Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






GIẢI OAN CHO KINH ĐẠI THỪA








S au khi Phật nhập diệt khoảng 100 năm, Tăng Đoàn tách ra làm hai nhóm, TRƯỞNG LÃO BỘ hay TIỂU THỪA và ĐẠI CHÚNG BỘ cũng gọi là ĐẠI THỪA. Sau đó TIỂU THỪA đổi thành PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY, cả hai bên cùng song song rao giảng Đạo Phật cho đến nay.

Không biết bên Đại Thừa giải thích lý do tách ra như thế nào, nhưng khi tra cứu lịch sử của Đạo Phật trên Internet, tôi thấy viết: “Sau khi Phật nhập diệt khoảng 100 năm, do có nhiều người muốn thay đổi một số chi tiết trong Giới Luật, và nhằm mục đích ngăn chặn không để các tư tưởng của các đạo khác thâm nhập vào giáo lý Phật Giáo nên kỳ KẾT TẬP LẦN THỨ 2 được mở ra gồm có 700 vị Tỳ Kheo. Diễn biến xảy ra là có những người không đồng ý với việc giữ nguyên Giới Luật ban đầu đã bỏ ra để tổ chức một hội nghị kết tập riêng và thành lập ĐẠI CHÚNG BỘ. Số người còn lại vẫn tiếp tục kết tập kinh điển, hình thành THƯỢNG TỌA BỘ”. (Nguồn Wikipedia)

Đọc qua ai cũng hiểu là “ĐẠI CHÚNG BỘ được hình thành bởi những người không đồng ý với việc giữ nguyên Giới Luật ban đầu khi Phật còn hiện diện đã dạy”. Việc đó được nhấn mạnh thêm qua danh xưng TIỂU THỪA đặt ra cho mình là PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY nhằm để cho bá tánh biết rằng chính nhóm THƯỢNG TỌA BỘ mới là nhóm giữ nguyên Giới Luật và Giáo Pháp của Đức Thích Ca.

Thấy rằng điều đó nếu không đúng sự thật thì rõ ràng là một sự xúc phạm đối với Đại Thừa. Hơn nữa, là người học theo Giáo Lý Đại Thừa, tôi thấy mình có trách nhiệm làm rõ. Trước hết là cho bản thân để khỏi bị hoang mang trước những lời cảnh báo: “Có thể trở thành trùng trong thân sư tử ăn thịt sư tử, trở thành nô lệ tâm linh, góp phần tàn phá Đạo Phật vì xiển dương Giáo Pháp không phải của Đức Thích Ca”…(TT. Thích Nhật Từ), là những tội được coi là đại nghịch mà người tu hành cần phải tránh. Sau đó là để sự thật được làm rõ. Nếu có oan tình thì cần được giải tỏa để người theo Đại Thừa cũng đỡ mặc cảm là ông cha mình là những người ngại giữ Giới, muốn tiết chế. Vì thế tôi đã bỏ thì giờ để tìm hiểu thực hư.

Thật ra thì không riêng Kinh ĐẠI THỪA được viết ra sau khi Phật nhập diệt, mà kể cả lần Kết Tập đầu tiên 4 tháng sau khi Phật nhập diệt, được chủ trì bởi Đức CA DIẾP, được chính Ngài ANAN - người đương thời được xem là người “Có thể thuật lại lời Phật như nước trong bình đổ ra, không thiếu một giọt” - kể lại, và được những Đệ Tử đã từng nghe chính kim khẩu của Phật thuyết xác minh. Nhưng tất cả vẫn chưa được viết thành văn bản mà còn nằm ở dạng KHẤU TRUYỀN. Mãi đến 218 năm sau Phật nhập diệt mới có Kinh được ghi lại bằng văn bản. Lúc đó thì ĐẠI CHÚNG BỘ và THƯỢNG TỌA BỘ đã chia thành 2 nhóm riêng lẻ từ hơn 100 năm rồi! Như vậy ngay từ những Bộ Kinh đầu tiên của mỗi bên đều xuất hiện sau khi Phật nhập diệt hàng 200 năm.

Nhưng theo tôi thì phía Đại Thừa có độ chính xác cao hơn, vì không chỉ là ghi nhớ, mà phía Đại Thừa mỗi thời đều có người Chứng Đắc đào tạo cho lớp kế thừa. Họ có đường truyền không gián đoạn đảm bảo cho việc lưu truyền không bị mất gốc, xin được tóm lược diễn tiến như sau:

Điều mà rất ít người thời nay biết, là việc Truyền Y Bát của Đại Thừa không phải diễn ra một cách ngẫu nhiên, mà có sự sắp xếp. Ngay từ người đầu tiên kế thừa cho Đức Thích Ca cho đến người cuối, tất cả đều tuân thủ một nguyên tắc bất di bất dịch: Người thay Phật để điều khiển Tăng Chúng, giữ gìn và phổ biến Đạo Pháp phải là người Chứng Đắc hay Thấy Tánh.

Lần theo lịch sử Đạo Phật ta thấy: Trong một lần giữa đại chúng, Đức Thích Ca đưa cành Sen lên, trong khi mọi người đều ngơ ngác duy chỉ có Ngài Ca Diếp mỉm cười nên Đức Thích Ca đã TRUYỀN Y BÁT lại cho Ngài và dặn dò việc đó sẽ tiếp tục mãi để thời nào cũng có người thay Phật cai quản Tăng Chúng và cằm nắm Chánh Pháp. (Nụ cười đó nói lên sự Chứng Đắc của Ngài Ca Diếp như thế nào, xin được phân tích trong bài kế tiếp. Nơi đây nói về sự chia rẽ của Tăng Đoàn ảnh hưởng tới Giáo Pháp của Đạo Phật và con đường tu Phật theo Đại Thừa so với những cáo buộc của phía PGNT mà thôi).

Nhưng lời Phật dặn dò chỉ được tuân giữ đến đời Tổ Thứ 3. Khoảng 100 năm sau Phật nhập diệt thì đã có một biến cố đã diễn ra: Trong lần KẾT TẬP THỨ II - Thời điểm này trùng khớp với những gì bên TIỂU THỪA cho rằng “nhóm chống đối không muốn giữ nguyên Giới Luật ban đầu đã bỏ ra để Kết Tập riêng làm thành ĐẠI CHÚNG BỘ”.

Sự thật có đúng như thế không? Ai mới là người chống đối, bỏ ra? Nguyên nhân có phải như bên Phật Giáo Nguyên Thủy đề cập? Tôi cho rằng mình đã tìm được câu trả lời tương đối hợp lý khi đối chiếu với lịch sử Truyền Thừa vì thấy nổi lên một lý do đáng ngờ nhất là: Khi Tổ thứ 3 là THƯƠNG NA HÒA TU Truyền Y Bát cho Ngài ƯU BA CÚC ĐA lên làm Tổ thứ 4. Người này là một thanh niên mới 20 tuổi, mới gia nhập Tăng Đoàn có 3 năm!

Đa phần ai cũng nghĩ tu lâu là sẽ cao. Vì thế, nhiều người không thể chấp nhận được một chàng trai trẻ mới 20 tuổi đầu, mới vào tu học có 3 năm, lại có thể lên nắm quyền điều khiển Tăng Chúng, trong đó có những vị tu rất lâu năm. Vì thế, các vị TRƯỞNG LÃO bất mãn tách ra để lập TRƯỞNG LÃO BỘ. Mối nghi càng có cơ sở hơn khi tôi thấy PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY chỉ nhìn nhận có Tổ A DIẾP và Tổ A NAN, không nhắc gì đến Tổ thứ 3 và các Tổ về sau. Do đó tôi nghĩ rằng hẳn mâu thuẫn đã xảy ra bắt đầu từ lý do đó!

Dù vậy, trừ việc các TRƯỞNG LÃO BỘ tách ra, Giáo Lý Đạo Phật không có gì bị đảo lộn, mọi thứ vẫn theo đúng trình tự, những người còn lại bên ĐẠI CHÚNG BỘ vẫn tiếp tục chấp nhận Tổ ƯU BA CÚC ĐA do Tổ trước Truyền Thừa. Đường Truyền Y BÁT vẫn được các vị tuân thủ lời dặn dò của Đức Thích Ca tiếp tục từ Đức Ca Diếp, Đức A Nan, Đức Thương Na Hòa Tu rồi Đức Ưu Ba Cúc Đa, sau đó lần xuống mãi đến Tổ Huệ Năng thứ 33, không hề bị gián đoạn. Trong khi đó, chính Trưởng Lão Bộ mới là nhóm tách ra để bắt đầu một trình tự mới. Cho rằng bên Đại Thừa bỏ ra, trong khi bên mình lúc đó mới bắt đầu có Tổ đầu tiên. Như vậy không cần giải thích, người có chút tinh ý sẽ biết nhóm nào mới là nhóm chống đối, bỏ ra để Kết Tập riêng!

Dù biến cố xảy ra từ rất lâu, nhưng ảnh hưởng vẫn kéo dài đến hiện tại và vô lượng đời sau nếu sự thật không được phô bày, vì qua những gì được cố ý viết về nguyên nhân tách ra của Tăng Đoàn làm người có suy nghĩ muốn tìm tín hướng để tu học cũng thấy ái ngại. Bên Đại Thừa cũng không lên tiếng đính chính, càng làm cho mọi người tin tưởng những gì được công khai trên mạng đúng là thật. Nhất là những đệ tử đời sau bên PGNT càng vin vào đó để gán ghép thêm một số sai phạm làm cho nhiều Phật Tử hiểu lầm mà xa lánh Đại Thừa. Vì tu hành theo đó để trở thành những người “nô lệ tâm linh”, “góp phần làm Đạo Phật suy tàn” thì ai mà chẳng sợ?! Bản thân tôi cũng không muốn quy trách nhiệm cho các vị tiền bối trong quá khứ, vì mọi việc đã qua hàng mấy ngàn năm rồi. Nhưng bởi tác hại không dừng ở đó, vì việc mỗi bên có Giáo Pháp riêng, cách thức tu hành và Quả Vị cũng khác nhau.


So sánh hai Giáo Pháp, tôi thấy:

A. Sự Chứng Đắc phía Phật Giáo Nguyên Thủy theo tôi tìm hiểu là Quả Vị A LA HÁN, tức là Ngộ được cái TÁNH KHÔNG. Quả Vị này là một giai đoạn trong Đạo Phật, chưa phải là rốt ráo. Bởi lúc ban đầu Đức Thích Ca thấy rằng con người sở dĩ KHỔ vì cho rằng “Tất cả các Pháp là THẬT CÓ. Cuộc đời là Thật. Cái Thân Tứ Đại là Thật”, nên mọi người đã vì cái Thân mà tranh giành, đấu đá với nhau làm cho cuộc sống không yên ổn. Chính vì vậy mà Ngài phải đưa ra cái GỐC của Vạn Pháp. Nói rằng bản chất nó là KHÔNG. Thấy đó, nhưng sẽ hư hoại, sẽ mất đi, gọi là VÔ THƯỜNG, và dạy các đệ tử quán sát. Sau khi quán sát, thấy đúng Vạn Pháp là KHÔNG, không trường tồn, người tu sẽ gỡ được cái CHẤP CÓ. Không còn đau khổ bởi các Pháp nữa. Người thấy CÁC PHÁP là KHÔNG sẽ dừng ở đó.

Nhưng cái Lý của Đạo Phật không kết thúc ở đó, mà sau khi gỡ được cái CHẤP CÓ, không còn bị nó vùi dập, làm khổ nữa, thì người tu lại quay sang CHẤP KHÔNG. Cho rằng mọi thứ đều là KHÔNG. Lúc đó Đức Phật mới đưa ra cái nhìn thực tế rằng: “Các Pháp dù không thật có, không tồn tại mãi, nhưng đang TẠM CÓ”. Vì vậy, người tu Phật phải gỡ cả cái CHẤP CÓ lẫn CHẤP KHÔNG, để giải quyết cái TẠM CÓ cho cuộc sống được an vui. Chính nhờ thấy được tính chất các Pháp là TẠM CÓ, nhưng Nhân Quả không mất, con người sẽ sống thực tế và bớt Tham, Sân, Si vô tình cũng ngưng tạo Nghiệp, nên kiếp sống hiện tại họ và những người chung quanh cũng được an, và kiếp sau, nếu có, càng tốt đẹp hơn.


B. Theo Đại Thừa, tất cả cái CHẤP CÓ, CHẤP KHÔNG đều do cái Tâm chủ động, nên họ tập trung để Sửa ở đó, gọi là Tu Tâm. Hình tướng, nơi ở, giới tính, độc thân hay có gia đình, trong Chùa hay ngoài Chùa, làm bất cứ ngành nghề gì cũng có thể tu được. Chứng Đắc của Đại Thừa là Đắc cái BẢN THỂ TÂM hay gọi là THẤY TÁNH, tức là nhận ra được BẢN TÁNH CHÂN THẬT CỦA MÌNH. Biết mình không phải là cái Thân Tứ Đại Giả Hợp này, mà là cái CHÂN TÁNH HIỆN THÂN TRONG ĐÓ. Nhờ ý thức như vậy mà người Chứng Đắc sống giữa trần gian mà không bị trần gian vùi dập. Chính vì vậy, con đường của ĐẠI THỪA gọi là CON ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO. Vừa thuận đời. Vừa hợp Đạo. Người tu vẫn sống trong đời. Chấp nhận cảnh đời với những Pháp đối đãi: Xấu, tốt, nghèo, giàu, thọ, yểu, sướng, khổ, vui, buồn, được, mất, hơn, thua, thương, ghét, sống, chết... Đối xử với nó mà cái Tâm mà không xao động, giống như hình ảnh mà Hoa Sen mà Đạo Phật dùng làm biểu tượng: Sinh ra, lớn lên, tàn rụi trong bùn mà không bị bùn làm cho ô nhiễm. Người tu không cần tách khỏi đời. Không trốn đời. Không khinh chê cuộc đời là ô trược, trái lại ở trong đó, tự thanh lọc cái Tâm và làm đầy đủ bổn phận một con người để trả nợ cuộc đời và đền TỨ ÂN.

Người thấy các Pháp là KHÔNG thì cho rằng phải xa rời nhà cửa thế tục, lìa xa cha mẹ. Phải ở trong Chùa, đầu tròn, áo vuông, không được tham gia việc đời, phải sống đời độc thân thì mới thanh tịnh, mới tu được. Nhưng lý thuyết là KHÔNG, mà mở mắt ra đã phải dùng toàn các Pháp CÓ: Có Phật để phụng sự. Có ta để tu hành. Có Chùa để trú ngụ. Có y phục, thực phẩm, thuốc men để dùng. Có phương tiện để di chuyển. Có bá tánh để thuyết pháp... thậm chí Có “Đắc Quả”! Chê cõi đời là ô trược, đứng bên lề, không tham gia vào bất cứ việc gì của đời, nhưng vẫn hưởng dụng thành quả của cuộc đời! Cho rằng mình tu hành, không tham gia vào việc đời, không tính toán, mua bán, lời, lỗ, hơn, thua, dùng tiền của thí chủ Cúng Dường gọi là Tịnh Tài để nuôi thân mà tu hành rồi thấy mình “Thoát thế gian”!


Nhưng chúng ta thử nghĩ: Đâu phải người Cúng Dường nào cũng dùng đồng tiền sạch sẽ được làm ra bằng chính công sức lương thiện để cúng Phật, cúng Tăng? Xét cho cùng, những người sống lương thiện, chân chính như những nhà giáo, những công nhân viên, những nhà nông, những người lao động… thì đâu có dư giả để cúng tiền một cách rộng rãi, mà người kiếm ra nhiều tiền, tài sản dư thừa có thể là những người cho vay nặng lãi, những kẻ bóc lột người khác, những người làm ăn bất chính, buôn gian bán lận… kiếm tiền một cách dễ dàng, rồi muốn nhẹ Nghiêp nên mang tiền đến Chùa cúng. Liệu những đồng tiền đó có thể gọi là Tịnh Tài, và người tu hành dùng đó để nuôi thân có khỏi chia Nghiệp? Ngay cả nhận đồng tiền cung dưỡng bằng công sức lương thiện của bá tánh trong khi mình tu chỉ để mình nhờ thì cũng đâu chỉ vì cho rằng CÁC PHÁP LÀ KHÔNG mà Thoát Nhân Quả! Hơn nữa, người cho rằng các Pháp là KHÔNG thì làm gì thấy được Nhân Quả để sợ? Mối nguy hại nằm ở đó!

Chính vì cuộc sống phải đối đầu với những khó khăn, vất vả, phải gặp gỡ, tiếp xúc với đủ thứ hạng người nên con người mới cần trang bị cho mình kiến thức của Đạo Phật để không bị phiền não nhấn chìm. Có như thế mới chứng minh sự hữu hiệu của Phật Pháp, nói lên tính cách của Hoa Sen mà Đạo Phật dùng làm biểu tượng. Do đó, người tu theo Đại Thừa thì chỉ tu sửa cái Tâm. Ai thấy rằng mình cần hình tướng để thuận lợi quảng bá Đạo Phật, vì mọi người dễ tin tưởng hơn thì cứ ở trong Chùa. Ai thấy rằng mình cần hòa mình vào xã hội, sống cuộc sống bình thường thì không cần Chùa chiền, không cần ai chu cấp, tự làm ra tiền để nuôi cái Thân mà tu hành để khỏi mắc nợ bá tánh. Như thế chẳng lẽ vì thiếu hình tướng, vì có gia đình mà họ không thể thanh lọc cái Tâm, không đạt kết quả Giải Thoát? Trong khi đó, nếu có người đầy đủ hình tướng, độc thân, ở trong Chùa, mà cái Tâm còn đầy Tham Ái thì liệu có đạt kết quả? Hơn nữa đã nấp sau cửa Chùa, mọi việc đã có người đối phó, không có gì phải phiền não thì cần gì cầu Giải Thoát? Như vậy thì phải chăng trong hoàn cảnh đó Đạo Phật đâu còn cần thiết nữa!

Về Kinh NGỤY TẠO xin được giải thích như sau: Nếu đã chấp nhận việc CHỨNG ĐẮC, TRUYỀN Y BÁT của Đạo Phật thì cũng hiểu rằng người CHỨNG ĐẮC sau cũng có sự hiểu biết ngang với người trước, vì “PHẬT TRƯỚC PHẬT SAU ĐỀU BÌNH ĐẲNG”. Đức Thích Ca là người Chứng Đắc đầu tiên. Các Tổ lần lượt là người Chứng Đắc sau. Sự hiểu biết của Tổ sau chẳng những không khác với Đức Thích Ca, mà dần dà, theo đà tiến hóa của xã hội, vị Chứng Đắc thời sau có thể sử dụng ngôn ngữ của thời đại của mình để làm cho mọi người hiểu Phật Pháp được rõ ràng hơn. Đức Thích Ca không phải là Thần Linh mà cũng không phải là người Chứng Đắc duy nhất. Con đường Ngài truyền lại, bất cứ ai hiểu, hành đúng thì cũng đều có kết quả như Ngài, vì thế gọi là có TAM THẾ PHẬT. Tức là QUÁ KHỨ đã có, HIỆN TẠI cũng có, mà TƯƠNG LAI cũng có người chứng được. Và như thế, khi người đã hành xong cho mình, đã CHỨNG ĐẮC, đã được ấn chứng bởi TỔ TRƯỚC, thì đó là PHẬT HIỆN ĐỜI, đương nhiên các Ngài có quyền giảng dạy, viết Kinh để truyền lại kinh nghiệm, hướng dẫn cho lớp người sau, đâu có gì là sai? Như vậy, dù cho Kinh được viết ra nhiều trăm năm sau khi Phật nhập diệt cũng đâu thể nói là NGỤY KINH, vì đa phần Kinh ĐẠI THỪA do các vị Tổ được Truyền Y Bát giảng rồi chư Đệ Tử viết lại như Tổ Long Thọ, Tổ Đạt Ma, Tổ Huệ Năng. Chỉ nên gọi là Ngụy Kinh đối với Kinh do những người không phải là các Tổ được Truyền Y Bát viết, vì không riêng các Tổ được Truyền Y Bát, người mọi thời tu hành thấy được ít nhiều gì cũng viết để phổ biến, nên Kinh trở thành “Thiên Kinh vạn quyển”, không thể phân biệt thật giả.

Với những người chỉ biết và chấp nhận có mỗi Đức Thích Ca là Phật thì rõ ràng không hiểu lời Thọ Ký: “Ta là Phật đã thành. Tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành!”. Việc giác ngộ không dành riêng cho ai, thì tại sao chỉ Phật trước có quyền Giác Ngộ, người đời sau thì không? Chính các vị bên PGNT cũng cho rằng “Đức Thích Ca không phải là Thần Linh, mà cũng là con người bình thường như tất cả mọi người. Nhờ tu hành mà Chứng Ngộ”. Vậy tại sao không chấp nhận các Tổ và những người như chúng ta cũng có thể Chứng Ngộ, vì “Tất cả Chúng Sinh đều có Phật Tánh”? Mà đã có Phật Tánh thì tu hành chỉ là làm công việc khơi gợi cho cái Phật Tánh đó hiển lộ ra mà thôi. Cũng như mọi người đều có tri thức, chỉ cần đi học là biết, đâu có gì huyền bí hay kinh thiên động địa? Vấn đề là cần gặp đúng người có Chánh Pháp, đã Chứng Đắc hướng dẫn cho mà thôi, vì không phải bất cứ ai khoác áo tu sĩ là Có Chánh Pháp, cũng Chứng Đắc!

Giáo Lý của Phật Giáo Nguyên Thủy đưa người hành trì đến cái KHÔNG, làm cho người tu tự mâu thuẫn khi áp dụng mà chúng ta có dịp suy nghĩ khi đọc “GÓP NHẶT CÁT ĐÁ” qua câu chuyện:

Có một Thiền Sinh tên là Yamaoka tới báo cáo với Thầy Dokuan: “Bạch thầy, Tâm, Phật, loài hữu tình rốt ráo chẳng có. Bổn tánh chân thật của mọi hiện tướng là cái Không. Không cả cái CÓ. Không có huyền ảo, không có thánh, không có phàm, không có cho và không có cái gì để thọ nhận…”. Dokuan đang hút thuốc, bèn vác cái điếu đập cho anh ta một phát đau điếng. Anh ta nổi cáu: “Tại sao thầy lại đánh tôi?”, Thiền Sư Dokuan trả lời: “Nếu mọi thứ đều là KHÔNG thì cái gì đang nổi Sân đó?”.

Tương tự như thế. Nếu mọi thứ đã là KHÔNG lẽ ra không có Phật, không có Giáo Pháp, không cả ta, mọi người và vạn pháp, không xuất gia, không tại gia, không thiện, không ác, không cả Nhân Quả… sao còn phải xây Chùa, đúc Tượng, giảng Pháp, kêu gọi mọi người Quy Y theo Phật, làm phước, tin tưởng, chờ mong vào sự hộ trì của Phật? Mọi người đều nhìn thấy, thậm chí có người đã nêu lên thắc mắc: “Tại sao những nước mà Đạo Phật là Quốc Giáo đều nghèo?”. Thật ra câu trả lời cũng không có gì khó, là bởi vì họ không biết gì đến Nhân Quả để phấn đấu, học hành, làm ăn, đưa bản thân và đất nước đi lên, mà hoàn toàn tin tưởng vào sự hộ trì của Phật. Có gì quý thì mang cúng Chùa, tôn tạo Tượng Phật để cầu xin “Được Độ”! Những quốc gia đó hình thành một giai cấp tu hành chuyên rao giảng Đạo Phật và lớp tín đồ là thí chủ, có nhiệm vụ chu cấp mọi thứ cho họ yên tâm tu hành! Tín đồ không hề được biết là việc tu hành là TỰ ĐỘ. Người tu có làm xong cho bản thân cũng không “Độ” được cho ai, vì “ai tu nấy đắc”! Một điều không thể chối cãi là những nước đó đều theo Tiểu Thừa. Theo tôi, đó cũng là điều mà các nhà lãnh đạo PGNT nên nhìn lại Giáo Pháp của mình, trong khi chính Giáo Pháp của mình cũng cho rằng “Phật không phải là Thần Linh, mà cũng là con người bình thường như tất cả chúng ta, nhờ tu hành mà Giác Ngộ”. Như vậy tại sao không hướng dẫn cho bá tánh học theo gương Phật để bản thân cũng được Giác Ngộ, Thoát Khổ, mà lại dạy cho họ tôn thờ Phật, mang vàng, bạc tôn tạo chùa chiền để cầu xin “Được Độ”? Phải chăng lý thuyết một đàng mà áp dụng một nẻo?

Đạo Phật sở dĩ có mặt ở trần gian là vì con người. Mục đích của Đạo Phật là mang lại giải pháp cho con người, trang bị cho con người kiến thức để có thể tiếp tục sống giữa dòng đời đầy phiền não mà không bị phiền não làm hại. Người tu Phật đâu có trốn đời, đâu có né pháp, mà trực diện với nó, làm tròn trách nhiệm của mình, như Sen không rời bùn mà vẫn nở hoa thanh khiết. Nhưng nhiều người đã hiểu lầm, chê cuộc đời là ô trược rồi bỏ hết, vô Chùa cho thanh tịnh. Trong khi bản thân họ có chuyên môn cao, có thể giúp xã hội, giúp cuộc đời. Tất cả chỉ vì nghe giảng về Phật quá cao siêu, có toàn quyền ban ân, giáng phúc. Nước Phật huy hoàng, tráng lệ! Họ không sáng suốt để xét: Nếu Phật là Đức Thích Ca, và Ngài đã Độ được cho bên ngoài thì trước hết là ĐỘ THA, là sai với tinh thần của Đạo Phật. Thứ nữa là nếu Phật Độ được cho thế giới thì thế giới đã không còn hỗn loạn, chiến tranh, chết chóc, tai ương nữa mà đã biến thành Niết Bàn thanh tịnh từ lâu rồi! Đàng này như ai cũng biết thế giới vẫn chiến tranh, tai ách tràn lan! Ngay cả Nước Ấn Độ nơi Phật sinh ra mà Ngài còn không “độ” được! Lỗi đó do những người chưa Chứng Đắc, không hiểu hết lý của Đạo Phật, nên đã Y NGỮ mà giảng, biến Đạo Phật từ Chánh Pháp trở thành Tà Pháp. Biến Phật trở thành Thần Linh để con người nương tựa, làm cho tín đồ sống cuộc đời rất là mâu thuẫn mà không hay. Thay vì có thể hoàn thành sứ mạng của mình, đóng góp công sức để trả ân cha mẹ, ân cuộc đời thì lại bỏ hết, vô Chùa, chỉ để ngày ngày Tụng Kinh, Niệm Phật chờ về Tây Phương Cực Lạc, làm phí phạm cả kiếp sống của biết bao nhiêu thế hệ, còn làm gánh nặng cho xã hội, vì bắt người khác phải cung phụng cho mình tu hành, trong khi lý thuyết của Đạo Phật đã nói rõ: Người tu có xong cũng đâu có độ được cho bá tánh!

Trong khi đó, Giáo Lý của Đại Thừa mang Đạo Phật vào cuộc đời. Xuất Gia hay Tại Gia đều có thể tu hành và đạt kết quả như nhau, bởi hoàn cảnh nào cũng Giải Thoát được. Điều đó hoàn toàn phù hợp với thực tế. Người tu được hướng dẫn chấp nhận cuộc sống là Tạm Có với mọi Pháp diễn ra. Đạo Phật đơn giản chỉ là ĐẠO ĐỘ KHỔ. Mục đích tu Phật chỉ là để THOÁT KHỔ, muốn thành tựu thì chỉ cần NHÌN RÕ NGUYÊN NHÂN GÂY RA NỖI KHỔ VÀ HÓA GIẢI NÓ. Chỉ có thế mà thôi. Và mỗi người phải TỰ ĐỘ, không nương tựa vào bất cứ ai, kể cả Đức Thích Ca, chỉ nương theo Giáo pháp của Ngài đã để lại mà thôi. Mỗi người tự ý thức NHÂN QUẢ để không làm điều xấu, và nhờ ý thức Nhân Quả nên hoàn toàn không có mê tín, thần quyền, không tôn thờ Chư Phật, Chư Bồ Tát để cầu xin, mà tự gây Nhân Thiện để hưởng Quả Lành.

Kết luận: Người cho Kinh ĐẠI THỪA là KINH NGỤY TẠO chứng tỏ họ không hiểu gì về việc CHỨNG ĐẮC, TRUYỀN Y BÁT của Đạo Phật. Cho rằng ĐẠI THỪA bịa ra thêm nhiều Phật để mê hoặc tín đồ lại càng sai. Vì Phật - mà Đại Thừa gọi - là để nói về cái TÁNH GIẢI THOÁT của người đã hành trì xong, không phải là Thần Linh có quyền năng cứu khổ ban vui cho ai. Phật A Di Đà cũng không phải là một Vị Phật, mà nói về “Hào Quang soi suốt không ngăn ngại”, tượng trưng cho một cái Tâm thanh tịnh, sáng suốt. Tả Tây Phương Cực Lạc có “Ao nước chứa Tám Công Đức” là dụ cho kết quả của việc hành theo Bát Chánh Đạo. Cõi Tây Phương Cực Lạc “trang hoàng bằng Bảy Báu” là nói về công đức Thí Xả Ba Nghiệp của Thân là Tham, Sân, Si và Bốn Nghiệp của Khẩu. Nói “từ đây cách Tây Phương Cực lạc 18 ngàn dặm” tượng trưng cho Thập Ác, và Bát Tà. Xả được l8 món đó gọi là về đến Tây Phương Cực Lạc. Nước Phật A Di Đà được hình thành nơi Tâm của người hành trì. Như thế làm sao chỉ cần NIỆM DANH HIỆU PHẬT A DI ĐÀ mà về đó được? Bởi đó là phương tiện được Chư Vị Giác Ngộ bày ra mục đích là để người ham thích cõi nước tốt đẹp, mong được về đó mà Cải Ác, Hành Thiện để kiếp sống được an vui mà thôi. Lời Phật dạy được ghi chép lại thành Kinh, sao không mang ra mà áp dụng, lại lấy đó để Tụng nhịp nhàng theo chuông, mõ thì ích gì? Làm gì có việc chỉ cần nhất tâm tụng Kinh, Niệm Phật rồi có ngày “Thánh Chúng” sẽ rước về Tây Phương Cực Lạc!

PHẬT chỉ có nghĩa là Giải Thoát. “Ràng buộc hay Giải Thoát cũng ở nơi cái Tâm” (Kinh Lăng Nghiêm). Tổ Đạt Ma cũng cho rằng: “Phật tại Tâm”, “Tâm chính là Phật”, “Tu Phật là tu Tâm”, “Muốn Thành Phật thì phải Độ Sinh” rồi dạy mọi người phải có Trí Huệ, phải phân biệt Chánh, Tà, Thiện, Ác, Phàm, Thánh, Phật, Chúng Sinh… rồi làm công việc giáo hóa cho những Chúng Sinh, tức tư tưởng của mình để được Giải Thoát. Bên PGNT do thấy tất cả là KHÔNG nên không cần biết đến điều gì khác, vì thế họ cũng không hiểu thế nào là Thành Phật. Họ cũng không biết rằng CHÚNG SINH mà người tu theo Đại Thừa phải “ĐỘ” để Thành Phật chỉ là những TƯ TƯỞNG chưa được thanh tịnh của chính họ. Hóa giải cho một tư tưởng xấu trở thành tốt, giải thoát cho nó, gọi là “Độ” được một Chúng Sinh Thành Phật. Do đó mà có “hằng hà sa số Phật”, vì mỗi ngày mỗi người chúng ta khởi ra biết bao nhiêu tư tưởng? Điều phục hay hóa giải cho nó được thanh tịnh thì gọi là “Cúng Dường Phật”, tức là biến một Chúng Sinh Thành Phật, vì thế, “Cúng Dường vô số ức Đức Phật rốt sau sẽ thành Phật” là mỗi người tự “Độ” cho hết những tư tưởng bất thiện cho nó được thanh tịnh. Cuối cùng người “Độ” sẽ được “Giải Thoát”, gọi là “Thành Phật”, không phải là mang hương hoa đến trước vô số tượng Phật để cúng rồi sẽ Thành Phật!

Cho nên, theo tôi, chính vì bị những đời trước ém nhẹm, không được biết ĐẠI THỪA có việc TRUYỀN Y BÁT, và người được TRUYỀN chính là PHẬT HIỆN ĐỜI, nên người theo PGNT đã cực lực phản đối Kinh ĐẠI THỪA, cho rằng Kinh Đại Thừa không phải lời của PHẬT. Trong khi đó, Lý thuyết của PGNT cũng không làm sao giải thích được tính chất tu hành theo Đạo Phật giống như HOA SEN, phù hợp với mục đích của Đạo Phật mà cũng không cần xa lánh cuộc đời như bên Đại Thừa diễn giải. Thật vậy, cuộc đời vốn dĩ đầy dẫy những đối đãi. Mọi người vẫn ở trong đó mà làm được biết bao nhiêu điều tốt đẹp. Ngay cả 32 Tướng Tốt của Phật cũng được thực hiện ở giữa cuộc đời. Hơn nữa, nếu ta chê cuộc đời là ô trược, rồi bỏ hết mọi việc, không tham gia vào việc đời làm sao đền được TỨ ÂN? PHẬT đâu có phải là Thần Linh để cho ta cầu xin gia hộ mà đền đáp ân Cha Mẹ, ân Đất Nước, ân Phật, ân Chúng Sinh? Cho rằng tu hành để phụng sự cho Phật, thì càng không đúng, vì Phật đã nhập diệt từ mấy ngàn năm rồi, chúng ta sẽ phụng sự cách nào? Kêu gọi mọi người Quy Y cho đông mà không chỉ cho họ được CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT thì ích gì cho họ, ích gì cho Đạo Phật? “Phật là Vô Tướng, do vô lượng công đức mà thành”. Ngay cả Đức Thích Ca cũng không phù hộ được cho ai, chỉ để lại Giáo Pháp cho ai tin theo thì tự hành trì để được lợi ích. Như vậy thay vì cất Chùa cho to, đúc tượng cho lớn làm tổn hao tiền bạc của bá tánh, sao không triển khai Giáo Pháp của Ngài để bá tánh được lợi lạc, vì Phật là Giải Thoát, đâu có tướng mà cần Chùa, Tượng cho hoành tráng? Cho rằng nhìn thấy đó để phát tâm. Nhưng phát tâm mà không gặp được người hiểu đúng Chánh Pháp để hướng dẫn cho thì rốt cuộc sẽ rơi vào Nhị Thừa, mê tín mà thôi.


Nói rằng những Kinh viết về sau không phải lời của Đức Thích Ca là đúng. Nhưng nói rằng không phải lời của PHẬT là sai, vì PHẬT không phải là danh xưng dành riêng cho Đức Thích Ca, mà là nói về người đã hoàn thành công việc Giải Thoát cho bản thân. Đức Thích Ca làm xong cho Ngài, nên Ngài là Phật Thích Ca. Chư Tổ về sau đã Chứng Đắc tức là cũng đã Thành Phật, nhưng vì biết rằng việc Giải Thoát hay Thành Phật đâu có gì ghê gớm, mọi người phải ngưỡng mộ, nên các ngài đâu cần quảng bá hay xưng danh hiệu? Còn nếu cho rằng ngoài Đức Thích Ca không ai có thể Thành Phật thì không khác nào phỉ báng Phật, cho rằng Giáo Pháp của Đạo Phật không hữu hiệu!


Không phải ai tu theo Đại Thừa - kể cả tu theo PGNT - đều là bậc chân tu, nắm vững mục đích, phương tiện của Đạo Phật. Trong số những người khoác áo tu sĩ không hiếm những vị tu hành chân chính mà cũng không thiếu những kẻ lợi dụng cửa Chùa. Cho nên ta không thể nhìn vào hành vi của một số để đánh giá chung cho tất cả. Nhưng việc cho rằng Đại Thừa “xiển dương Giáo Pháp không phải của Đức Thích Ca”, là có lỗi với Đấng Đạo Sư, vì họ nằm trong ĐƯỜNG TRUYỀN Y BÁT do chính Ngài thiết lập. Cho rằng Đại Thừa đưa bá tánh đến “nô lệ tâm linh” là hoàn toàn hiểu sai về đường lối của Đại Thừa. Đại Thừa không hề cổ xúy việc Thờ Phật, mà dạy TỰ ĐỘ để tự mình Thành Phật. Dạy tín đồ tin sâu NHÂN QUẢ. Bởi thế, theo tôi: không cần biết ai đó theo Thừa nào, trong Chùa hay ngoài Chùa. Chỉ cần họ Cải Ác, Hành Thiện, đi trong Bát Chánh Đạo, sống đúng theo Nhân Thừa thì không ra ngoài Phật Đạo. Trái lại, người dạy cho bá tánh tôn sùng Phật như một vị Thần Linh, Cầu An, Cầu Siêu, cúng sao, giải hạn, đổi xấu lấy tốt, không dám Tự Chủ, Tự Tin mình có khả năng Thành Phật rồi nương theo Giáo Pháp của Đạo Phật mà hành theo để được như chư vị Giác Ngộ… thì những người đó đang “chồng mê” cho bá tánh, đưa Thần Quyền xâm nhập vào Đạo Phật chân chính. Đó mới chính là “Những con trùng trong thân sư tử ăn thịt sư tử, góp phần làm cho Đạo Phật suy tàn”, dù cho họ có tu theo bất cứ Thừa nào, cũng vẫn là ngoại đạo, tà giáo vậy.


Tháng 11/2016


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 10.12.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004