổ có pho tượng cổ Thiền sư Lý Vạn Hạnh và ngai bài vị ghi Lý triều nhập nội Tể tướng Lý Vạn Hạnh Thiền sư thần vị.

Trong nhiều thế kỷ, chùa là nơi khắc ván in các bộ kinh lớn của nhà Phật. Vào năm đầu chống Pháp, ngôi cổ tự bỗng chốc đã biến thành đống tro tàn. May thay ở sườn núi còn nguyên vẹn 14 ngọn tháp. Là nơi yên nghỉ của các vị sư Tổ.

Năm 1992. Nhân dân công đức tiền, của dựng ngôi bảo tháp thờ vọng Lý Vạn Hạnh ở trước tòa Tam bảo. Dựng tượng Thiền sư Vạn Hạnh trên đỉnh núi Tiêu. Tượng Lý Vạn Hạnh uy linh trong thế tọa Thiền. Một tay Vạn Hạnh hoan hỷ ôm Vượn. Vượn ngước nhìn ngài an vui. Một tay Vạn Hạnh đặt lên đầu Hổ. Hổ ngoan ngoãn hiền lành, thanh thản. Tượng Vạn Hạnh cao 8m. Gương mặt Vạn Hạnh Thiền sư, linh diệu Thần Đức, tỏa hào quang, hướng về kinh thành Thăng Long- Hà Nội.

Đặc biệt, chùa còn giữ tháp mộ và nhục thân Thiền sư Như Trí, viên tịch năm Quý Mão (1723), người có công khắc in Thiền Uyển Tập Anh.

Pho tượng táng tại tháp cổ chùa Tiêu gần 300 năm. Các nghiên cứu khoa học về văn bản chữ viết xác định Thiền sư Như Trí là người có công trùng san và in nhiều bộ sách Phật học có giá trị về Phật giáo, văn học, triết học và văn hóa dân gian…

Tuổi thơ huyền bí của Lý Công Uẩn

Hơn nghìn năm qua. Người Việt liên tục đi tìm Lý Công Uẩn trong tuổi thơ huyền bí. Gen di truyền Việt và Đất Trời, Thần, Phật linh cảm ứng, đã sinh ra Lý Thái Tổ và triều đại nhà Lý rực rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam.

Chùa Tiêu đầy ắp những truyền thuyết, giai thoại kể những trang tuổi thơ huyền bí của Lý Công Uẩn.

Các sách cổ như: Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí, Lịch triều hiến chương loại chí đều ghi về chùa Tiêu và truyền thuyết Lý Công Uẩn.

Sách Việt sử lược ghi:

“Thái tổ họ Nguyễn (Lý). Người châu Cổ Pháp Lộ Bắc Giang. Mẹ là Phạm Thị, ngày 12 tháng 2 năm thứ 5 niên hiệu Thái Bình (974) sinh ra vua. Vua khi bé đã thông minh, khí độ, rộng rãi, du học ở chùa Lục Tổ, sư Vạn Hạnh trông thấy vua, lấy làm lạ nói rằng: đây là người phi thường, sau này lớn lên tất có thể cứu nước, yên dân, làm chúa thiên hạ”.

Sách Lịch triều hiến chương loại chí ghi rõ về chùa Tiêu:

“Tiêu Sơn ở xã Tiêu Sơn, trên núi có chùa Trường Liêu là chỗ trụ trì của sư Vạn Hạnh… Lý Thái Tổ đầu thai tại đây”.

Đại Việt sử ký toàn thư ghi:

"Thái tổ Hoàng đế họ Lý, tên húy là Công Uẩn người châu Cổ Pháp. Mẹ họ Phạm đi chơi chùa Tiêu Sơn cùng với người thần... Có chửa sinh vua ngày 12/2 năm Giáp Tuất, niên hiệu thái bình năm thứ năm (974) thời Đinh. Mới ba tuổi... Sư Khánh Văn nhận làm con nuôi, bé đã thông minh vẻ người tuấn tú khác thường, lúc nhỏ đi học nhà sư Vạn Hạnh thấy khen rằng "đứa bé này không phải người thường, sau này lớn lên ắt có thể giải nguy cơ, gỡ rối làm bực minh chủ trong thiên hạ".

Sách Thiên Nam Ngữ Lục chép:

“Nàng Phạm Thị lên chùa Ứng Đại giúp việc nhà sư, một hôm nằm ngủ quên ở hiên, nửa đêm sư bước qua, và trong cơn nửa tỉnh nửa say bà cảm thấy “ngỡ ai đã đến giao hoà cùng ai, âm dương thăng giáng một hồi”. Khi cái thai đã rõ ràng thì bà thưa thẳng với nhà sư: “Tôi nằm ngủ mát, tối thầy chạm chân, chẳng ngờ một tháng hay lòng có thai”.

Các nguồn tài liệu đều xác nhận chùa Tiêu Sơn, tức chùa Ứng Đại, tên đầy đủ là Ứng Thiên Tâm hay Ứng Đại Thiên Tâm cũng là chùa Lục Tổ, chùa Trường Liên ở núi Tiêu, do Thiền sư Lý Vạn Hạnh trụ trì.

Các tài liệu đều cho biết Vạn Hạnh là người ở hương Cổ Pháp, trụ trì chùa Lục Tổ ở hương Dịch Bảng trên núi Tiêu. Hương Cổ Pháp chính là- hay ít nhất hạt nhân của nó, là Diên Uẩn- Dương Lôi / Đình Sấm. Với Lý Công Uẩn, sự sinh bí ẩn. Một khi cái quan hệ ân ái đã được phủ hoa thì Lý Công Uẩn muốn được hợp pháp hoá quyền lợi nhận họ và nhận quê phải thông qua chuyện làm con nuôi Lý Khánh Văn trụ trì chùa Cổ Pháp trong hương Cổ Pháp (thuộc xóm nay là Đại Đình).

Quốc sư Vạn Hạnh mất ngày 15.5 năm Thuận Thiên thứ 9 (1018).

Dân gian lưu truyền rằng, đương thời không ít người nói sư Vạn Hạnh là thân sinh của Lý Công Uẩn. Vạn Hạnh không nói gì. Ông chỉ tay vào con hổ đất bên bàn thờ rồi nói to:

“Thân này, tâm này đã tu hành không vọng tưởng gì nữa, nhược bằng không thanh tịnh, mắc tội tà dâm thì xin Trời trừng phạt và con hổ kia vẫn là con hổ đất, vẫn còn giữ phép giới siêu thoát, thì hổ đất sẽ biến thành hổ thật”.

Kỳ lạ. Con hổ đất bỗng rùng mình biến thành hổ thật để Vạn Hạnh cưỡi.

Người đời sau đã dựa vào tích đó để tạc tượng Vạn Hạnh Thiền sư.

Trong nhà Tổ thờ bức tượng cổ linh thiêng, cao 50cm, tạc Thiền sư Vạn Hạnh- Quốc sư, trong tư thế tay để trên đầu hổ và đặt trong khán thờ.

Cuối thu 2015. Tại Cổ Lũng Tự, làng Đình Cả, thôn Nội Duệ, huyện Tiên Du- Bắc Ninh (Ngôi Chùa Tam Giáo Đồng Nguyên- Mai Thục- Việt Văn Mới). Đức ngài trụ trì chùa, giảng cho chúng tôi về bức tượng Thiền sư Vạn Hạnh tại chùa Tiêu:

Bức tượng Thiền sư Vạn Hạnh biểu hiện sức mạnh Thiền. Tâm viên ý mã, vượn kính chân. Đó là Đại Thần Lực của Thiền thời Lý tại chùa Tiêu, được hành động qua Đức vua Lý Công Uẩn.

Vượn kính chân tâm thường thanh tịnh
Hổ mừng Tam độc đã lìa xa
Sấm sét, nắng mưa, Thiền bất động
Bốn mùa chung nhất, Hoa Sen nở

Sang đời Trần. Phật hoàng Trần Nhân Tông đã phá cách. Tu Thiền hợp thế giới Tâm linh và cảm ứng Tinh thần với triết lý Thiên- Địa- Nhân hợp nhất, của người Việt là tu theo Tam giáo đồng nguyên.

Chùa Tiêu minh chứng đắc Pháp của Thiền tông

Chùa Tiêu còn được biết đến là một nơi chứa đựng nhiều bí kíp Võ học của dân tộc. Nơi đào tạo và nuôi dưỡng Lý Công Uẩn thuở niên thiếu, trước khi ông trở thành võ tướng danh chấn thiên hạ, và một bậc minh quân của muôn đời.

Hình tượng táng của Thiền sư Như Trí tư thế ngồi thẳng, mắt mở to, tay để vững chãi, chân bán già. Bức tượng táng ở tư thế ngồi tọa Thiền của thiền sư Như Trí tại chùa Tiêu, là một trong những hiện tượng kỳ lạ khó lý giải. Là minh chứng đắc Pháp của Thiền tông Việt Nam. Là lời cha ông Việt, gửi lại các thế hệ người Việt về sự tu Thiền đắc đạo của ông cha chúng ta.

Nhiều nhà nghiên cứu nhận định. Bức tượng táng của Thiền sư Như Trí đã 300 năm tồn tại trong tư thế ngồi tọa Thiền vẫn trơ như gỗ đá, minh chứng cho sự kỳ lạ của Thiền tông và khả năng phi thường của con người.

Trong bài kệ truyền pháp của chùa Tiêu Sơn, có một đoạn nói về Thiền sư Như Trí: "Minh chân như tính hải/ Kim tường phổ chiếu thông/ Chí đạo thành chính quả/ Giác ngộ chứng chân không". Theo một nhà nghiên cứu đạo Phật thì hệ phái thiền Tông lấy pháp vô tướng làm căn bản. Hành đạo mà không lưu dấu vết. Việc để lại xác thân của các Thiền sư là một cách thể hiện lý tưởng Bồ tát đạo để cho người đời sau chứng nghiệm. Có tu là có kết quả. Tu kiếp nào thì kết quả hiện tiền kiếp ấy.

  Sau khi viên tịch thân xác không hư hoại (dù không có bất cứ hóa chất gì ướp) thì gọi là chứng đắc (tu chứng thành công). Trong kinh Phật có nói rằng nếu chứng đắc thì thân xác sẽ bất hoại. Nhiều nhà sư tu hành đắc đạo, khi hỏa thiêu, thấy trong tro cốt những hạt xá lị óng ánh. 

Theo báo Gia đình và Xã hội. Sư Đàm Chính trụ trì chùa Tiêu Sơn và một số người có tuổi ở quanh vùng kể. Khoảng 60 năm trước đã biết đến sự tồn tại của pho tượng táng vô cùng quý này.

Chuyện bắt đầu từ một người lính nghịch ngợm và liều lĩnh, một hôm vào chùa, đi tha thẩn cạnh ngôi tháp cổ (nơi táng hài cốt của các vị sư trụ trì chùa), gạch vữa đã bị mưa nắng thời gian làm long lở một góc. Tò mò, anh ta rút thử vài viên gạch sứt mẻ ở mặt chính của tháp. Một pho tượng gầy guộc hiện ra trong ánh sáng mờ mờ chiếu qua lỗ thủng. Nghi hoặc, anh ta lấy que chọc thăm dò. Vết thủng hiện nay bằng đồng xu bên mắt trái của pho tượng chính là hậu quả của hành động vô ý đó. 

Sư Đàm Chính kể:

"Khi ấy tôi 17 tuổi (hiện nay 76), về quê chơi, nghe dân làng kể chuyện, nên lên xem thử. Kiễng chân ngó vào chỉ thấy từ cổ pho tượng trở lên. Vẻ mặt Ngài bình thản lắm. Sau đó, để Ngài không bị quấy rầy, hòa thượng trụ trì lúc đó là Giác Linh đã cho xây bịt vào.

Nhiều năm sau người ta mới sửng sốt vì phát hiện hai pho tượng táng đầu tiên ở VN tại chùa Đậu- Thường Tín- Hà Nội. Mấy chục năm qua nhiều quan chức, nhà khảo cổ về Tiêu Sơn tự (đào được nhiều hiện vật cổ đem trưng bày tại nhiều bảo tàng), nhưng chúng tôi và người dân quanh vùng chẳng ai nghĩ đến việc thông báo bí mật này".

Theo lời của sư Đàm Chính. 40 năm trước, về trụ trì Tiêu Sơn tự, khi thấy cây hoang mọc quá nhiều trên thân tháp, bà bèn trèo lên dọn dẹp thì thấy lộ ra tấm bia gốm có dòng chữ Hán: Hòa thượng Như Trí, viên tịch năm 1723, bia lập cùng năm (Thành Thái năm thứ tư triều Lê Dụ Tông). Giở khoa cúng ra, thấy tên sư Như Trí đứng thứ 15 trong danh sách các vị hòa thượng đã trụ trì Tiêu Sơn tự, vẫn được chùa cúng thỉnh.

Những thông tin này đã gây sự chú ý đặc biệt của đoàn công tác Thiền viện Trúc Lâm - Đà Lạt ra bắc nghiên cứu về tổ Chân Nguyên- Yên Tử. Đoàn đã tìm được nhiều tài liệu cho thấy hòa thượng Như Trí cùng thời với nhiều vị Chân Nguyên- Yên Tử (cùng dòng NHƯ).

Trong Thiền Uyển Tập Anh (một cuốn sách cổ của Phật giáo VN, không những có giá trị về mặt lịch sử Phật giáo mà còn là tập truyện ký có giá trị văn học, triết học, văn hóa dân gian, ghi lại các tông phái thiền học và sự tích các vị thiền sư nổi tiếng cuối thời Bắc thuộc đến thời Đinh- Lê và đầu thời Trần) có ghi: "Hòa thượng Thích Như Trí... cùng các thiện nam tín nữ, đã đóng góp công của cho việc khắc in lại sách này vào năm 1715."

Hiện tại Tiêu Sơn tự còn lưu giữ bốn cuốn sách của hòa thượng Như Trí. Thân thế và nghiệp tu của ông còn cần phải làm rõ, nhưng bước đầu có thể thấy, ông là một nhà sư uyên thâm, đức cao vọng trọng.

Vườn chùa Tiêu còn hàng chục ngôi tháp đặt phần mộ các hòa thượng, từ khi dựng chùa đến nay. Trong đó, biết đâu cũng có Thiền sư đắc đạo trong tượng táng.

Chùa Tiêu Thiền & Võ

Hiện tượng những bức tượng táng trong tư thế ngồi kiết già của các bậc Thiền sư Việt, luôn được nghiên cứu. Nhiều người cho rằng để đạt đến khả năng này, những bậc thiền sư phải luyện được khí công thượng thừa. Chỉ khi đó, các Thiền sư mới làm chủ được linh hồn, năng lượng và thể xác thì mới có thể viên tịch, mà thể xác vẫn ngồi trong tư thế tọa Thiền, vững chãi. Cuộc đời của Thiền sư Như Trí, đặc biệt là Thiền sư Vạn Hạnh và thuở niên thiếu của vua Lý Công Uẩn cho thấy, chùa Tiêu Sơn đã từng là Trung tâm võ học, nơi lưu giữ nhiều bí kíp võ học của dân tộc.

Người trụ trì nổi tiếng nhất chùa Tiêu Sơn là Thiền sư Vạn Hạnh. Ông là một người văn võ toàn tài, có khả năng tiên tri và vận dụng kiến thức vào cuộc sống, rất sinh động. Vạn Hạnh dạy Văn, Võ cho vua Lý Công Uẩn thuở còn thơ, truyền kiến thức Thiền và Võ, để khi trưởng thành vua Lý Công Uẩn trở thành một võ tướng xuất chúng và một vị minh quân nổi danh trong lịch sử.

Thiền sư Vạn Hạnh là đệ tử đời thứ 12 của thiền phái Diệt Hỷ. Một Thiền phái do nhà tu hành Ti ni đa lưu chi từ ấn Độ mang sang Việt Nam. Dòng phái này sản sinh nhiều tên tuổi của Thiền sư có khả năng kỳ lạ như: Pháp Hiền, Định Không, Ma Ha... Trong đó, nhiều thông tin cho rằng các vị Thiền sư thuộc Thiền phái này là những người nắm giữ bí kíp võ công thượng thừa. Đến nay, thiền sư Ti ni đa lưu chi được tôn vinh là người đã mang Khí công và Võ học của Ấn Độ vào Việt Nam, đặt nền móng cho sự phát triển của nền Võ học dân tộc.

Theo tác giả Trinh Phúc- Vũ Phương (báo Đời Sống và Pháp Luật). Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Đức Thìn, Phó trưởng ban liên lạc dòng họ Lý Việt Nam, ở Đình Bảng, Bắc Ninh nói: "Thiền sư Vạn Hạnh là một bậc thầy về võ học, người nắm giữ bí quyết luyện võ. Chùa Tiêu Sơn, nơi thiền sư Vạn Hạnh tu thiền cũng chính là nơi vị thiền sư này truyền bá kiến thức võ học và dạy võ cho vua Lý Công Uẩn lúc niên thiếu. Vua Lý Nhân Tông từng ca ngợi tài năng của thiền sư Vạn Hạnh: "Học thông tam giới ghê thay/ Rằng thầy Vạn Hạnh thi tài rất cao/ Cửa làng Cổ pháp tiếng reo/ Gậy tăng đủng đỉnh bay vào Đế đô".

Các cụ làng Đình Bảng kể. Thiền sư Vạn Hạnh sinh ra trong một gia đình đại thế tộc, nhiều đời làm quan. Gặp thời loạn thập nhị sứ quân, không biết đâu chính, đâu tà. Đành thành tâm tu luyện, đợi thời cơ xoay chuyển thế cuộc. Sư Lý Khánh Văn, sư Lý Vạn Hạnh là hai anh em ruột. Lý Khánh Văn có công nuôi dưỡng Lý Công Uẩn trứng nước. Lý Vạn Hạnh có công dạy dỗ, đào tạo và huấn luyện người "lãnh đạo" quốc gia. Họ đều là những cao tăng kiến thức uyên bác. Năm 1018 Thiền sư Vạn Hạnh không ốm đau bệnh tật gì mà mất, người thời ấy đã truyền lại rằng ngài đã hóa thân.

Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép xác nhận. Thuở còn thơ, Lý Công Uẩn (Thái tổ triều Lý) được gửi vào chùa Lục Tổ (tức chùa Tiêu) theo học Thiền Sư Vạn Hạnh.

Thiền sư Vạn Hạnh hoằng Pháp độ chúng sinh

Theo tác giả Lý Khôi Việt : (nguồnhttp://saigontimesusa.com) “Con người lịch sử của Thiền Sư Vạn Hạnh quá vĩ đại, lại bàng bạc như hư không nên các sử gia không thể nào thấy trọn, thấy hết, không những thế, nhiều sử gia đã không hề thấy. Các sử gia ghi rằng:

“Cuối triều Lê, khi Ngọa Triều chết, Vạn Hạnh cùng với triều thần, đứng đầu là Đào Cam Mộc, mưu lập Lý Công Uẩn lên ngôi”.

“Vạn Hạnh, thiền sư ở chùa Lục  Tổ, thuở nhỏ ông đã khác thường, thông hiểu ba môn học, nhưng coi công  danh phú quý lạt lẽo, năm 21 tuổi xuất  gia với Thầy Đinh Huệ, theo học thiền  ở Chùa Lục Tổ, ngoài giờ phục  vụ, học hỏi quên mệt mỏi. Sau khi tu hành đắc đạo, nói câu nào ắt thành lời sấm”.

Thiền  Sư Vạn Hạnh không phải làm vì Phật giáo. Thiền sư đã làm là vì dân tộc, vì muốn chuyển hóa xã  hội bạo trị thành một xã hội đức  trị, biến một Quốc Gia Việt Nam mong manh,  suy vi thành một Quốc Gia Việt Nam hùng cường, hưng thịnh. Thiền Sư đã ra tay hành  động, vừa là để tránh cho dân  tộc khỏi rơi vào vực thẳm, khỏi  trầm luân trong đầm lầy và vừa  để xây dựng trên đống tro tàn, gạch vụn đổ nát của thời Bắc thuộc và thời chiến tranh, loạn lạc, độc tài, bạo trị, một lâu đài Việt Nam nguy nga, tráng lệ, một sự nghiệp Việt Nam trường tồn bất tử ngàn  năm.

Từ sự giáo dục bản thân Lý Công  Uẩn, biến cậu bé khôi ngô tuấn  tú, thông minh khác thường nầy thành  một người tài đức vẹn toàn,  đồng thời thấm nhuần chánh pháp  để có thể trở thành một Quân Vương Bồ Tát, để trị quốc an dân  theo chánh pháp, đến sự khai thị nhân  tâm, chuẩn bị  sấm truyền về vai trò lịch sử tất yếu của Lý Công Uẩn…

  Không những đối với cuộc đổi ngôi năm 1009, và đối vớt tất  cả sự nghiệp vĩ đại khác mà Thiền Sư Vạn Hạnh đã làm như  dời kinh đô từ Hoa Lư ra Thăng  Long, kiến thiết kinh thành Thăng Long... Thiền  Sư đều làm với tinh thần vô kỷ, vô công, vô danh và vô hành. Giúp  dân dựng nước hay hoằng pháp  độ sanh, Thiền Sư đều làm một cách bình dị, tự nhiên như uống trà, cuốc đất, thở ra, thở vào, nằm, ngồi, đi, đứng”.

Đền Lý triều Thánh Mẫu Dương Lôi- Đất tối thiêng

Theo tác giả Chu Minh Khôi (Báo Giác Ngộ). Vào những năm cuối đời, GS. Trần Quốc Vượng đã khẳng định một bước tiến rất xa trong quá trình nghiên cứu, nhận diện quê hương nhà Lý. Những công trình nghiên cứu của GS đã phát hiện rằng, Dương Lôi, là nơi hội tụ nhiều nhất những di tích liên quan đến Lý Công Uẩn, cùng với truyền thuyết dân gian về bà Phạm Thị và Lý Công Uẩn lúc chào đời. GS phát hiện ra rằng, tại làng Đình Bảng, mặc dù đã được nghiên cứu nhiều, khảo sát nhiều nhưng hầu như không thấy di tích đáng kể nào về gia đình (cha, mẹ), dòng họ hay tuổi thơ của Lý Công Uẩn.

Dương Lôi là làng thờ Minh Đức Thái Hậu và thờ Tám vị vua nhà Lý làm Thành hoàng làng. Đền Lý triều Thánh Mẫu ở Dương Lôi tuy mới được dựng lại từ năm 1997, nhưng được dựng trên nền ngôi đền cổ bị đổ nát từ thời kháng chiến chống Pháp. Trong đền ngày nay vẫn còn giữ được bức đại tự "Cổ Pháp triệu cơ" và trước cửa đền có "Thiên đài thạch trụ" dựng năm Vĩnh Thịnh nguyên niên (1705) xác nhận: "…Cổ tích Lý triều Thiên thánh là Dương Lôi đất báu tối thiêng…".

Làng Dương Lôi (Tân Hồng, Từ Sơn, Bắc Ninh) là một địa danh gắn liền với sự ra đời của vị vua đã sáng lập nên một vương triều huy hoàng trong lịch sử, sáng lập nên kinh đô Rồng- vua Lý Thái Tổ, vị vua đầu tiên của Vương triều Lý...

Nằm bên dòng sông Tiêu Tương thơ mộng, với những thư mục cổ viết về văn hóa phi vật thể, những hiện vật khảo cổ như văn bia, bài minh trên chuông, sắc phong, câu đối, có thể coi làng Dương Lôi, quê mẹ vua Lý Thái Tổ, là mảnh đất khởi nguồn của vương triều Lý.  

Sử cũ truyền rằng sau khi lên ngôi, vua Lý Thái Tổ về thăm mộ mẹ. Ông đã cắt đất cho xây dựng Sơn lăng cấm địa, xây dựng Thái Đức trong lăng Thiên Đức thờ mẹ ở Dương Lôi. Tại đây, dấu tích của rừng Miễu, khu rừng có miếu thờ mẹ vua (Đền Miễu - Thái Miếu) vẫn còn. Vua cũng cho xây chùa Càn Nguyên trùng với tên Điện Càn Nguyên ở Kinh thành Thăng Long để tưởng nhớ mẹ mỗi khi thiết triều.

  Đại Việt sử ký toàn thư ghi:

“Mùa xuân năm 1010, vua Lý Thái Tổ xa giá về thăm quê hương Diên Uẩn, Châu Cổ Pháp, Lộ Bắc Giang và hưng cho nhân dân 2 vạn quan Tiền để xây dựng quần thể di tích ở đây, trong đó chùa Càn Nguyên được khởi xây đầu tiên.”

Tấm bia đá Tăng bi tự được bảo tồn tại Chùa Càn Nguyên ghi lại, chùa được toạ lạc ở Tây Bắc làng Dương Lôi bên tả ngạn sông Tiêu Tương, khuôn viên rộng gần 10 ngàn m2. Chùa được xây dựng theo lối nội công, ngoại quốc gồm các nhà tiền đường, thượng điện, thiên hương 2 tòa, 2 dãy hành lang 18 pho La Hán. Chùa đẹp hiếm có trong vùng. Điều này được bài chuông trong chùa Cha Lư tả ký chư sự ghi:

Càn Nguyên chuông Phật nở sen/ Kỹ xảo không nhường Đường, Tống/ Quy mô tráng lệ huy hoàng/ Văn vật nghìn xưa phát triển.

  Đó là Đền Lý Triều Thánh Mẫu (Đền Miễu). Bia Nhất thiên thạch trụ dựng năm 1719 đặt trước sân Đền đã ghi: Miếu đường xã Dương Lôi là nơi danh lam cổ tích phụng thờ Lý Triều Thiên thánh hết sức linh thiêng. 

 

(… Còn tiếp ...)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 10.12.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004