Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
“Khiêu vũ Jazz / Blue Dance”
tranh của Võ Công Liêm






QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC








    X ưa nay nhìn triết học như một khiá cạnh riêng biệt và gần như xa lạ mỗi khi nói đến. Thực ra; nguyên nghĩa của triết học là đẹp, một thứ thẩm mỹ văn chương nói chung, mở rộng và lý giải nguồn cơn tự sự của mỗi lý thuyết. Triết học mang nặng tính chất tâm sinh lý, khai thác triệt để cho một luận cứ tư tưởng của con người. Triết học không cục bộ hay đứng riêng rẽ để lý luận mà hòa nhập và hóa giải qua từng trạng huống khác nhau; khai phá những lý lẽ đã đưa ra để tìm thấy ở đó một chân lý tối thượng.

Triết học có một vài điều chung chung, phản ảnh những gì vô tư, khờ khạo hay cả tin trong những gì không còn phức tạp cho triết thuyết mà con người gắn bó vào đó với ý tưởng trừu tượng, mơ hồ và đòi hỏi chính xác những gì thuộc về khoa học; cũng có sự khác biệt quan trọng giữa triết học và mỗi mô thức của tư duy. –Philosophy has something in common with the naïve reflections in which unsophisticated people engage, and with the abstract and exact inquiries of science; there are also important differences between philosophy and each of these modes of thinking. Nhưng nhiều thể loại tương đương và không tương đương hết sức tự nhiên và biến đổi lớn lao để phù hợp những gì mà chúng ta theo đuổi hoặc đây là một sự so sánh. Một cách hay nhứt là bắt chụp lấy những gì cần thiết để nhận ra đó là triết học chính yếu nhưng ngắn gọn; như vậy chúng ta có điều kiện để so sánh thiệt hơn trong văn chương triết học ngày nay.

Giờ đây cơ bản nổi bật trong cái gọi là chung chung giữa triết học và cái sự không bắt bẻ hay phê bình phản chiếu vào cuộc đời thông thường là hai sự kiện đặc nó vào phạm vi toàn diện và vấn đề phân tích tính chất đặc thù của nó. Những nhà tư tưởng; coi như là triết gia thì đó không phải là điều chú ý tới với những gì chi tiết để giải quyết hay điều hợp mà là vấn đề thường xẩy ra trong đời người và những gì đặc vấn đề hằng ngày trong cuộc sống; không những cho đạt ý tìm hiểu hay những gì bối rối đã chiếm cứ mà gần như phủ lấp vào những gì còn lại. Đấy là lý luận dựa trên triết thuyết để mô phỏng cho thành văn, chớ chưa hẳn phải là lý thuyết đưa ra. Rứa thì sự cớ gì để gọi đó là triết gia? -Triết gia là người dựng nên một triết thuyết mà trong đó nói lên nhân tính hay một đặc cách nào khác để chứng minh sự lý cuộc đời; thế nhưng cũng chưa phải để cả quyết hay định nghĩa cho một vai trò lý luận; mà dựa trên cơ bản thực sự cho một nhận định cụ thể với một lý thuyết được thừa nhận là hợp lý nhân sinh. Có một số người cho rằng dạy triết là triết gia. Đánh giá như rứa là chưa quán xuyến đường lối thuộc về chủ nghĩa triết học. Nghĩ như rứa là sai lầm và lạc hướng chức năng, nghĩa vụ của một nhà mô phạm. Bởi; trong tư chất nhà giáo thuần chất là lý giải sự kiện hợp lý với lý thuyết chớ không dính dáng gì đến triết học hay triết gia. Chính vì vậy mà đưa triết học vào ngõ bí không còn thấy chi là thẩm mỹ của văn chương triết học. Triết gia là công việc riêng tư của họ, đối phó vấn đề với chủ đề của những gì rộng lớn, bao la và một lãnh vực tổng quan vào những gì thông minh thực hành chung (common-sense) và cũng là lý thuyết hóa qua từng thời kỳ hoặc cho vấn đề có dính dáng tới những gì độc hữu và những khó khăn đó không phải là thiết lập kỹ thuật một cách hoàn toàn. Nhưng; những nhà tư tưởng đặc vấn đề vào đó là họ muốn nói rằng trong đó có một đường lối khác biệt -phương cách tiết lộ cho một sự chấp nhận những gì có trách nhiệm đến hiểu biết mà đối với người thường dân không cho là đúng-. Hạng người đó không coi đây là kiểu cách hay đỏm dáng có trách nhiệm, bởi; họ là thứ vô thức để vắng mặt vào ngữ ngôn triết học và cũng chả phải học hỏi những gì khôn ngoan của trí tuệ để mà đối xử một cách tốt đẹp hay áp đặc vào đó cho những vấn đề cần thiết. Trong khi đó phân biệt của đối xử chỉ giành được một sự phục vụ luân lý đạo đức mà thôi. Đây chỉ là dẫn chứng và sẽ phục vụ như một lý giải về những gì là phương tiện, bởi; trách nhiệm thuộc về trí óc, chấp thuận bởi triết gia cái đó là việc làm thông thường không tỏ ra một kiểu dáng nào mà đó là ý thức nhận biết, bởi; giữa con người bình thường và triết gia là cùng chia sẻ để đi tới một tư duy đả thông và thiết thực; một yêu cầu cho vấn đề vừa hấp dẫn vừa đáng qúi, nhưng; ở đây triết gia đã phân biệt đối xử giữa những gì nêu ra, cái đó có thể không thích nghi đúng chỗ; nói cho ngay đó là lối diễn giải theo nguyên tắc là định kiến để trả lời vào những gì không thuận lợi cho việc giao tiếp giữa cuộc đời. Đường lối chủ nghĩa triết học là phân tích lý giải cái nghĩa của nó trên cương vị vô tư là những gì hết sức quan trọng và cần thiết chớ không đem triết học mà lý giải vu vơ hoặc dựa vào triết học để chứng minh là triết học; hình thức này gọi là lạm phát tư tưởng, biệt kích phá hoại tư tưởng vào giá trị thẩm mỹ triết học, bởi vậy; làm xáo trộn, rối răm một vấn đề với những gì xẩy ra sau đó đợi tới khi trả lời cụ thể. –confusing a question with its subsequently await answer; và từ cứu cánh đó là những gì trao đổi của lý trí đã bị ngăn ngừa mà đặc vào những vấn đề vô nghĩa. Triết học đóng góp ở đây là một phần tư duy rộng lớn, phổ cập đến vấn đề trong sáng chớ không trao đổi hay đàm phán những gì không còn phức tạp mà tinh tế bằng những gì chứng tỏ thế nào là rối răm của nó và sẽ có thể là một biểu lộ rõ ràng chính xác–Philosophy’s contribution here is in large part to clarify unsophisticated discussion by showing how its perplexities should be expressed. Cái đó là lối đối xử đơn giản nhạy bén nhất trong những gì đã theo đuổi để giải quyết vấn đề và cũng là cách trình diễn cho những gì có tính chất triết học. Triết học phải minh bạch và chứng tỏ.

Điều đáng chú ý là sự khác biệt giữa khoa học và triết học đặc trong một tình huống mà trước đó đã chối bỏ trong công việc đối đầu những vấn đề cho đó là chủ lực chung đối với triết học và những gì không sáng tỏ hay mù mờ là có tính chất suy đoán. Cả hai khoa học gia và triết gia là nhận thức về những gì cần thiết cho con người; trong lúc con người chỉ là người bình thường không thường xử dụng đến những thứ đó –Both the scientist and the philosopher are aware of this necessity while the man in the street is usually not. Rứa thì triết học là cái chi? -Đây là một thiết yếu lâu dài cố gắng vượt hơn cả giới hạn của khoa học trong khi đó mối liên quan cơ bản là chuẩn mực về những gì nhận thức đạt đến một lần. Phiá khoa học đến trong tính cách khẳng định; nó là sự kỳ lạ cho một giao tiếp giữa hai thể nhập vào một trong một khiá cạnh phản ảnh được nhu cầu / It is queer hybrid in the realm of reflective inquiry. Còn phiá triết gia là một đứa trẻ cởi mở ưa đưa ra thế giới kinh ngạc /The philosopher is a child in his open-eyed wonderment at the world. Một con người chuẩn mực là tìm kiếm cho một nhận định đúng đắng và những lý lẽ hợp thời mà những thứ đó phải là mới lạ và hài hòa. Còn bằng không triết học chỉ là lý luận suông, nguy hại ở chỗ không đem lợi ích cho những gì phản ảnh mà đưa tới sự ngờ vực của một thứ lý thuyết suy đoán. Là không thực.

Nhưng lịch sử của triết học; ở phương Tây hay phương Đông phải là chuẩn mực để xếp loại giá trị của nó (rate), chỉ định những gì đặc ra vấn đề (quest) có thể điều đó là cả một hành trình theo đuổi dưới dạng thức ảnh hưởng của cái này hoặc cái kia hoặc của hai điều chính yếu để chọn lựa một trong hai bằng chứng cho việc tranh luận. Đây là niềm tin cả quyết, quan tâm đến những liên can giữa nhận thức và cuộc đời. Giọng điệu triết học là đạt tới bằng một ý thức nhận biết tổng thể. Rứa thì những gì nằm trong lãnh vực hoạt động là cơ hội và biểu thị cho một tư duy quan trọng? -Câu hỏi này có tính chất buộc phải gần như thắc mắc vấn đề hơn là tiếp thu lãnh hội vấn đề. Rứa thì răng? -Triết học là nhận ra, là mở rộng, kéo dài thời gian để tồn lưu nhân thế với những gì thuộc về cuộc đời con người và kinh nghiệm –Philosophic is understanding coextensive with the whole of man’s life and experience. Nói như rứa thì triết học là một kỹ năng có ích cho xã hội một cách tối thượng và cho những gì của cuộc đời là điều tốt nhất mà có thể coi là phẩm chất cần thiết cho tinh thần? -Triết học không võ đoán hay cục bộ hay đứng riêng để nói cái lý của mình. Mục đích nêu ra là cơ bản, là nhận biết trội hẳn, một hiện hữu bao la rộng mở và nhiều thứ lợi ích khác mà tất cả có một sự tương quan để cuối cùng đi tới những gì thuộc khoa triết học; có thể đó là cái nhìn thẩm quan để đánh giá nghĩa lý của nó. Thực ra triết học khơi mào từ La / Hy vì tất cả lý luận ban sơ chưa có sự giải bày một cách cần thiết mà chỉ nhìn ngắm thưởng thức qua những gì cơ bản không phân tích được sự thật của những gì đạt được thành quả cao nhất trong kinh nghiệm của con người –rational contemplation of the ultimate truth of things was the highest attainment in human experience. Nhưng nhớ cho điều này: Hiện hữu cuộc đời là điều gì có lợi ích của nhận biết, của những gì nằm bên trong; đó là cái điều triết học gặt hái được; không nhìn thấu suốt bên trong sự lợi ích của cuộc đời / Life exists for the sake of the comprehensive insight that philosophy can achieve; not insight for the sake of life. Nói đến triết học là có một ít quan tâm đến siêu hình; một thể loại có suy xét đến việc đời hay xét đoán cho vấn đề thực hư, một ý niệm bao gồm thân tâm của con người, là những gì cho thấy hầu như thích đáng, đúng chỗ cho một thứ triết lý đạo đức và xã hội; tìm kiếm ở đó một cái gì gạn lọc để được trong bóng của ý nghĩa diễn tả và bao quát chức năng nhiệm vụ của cuộc đời đang sống và cung ứng vào đó một nhận thức hiểu biết cần thiết với những gì hiện thực hóa cho một đời sống tinh thần và thể xác được trọn vẹn. Thực hiện một nỗ lực hơn cả những gì thu hút hay hấp thụ thuộc về siêu hình. Hiện hữu nơi con người là nhận biết, không đơn thuần để tác động, dĩ nhiên; có nhiều cách để tiếp nhận. Nhưng; đây là một sự cớ để khống chế có nghĩa là vượt hơn hẳn những gì đã suy diễn mà chỉ mong đạt tới. Thành ra trong triết học cũng như ngoài triết học đều có một yêu cầu nhận biết thực trạng của vấn đề. Trong triết học là lý thuyết ngữ ngôn. Ngoài triết học là tác động thực thể của đời người. Nếu nhìn triết học trong vai trò riêng tư tức triết học không hòa nhập vào thực thể cuộc đời. Răng rứa?-Cuộc đời con người từ tư tưởng cho tới hành động đều chứa đựng tính triết lý trong đó. Triết học bác học và triết học bình dân. Trong mỗi thể loại của mỗi triết học là bao hàm qua tư duy nhận biết; một sự nhận biết hợp lý và một nhận biết từ vô thức. Hai trạng huống của tư duy là nguồn phát sinh ra triết học, một thứ thành văn và một thứ bất thành văn đều nói lên nhân tính làm người; mà trong đó chứa đựng tính cách siêu hình và trong thứ khác chứa đựng tính triết lý khoa học, chưa nói tới những mặc khác có hệ lụy đến con người và xã hội. Cái đó chúng ta gọi là thuộc về sinh lý cơ thể (physical body) là một cô lọc giản đơn của năng lực tri giác duy trì bảo vệ trong một hiện hữu tồn lưu nhân thế và đưa tới cái điều có thể tin được, một mệnh lệnh qui phục của Thượng đế. Nhưng đó không phải điều khó để lý luận cho việc đối ngẫu có liên can tới của Nietzsche mà đó là một chứng tỏ về trí tuệ của Thượng đế. Nếu chúng ta đề xuất một sự tương thích với những gì là học thuyết, giáo điều thì sự cớ đó rõ ràng hiển nhiên đối với Nietzsche; thời tất chúng ta có thể biết cái đó là một hội tụ của những gì về tri giác nhận thức riêng tư của chúng ta. Vấn đề Thượng đế và trí tuệ là những gì siêu lý để trở nên cái điều có thể nhận biết một cách đích thực mà đi vào lý thuyết thuộc dạng siêu hình, bởi; chúng ta lạc hướng cho một thứ chủ nghĩa hoài nghi mà có thể là tạm thời và một phần nghiêng về một biện pháp sửa sai để rồi quay lưng từ những phân tích hợp lý để tiến tới một thành quả có lợi ích. Nếu như mọi điều khác trong sự nhận thức và cuộc đời là một tương thức cho một biện chứng của nhân loại, cái đó cũng không phải là cơ bản chủ yếu của triết học để chỉ định những gì là đỉnh cao. Mà chỉ là một sự lôi cuốn chú ý tới những gì của nó trong một hiện hữu tồn lưu, một sự tồn lưu có chứa đựng thứ thẩm mỹ văn chương triết học khác với thứ tồn lập; lập tồn ở đây có nghĩa lập lại không sáng tạo, không nêu lên một lý lẽ đích thực; nếu xây dựng trên lãnh vực đó là đưa triết học vào con đường tồn lụi, tồn lui, và tồn loạt là những mẫu thức suy đồi và diệt chủng không làm nên cho một lý thuyết, dẫu cho lý thuyết không nằm trong lãnh vực triết học nhưng nằm trong thế thái nhân tình là một đặc thù khác của triết học và đó cũng là một sự đúc kết của nó, một hàm chứa cho chi tiết vấn đề trong mọi hoàn cảnh liên can đến con người và xã hội.

Đấy là những gì thuộc về nguyên tắc cơ bản của sự nhận thức nơi con người –of the principles of human knowledge. Cái sự đó chính là lời bày tỏ chân tình và thiết thực như dấu hiệu xác định qua nhận thức mà trong mỗi chúng ta có một cái nhìn qua sát thuộc về chủ thể nhận thức của con người. Không những ở tư duy của chúng ta mà ngay cả sự đam mê vào đó, và; cũng không phải là ý tưởng xưa cũ bởi đi qua của trí tưởng hay một hiện hữu không trí tuệ là những gì mà con người được phép xử sự như phép tắc thông thường. Tha thiết của con người là phóng ngoại để tìm thấy tự do, một thứ tự do ở bản thể. Và; tuồng như sự lý này không mấy chứng tỏ sự cớ chính đáng mà lộ ra ở đó lòng ham muốn để đạt tới kể cả lòng tham dục là hoài vọng mà con người đòi hỏi đến nó như nhu cầu cần thiết; trong đó đã tạo ra những cảm thức khác biệt hoặc quan niệm đã được in dấu vào cảm thức. Tuy nhiên; cái sự trộn lẫn hay liên hợp vào nhau thì coi như không thể là tồn lưu nhân thế hay đó chỉ là một cảm nhận bắt chụp mà thôi. Thành ra trong tương thức này không có một luận cứ nào liên đới đến nhận biết, mà tuồng như thấy được một cách hoàn toàn là không thể cho là thông minh trí tuệ mà đó là hiện hữu của những gì không nghĩ tới –For as to what is said of the absolute existence of unthinking things without any relation to there being perceived; that seems perfectly unintelligible. Từ chỗ đó; tư duy riêng tư là hiện hữu của cảm thức / being of a sensible là những gì có từ hiện hữu cảm thức bắt chụp được / being perceived. Và; cũng từ chỗ đó nó cho ta nhận ra một cách trong sáng, rõ ràng có nghĩa là dựa trên cơ bản triết học để lý luận, phân tích nội ngoại vi qua từng trạng huống tâm sinh lý con người; có thể từ yếu tố đó mà thông qua một bản chất vô tư (unthinking substance) hoặc gọi đây là cơ bản dưới một dạng thức (substratum) của những gì hiện hữu không trí tuệ là nằm trong bản chất vô tư –which things exist without the mind in an unthinking substance. Nói như rứa là có một vài điều mà người ta tạo nên một khác biệt phẩm chất giữa tiên khởi /primary và hạn thứ / secondary . Thể thức trước đây nhìn triết học là một sự khai triển hay dàn trải cho một luận cứ, đề cập đến vấn đề, chuyển động vật lý, căn cứ sự kiện, tính chất kiên trì hoặc là những gì không xuyên qua được. Nhìn ở lãnh vực đó cho ta thấy có nét đặc thù riêng biệt nhưng ở khía cạnh khác đưa triết học vào thế chủ động gần như tự quyết mà không giải thoát lý sự bên trong của nó. Mãi về sau triết học mới biểu hiện tất cả những gì thuộc phẩm chất của cảm nhận như là màu sắc, âm thanh, hương vị và những gì dự phóng. Quan niệm của triết học cho chúng ta nhận biết nó không còn là thứ trợ vào nhau hay gần giống như nhau của bất cứ điều gì hiện hữu không trí tuệ (without the mind) hoặc trong bản tính vô tư (unthinking substance) mà thường coi đó là vấn đề. Cái đó là hai quan niệm khác nhau cho hai vấn đề khác nhau. Thì đây là một chứng tỏ hiển nhiên giữa con người và triết học là hai chủ thể của hai lập trường cố vị, phát sinh một quan niệm khác nhau và một cảm thức khác nhau trong trí tuệ của chúng ta, có thể sự cớ này không có nguyên nhân; từ đó là nhận biết nguyên vị trí ngang ngửa với nhau, điều này không thể giải thích được hoặc không coi đây là một giả thuyết. Thiết nghĩ từ những điểm đó không có một lý do nào để lý giải cho tất cả vấn đề rõ ràng hơn. Sự cớ đó; cho chúng ta nghĩ đến Thượng đế là đấng tạo ra hằng hà sa số hiện hữu giữa vũ trụ; cái đó là một tổng số trọn vẹn và; phục vụ đến cái không tỏ thái độ của ý định làm nên –that God has created innumerable beings that entirely useless, and; serve to no manner of purpose.

Khác biệt của giống tính loài người thuộc về triết học /of the different species of philosophy; nghĩa là đặc một yêu cầu quan tâm tới sự hiểu biết của con người. Bởi; triết học luân lý hoặc khoa học nhân văn có lẽ là một đối xử sau hai cách tiếp cận khác đối với đời; mỗi thứ có cái giá trị độc hữu của nó và có thể là góp phần đến văn học nghệ thuật, đào tạo kiến thức và biến đổi sâu rộng về mặt xã hội và tôn giáo đối với nhân loại. Điều đáng quan tâm, chú ý tới nơi con người là sanh ra cho hành động; đấy là việc chính yếu chớ không phải độc nhất mà là một ảnh hưởng đến những gì có tính cách thẩm mỹ và truyền cảm; chính trong cảm nhận là điều hợp vào giá trị của nó, là chủ thể của vấn đề và đưa tới một ý thức trong sáng. Những biểu hiện đó làm cho chúng ta có cảm giác khác biệt giữa thói hư tật xấu(vice) và đức hạnh(virtue).

Giống tính khác của những nhà triết học là chú ý tới con người trong những gì trong sáng, thanh cao, những gì có thể cho đó là lý do chính đáng hơn là tác động của hiện hữu, nghĩa là tạo vào đó một thể thức hòa điệu để lãnh hội giữa hai trạng huống tâm lý con người và tâm lý triết học; để đi tới nhận biết tư duy. Triết học để tâm tới những gì tự nhiên nơi con người như một đối tượng chủ thể vấn để được suy xét hoặc để được nghiên cứu, hoặc để được khảo sát chặt chẻ; trong cung cách đó để tìm thấy những gì chính yếy và cần thiết; đó là cách thông thường để chúng ta nhận biết cho những gì lôi cuốn, hấp dẫn trong cảm thức của chúng ta. Với lối lý luận của triết học có thể điều này như lời trách cứ với văn chương; không những thế mà đó là cơ bản của luân lý, đạo đức, lý do chính đáng, phê nhận và có thể đó là lời lẽ chân tình: sự thật và giả dối, tánh hư và đạo hạnh, đẹp và xấu; không có một sự hiện diện nào có thể cho đó là nhân tố quyết định nguồn cơn tự sự của cái gọi là phân biệt hay cách ly. Trong khi những nhà tư tưởng cố gắng vượt mọi sự khó trong công việc, họ quyết tâm để không còn thấy khó trước vấn đề; nhưng họ tiếp tục tiến lên từ những gì đơn giản để có một cái nhìn tổng quát và rõ ràng hơn -đối với con người tất cả là những gì qúy hiếm muốn tìm tòi, học hỏi phải là một sự bươn trải, bung lên –all human curiosity must be bounded; thời mới mong đạt được yêu cầu, dù rằng triết học mang nặng tính chất trừu tượng và siêu hình nhưng nhờ vào đó mà khai phá được nguồn cơn do đâu mà có và do đâu mà ra. Vai trò của triết học là dựng nên một lý thuyết chân chính, những gì thực tiễn với đời đi từ bóng tối ra ánh sáng. Quan niệm của triết học là xây dựng lý lẽ chớ không đả phá hay phê nhận mà dựa trên lập trường để đả thông tư tưởng.

Điều đơn giản và không gì hơn đối với triết gia là vai trò đặc thù cho một khám phá tư tưởng; chung chung việc làm của họ rất ít chấp nhận giữa thế gian này, bởi; nó có một giới hạn cố hữu (đối với người bình thường / man in the street) trong lúc những gì thuộc triết học là cống hiến không một điều kiện nào cho ưu thế thuận lợi (thuộc cá nhân) mà ngay cả những lợi ích khác cho mặt xã hội; trong khi những nhà triết học sống trong một tầm xa, cách biệt từ những truyền thông đối với loài người và họ đã gói trọn tâm tư trong những gì chân chính và đúng đắng nhất và chỉ mang lại những gì của tầm xa đơn phương đi đến nhận thức. Trái lại; cái sự vô tư chất phát vẫn còn coi thường hoặc cho đó là xa vời hiện thực mà còn coi như dấu hiệu của con người cả tin của một thứ thiên tài nông cạn trong thế hệ và những quốc gia đang nở rộ khoa học tân tiến. Vì vậy; muốn đả thông tư tưởng dù tầm xa hay tầm gần nhu cầu đòi hỏi là nhận thức sự lý một cách minh định, tất đánh giá được giá trị truyền thông đúng chức năng và trách nhiệm của người đưa ra vấn đề. Quan trọng khác là lãnh hội để tiếp thu nguồn cơn tự sự cho một lý giải để nhập cuộc (tư duy) phân định được lý lẽ chính đáng của nó. Đúng nghĩa của nó là cấu thành, đạo đức trở nên thân thiết gần gũi, khoa học có thể là đúng, đạt ý, hội đoàn có lớp lang bày tỏ và một sự nhàn nhã tiêu khiển –By means of such compositions, virtue becomes amiable, science agreeable, company instructive, and retirement entertaining. Đấy là sự cớ để xây dựng vào đó một đường lối chủ nghĩa triết học; nó không có chi là ‘khó nuốt’ hay nuốt không vô hay cho đó là một lý lẽ dài dòng văn tự hay là chuỗi văn không dứt ‘tràng gian đại hải’. Do từ sự cớ chưa tìm hiểu mạch văn thâm hậu của triết học mà đưa tới những định kiến khác làm cho ý thức về tư duy trì trệ; nó có nhiều suy tưởng khác nhau, một là định kiến tư duy hai là nghĩ đến một triết lý riêng mình. Có hai loại triết lý: triết học bác học và triết học bình dân. Yếu tố đó đưa triết học vào một lý giải cá biệt hơn, bởi; đôi khi triết học đi xa cho một đả thông. Thành thử ngữ ngôn triết học đã làm lung lạc không ít của trào lưu văn chương ngày nay. Răng rứa? -Hồn của triết học là bung phá, bươn trải, hồn của triết học bình dân hay người bình thường là chứa tư duy ăn chắc mặt bền. Thí dụ: Điã cơm bác học hoa lá cành, điểm tô màu mè cho món ăn thêm ngon và đầy đủ chất lượng khác điã cơm bình dân ở ‘food-court’ đơn sơ nhưng đượm màu gia vị. Do đó chúng ta không thể vơ đũa cả nắm và hùm-bà-lằn, bầu cua cá cọp làm mất hương chất triết học. Còn bằng không thì triết học là cái chi chi (?).


Con người là một hiện hữu sáng tỏ. –Man is a reasonable being. Sáng tỏ từ mọi lãnh vực kể cả tư duy không vẩn đục, không ấm ớ hội tề, ta bà thế giới dựng chuyện không thành văn; đó là tư tưởng tạp nham. Đòi hỏi của triết học là làm nên một thứ ngữ ngôn văn chương khoa học (science linguistics); là con đường sáng phát huy từ trí tuệ của con người, coi đó như món ăn hợp khẩu vị để bồi dưỡng cho tinh thần.

Nhưng quá hạn hẹp vượt ngoài giới hạn tiếp nhận và hiểu biết của con người, thế nhưng; cũng để lại không ít những gì đặc biệt mà triết học đã tìm thấy. Con người là tiếp giao, không gì hơn cho một hiện hữu lý thuyết và bên cạnh đó con người là một hiện hữu hành động. Cả hai điều kiện trên là có từ sự sắp xếp để loại ra những gì cần có và những gì không là một sự cần thiết cho cuộc đời của con người. Nhưng trí tuệ đòi hỏi một vài điều thích nghi để hòa nhập giữa trạng huống tâm lý và không thể đứng trên vai trò phán quyết vấn đề mà tìm hiểu nguyên nhân của vấn đề; đấy là điều tự nhiên lôi cuốn để chú ý tới những gì trộn lẫn vào nhau và thể loại khác nhau của cuộc đời. Tuy nhiên; ở đây chúng ta có thể phân chia ra nhiều phần khác nhau để định lượng cho tất cả tri giác là thuộc của trí tuệ trong trường phái hoặc là những gì cùng giống với loài người (the human species) những gì nêu ra là nét đặc thù bởi mực độ khác nhau của lực (force) và hoạt động bén nhạy của trí (vivacity). Cảm tưởng là một nét khác biệt từ ý nghĩ mà ra, từ chỗ đó chúng ta tìm thấy tri giác ít sống động hơn. Mà nó thuộc về những gì ở ý thức chúng ta, trong khi chúng ta phản ảnh vào bất luận những gì thuộc cảm nhận hoặc chuyển động vào những gì chúng ta đã đề cập đến như một quan điểm của triết học; là một quan tâm đến sự nhận thức ở con người. Đó là xác minh thực sự trong một nhận thức nông cạn mà bẳng một năng lực sáng tạo của cảm thức và kinh nghiệm ./.


(ca.ab.yyc .Cuối 11/2016)


ĐỌC THÊM: -Triết học Tâm lý hay Triết lý / -Ý thức mới trong Triết học Đương đại / -Tư duy Triết gia hay Thẩm định của Triết học / -Giữa Triết học và Hư cấu / -Phương thức Loại trừ hay Tiếp nhận những gì thuộc Triết học / -Bản tính Tự nhiên về Phân tích Triết học / -Triết thuyết Hiện sinh và Thử thách Phi lý / -Triết lý Cuộc đời / -Mạn đàm Truyền thống Triết học / -Triết thuyết Hiện sinh qua Tư tưởng gia / -Triết học Nghệ thuật / -Phân tích Tâm lý thuộc Triết học Tự nhiên / -Tình yêu Triết học.

Những bài trên của võcôngliêm hiện có trên một số báo mạng và giấy khởi từ 2011 đến 2016 trong và ngoài nước hoặc liên lạc theo điạ chỉ (email) đã ghi.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Calgary Canada ngày 10.12.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004