Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Chùa Dâu Bắc Ninh


Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (39)



Thiền Phái Diệt Hỷ & Thiền Sư Lý, Trần







T heo Wikipedia. Tì-ni-đa-lưu-chi  (?-594) gọi là Diệt Hỉ, là Thiền sư Ấn Độ sang nước Tàu, môn đệ đắc pháp của Tam tổ Tăng Xán. Người khai sáng Thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi tại nước Việt.

Sư Diệt Hỷ người Nam Thiên Trúc (Ấn Độ). Thuộc dòng dõi Bà-la-môn. Sư thuở nhỏ đã có ý chí khác thường. Đi khắp nơi cầu học Phật pháp. Năm 574. Sư sang nước Tàu. Được yết kiến Tam tổ Tăng Xán tại núi Tư Không. Thấy cử chỉ uy nghiêm của Tổ. Sư hết lòng kính mộ. Đứng trước, vòng tay cung kính. Tổ vẫn ngồi im nhắm mắt, không nói. Sư đứng im. Suy nghĩ giây lát. Bỗng tự ngộ. Quỳ xuống lạy ba lạy. Tổ thấy vậy, gật đầu ba lần. Sư muốn theo hầu Tăng Sán. Nhưng Tổ khuyên đến phương Nam giáo hóa.

Sư Diệt Hỷ giáo hóa tại nước Việt

Sư Diệt Hỷ sang nước Việt khoảng cuối thế kỷ VI (~580). Ở chùa Pháp Vân (chùa Dâu) Bắc Ninh. Nơi đây Sư dịch bộ kinh Đại thừa phương quảng tổng trì sau khi đã dịch xong bộ Tượng đầu tinh xá kinh tại nước Tàu.

Năm 594. Trước khi tịch, Sư gọi đệ tử ruột là Pháp Hiền di chúc:

"Tâm ấn của chư Phật không có lừa dối, tròn như thái hư, không thiếu không dư, không đi không lại, không được không mất, chẳng một chẳng khác, chẳng thường chẳng đoạn, vốn không có chỗ sinh, cũng không có chỗ diệt, cũng chẳng xa lìa và cũng chẳng phải chẳng xa lìa. Vì đối với vọng duyên mà giả lập tên ấy thôi... Tổ Tăng Xán khi Ấn khả chứng minh tâm này cho ta bảo ta mau về phương Nam giáo hóa. Đã trải qua nhiều nơi nay đến đây, gặp ngươi quả là phù hợp với lời huyền ký. Vậy ngươi khéo giữ gìn, giờ đi của ta đã đến."

Nói xong. Diệt Hỷ chắp tay thị tịch. Pháp Hiền làm lễ hỏa táng, thu Xá-lợi và xây Tháp thờ cúng.

Người ta cho rằng Diệt Hỷ là Tổ Thiền tông Việt Nam. Cũng có khuynh hướng cho rằng Khương Tăng Hội là người khởi xướng dòng Thiền tại Giao Chỉ. Dòng Thiền Tì-ni-đa Lưu-chi lấy kinh Tượng đầu tinh xá làm nền tảng. Chú trọng tư tưởng Bát-nhã và tu tập Thiền quán. Phái Thiền này, ảnh hưởng rất lớn đến các vua Lý. Nhất là Lý Thái Tông.

Hệ thống truyền thừa của Thiền phái Diệt Hỷ không được lưu lại đầy đủ. Sử sách ghi không rõ. Khi tỏ khi mờ. Truyền được 19 thế hệ. Sư Diệt Hỷ là Tổ. Dòng Thiền Diệt Hỷ chấm dứt khi Thiền sư Y Sơn mất năm 1213.

19 thế hệ Thiền sư của Thiền phái Diệt Hỷ đã để lại những kỳ tích như: Tuyệt kỹ tàng hình của Thiền sư cổ Việt Nam. Khả năng Tiên tri. Thông ba cõi… Những điều kỳ diệu ấy, dạt dào trong dòng chảy Tâm linh Việt. Không bao giờ chấm dứt.

Thiền phái Diệt Hỷ với Võ học Việt

Hiện nay, giới võ học Việt ghi nhận vai trò truyền bá võ học cổ truyền Ấn Độ đến Việt Nam là của các vị Thiền sư từ Tây Trúc. Mà tên tuổi của Thiền sư Ti- ni- đa- lưu- chi được nhiều võ sư tôn vinh là người mang đến một luồng gió mới với võ học Việt.

Giáo sư Vũ Đức- trưởng môn phái Võ Lâm Việt Nam, từng công bố trong một công trình nghiên cứu về lịch sử Võ học cổ truyền:

“Vào thế kỷ II, song song với việc du nhập các tôn giáo Phật, Khổng, Lão vào Việt Nam, ngành võ học từ Ấn Độ và Trung Hoa cũng được các vị Thiền sư, đạo sĩ mang đến qua hai con đường thủy và đường bộ.

Nhưng mãi đến năm 580, thế kỷ thứ VI. Thiền sư Ti-ni-đa-lưu-chi từ Tây Trúc đã chính thức mang Thiền tông truyền bá vào nước ta, tại chùa Pháp Vân (nay là Chùa Dâu- Bắc Ninh), truyền được 19 đời (580 – 1216). Năm 820. Vô Ngôn Thông, sư Trung Hoa đến chùa Kiến Sơ (nay là thị xã Từ Sơn- Bắc Ninh) lập nên Thiền phái thứ hai, truyền được 14 đời (820- 1221). Kể từ đó, các môn võ lâm cổ truyền từ Ấn Độ cũng như các môn Thiếu Lâm Nam và Bắc phái của ngài Bồ Đề Đạt Ma từ Trung Hoa bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam”.

Thiền Uyển Tập Anh sách cổ nhất viết về Phật giáo Việt Nam cho rằng, Thiền sư Ti-ni-đa-lưu-chi đến chùa Pháp Vân truyền pháp vào năm 580. Tại đây, ông đã nhận Pháp Hiền (người Long Biên, Hà Nội) làm đệ tử chân truyền. Tương truyền Pháp Hiền cao 7 thước 3 tấc.

Sau khi nhận được ý chỉ của Thiền sư Ti-ni-đa-lưu- chi. Pháp Hiền vào rừng thẳm, chọn chốn thanh tịnh để tu luyện. “Mỗi lần Pháp Hiền đọc kinh thì chim bay đến chầu, dã thú vây quanh. Tên tuổi của Pháp Hiền vang danh khắp nơi, đệ tử theo học không sao kể xiết, Thiền học nước Nam từ đó hưng thịnh”.

Tọa Thiền cũng là tu luyện Võ công

Võ sư Nguyễn Văn Thắng- trưởng môn phái Thăng Long Võ Đạo khẳng định: “Võ học chính là phương tiện để tiếp cận Tâm linh, hỗ trợ cho Tâm linh. Do đó, các Thiền sư giỏi về võ thuật không có điều gì bất ngờ”.

Võ sư Nguyễn Văn Thắng lý giải. Theo quan niệm phương Đông. Con người gồm ba thể. Thể Vật lý. Thể Năng lượng. Thể Tâm linh. Quan trọng nhất, luyện võ để mở Thể Vật lý mạnh cơ bắp, tức là Lực. Lực phải có Kinh. Kinh tức là Khí. Khí phải có qua Khí công. Thể Tâm linh làm chủ cơ thể con người.

Vì vậy, muốn giỏi Võ. Đa số tất cả các thầy võ danh tiếng đều ngồi Thiền (để làm chủ được Thể Tâm linh). Ngược lại, thầy có Tâm linh ngày xưa đều phải dùng đến Khí công hoặc Yoga luyện Võ. Nhằm tiếp cận và làm chủ Thể Tâm linh.

Tuyệt kỹ tàng hình của thiền sư Ma Ha

Theo tác giả Trinh Phúc (ĐS&PL).

Lần giở những trang sử ghi lại tài năng xuất chúng của những Thiền sư trong môn phái Diệt Hỷ. Những tên tuổi của các Thiền sư như: Pháp Hiền, Vạn Hạnh, Ma Ha, Đạo Hạnh… cũng đủ nói lên được vai trò của các vị chân sư đối với lịch sử dân tộc. Họ không chỉ là những nhà sư đức độ, mà còn là những người đóng góp lớn đối với sự phát triển của văn hoá dân tộc. Họ còn là những vị quân sư nức danh, hiến kế sách trị quốc cho nhiều đời vua, xây dựng nền thái bình thịnh trị của dân tộc dưới thời Tiền Lê, Lý, Trần.

Riêng về Võ học. Nay vẫn lưu truyền nhiều giai thoại về tài năng võ học bậc thầy của các Thiền sư. Trong đó, không ít người đạt đến ngưỡng giới cao nhất của Võ học với những chiêu thức vi diệu, thân thủ biến hoá. Trong số những bậc Thiền sư mà tài năng võ học được ghi nhận thì Thiền sư Ma Ha. Đệ tử đời thứ 11 của Thiền phái Diệt Hỷ được lưu truyền là người có khả năng tàng hình phi phàm. Người đời sau. Không ai đạt đến ngưỡng giới trên.

Theo sách Thiền Uyển Tập Anh thiền sư Ma Ha là người gốc Chiêm Thành. Thuở nhỏ bản tính thông minh, năm 24 tuổi nối nghiệp cha, đi tu. Ông là đệ tử đời thứ 11 của Thiền phái Diệt Hỷ, người có khả năng tàng hình. Tương truyền, vua Lê Đại Hành vì nghe danh của thiền sư Ma Ha, mời thiền sư vào triều hỏi việc.

Thiền sư không thuận ý. Vua hai lần cho người đến mời nhưng không được. Lần thứ ba, Thiền sư Ma Ha đành phải vào chầu vua. Khi vua hỏi, thiền sư Ma Ha tự xưng mình là “cuồng tăng tu tại chùa Quán Âm”. Câu trả lời ngông cuồng của thiền sư Ma Ha khiến vua cả giận. Sai người bắt giam Thiền sư vào chùa Quán Tri (Ninh Bình).

Biết trước việc Thiền sư Ma Ha là người có võ học uyên thâm, tài năng ảo diệu, nên vua sai khoá cửa ngục cẩn thận, bố trí đông lính canh gác nghiêm ngặt nhiều tầng, để sư không thể thoát thân. Tưởng rằng, sư Ma Ha vì khinh vua nên phải chịu kết cục bi thảm, cuộc đời bị giam trong ngục tù. Nhưng, qua một đêm, khi trời sang, mọi người đã thấy thiền sư Ma Ha đang ngồi ở phòng Tăng. Trong khi cửa ngục vẫn bị khoá. Lính canh không thể hiểu tại sao sư Ma Ha thoát ra ngoài. Họ chạy vào phòng giam. Cửa vẫn khoá. Sự việc khiến vua tin Thiền sư Ma Ha có phép lạ. Đành thả sư Ma Ha.

Tuyệt kỹ kungfu của Thiền sư Đạo Hạnh

Thiền sư Đạo Hạnh (? – 1117), tu tại chùa Thiên Trúc, núi Phật Tích (chùa Thầy, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội) nổi tiếng với khả năng phóng gậy ngược dòng nước chảy xiết, nhưng gậy vẫn lao nhanh vùn vụt như mũi tên bắn vào không trung.

Tương truyền, từ nhỏ ngài vốn thông minh, tính tình phóng khoáng, thích giao du kết bạn. Lớn lên, gia đình không may gặp họa, cha ngài bị đạo sĩ Đại Điên (ở Dịch Vọng, Từ Liêm, Hà Nội) đánh chết, vứt xác xuống sông Tô Lịch. Đạo Hạnh vô cùng căm giận, tự thề với bản thân, tìm mọi cách phải giết đạo sĩ trả thù. Lúc đầu ngài tìm cách đánh lén. Nhưng giữa chừng có “thần nhân” can. Bởi Đạo Hạnh chưa đủ sức.

Sau đó, Thiền sư Đạo Hạnh quyết chí đi sang Ấn Độ học phép thuật. Giữa chừng vì đường sá khó khăn nên đành trở về. Ngài lên chùa Phật Tích (huyện Tiên Du- Bắc Ninh) sống ẩn dật tu luyện, hàng ngày chuyên tụng chú Đại bi Tâm đà la ni. Sau thời gian tu luyện, khi năng lực đã đạt đến độ uyên thâm, Thiền sư Đạo Hạnh đi trả thù kẻ đã giết cha mình.

Sách Thiền Uyển Tập Anh chép:

“Sư biết đạo pháp của mình đã thành, có thể trả thù cho cha nên mới đến bến Quyết, cầm gậy thử ném xuống dòng nước xiết, gậy trôi ngược dòng như con rồng rồi đến cầu Tây Dương (khu vực Cầu Giấy, Hà Nội) dừng lại. Sư thấy thế mừng mà nói rằng: “Pháp ta thắng rồi”. Sau đó đi thẳng đến chỗ Đại Điên. Đại Điên thấy sư đến liền nói rằng, người không nhớ ngày trước sao- có ý doạ Đạo Hạnh. Đạo Hạnh ngửa mặt lên trời, xem như không nghe thấy gì, nhân đó đánh mạnh. Đại Điên bị đòn. Sau đó lâm bệnh mà chết”.

Sách Lĩnh Nam chích quái, viết về Thiền sư Đạo Hạnh: “Ngài có khả năng đi trên mặt nước, bay trong không trung, hàng rồng, phục cọp, lên trời, rút đất, muôn quái nghìn kỳ, xuất quỷ nhập thần, chẳng lường hết được màu nhiệm”.

Sách Thiền Uyển Tập Anh chép Thiền sư Minh Không cũng có nhiều phép lạ như Thiền sư Đạo Hạnh.

Vạn Hạnh Thiền sư nuôi dạy vua Lý Công Uẩn

Theo Wikipedia. Vạn Hạnh (?- ) là một Thiền sư người Việt có nhiều đóng góp, mở ra triều đại nhà Lý. Một trong những triều đại Đẹp nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông là cố vấn của vua Lê Đại Hành, là người thầy của Lý Công Uẩn. Dạy Lý Công Uẩn từ tuổi thơ, đến trước và sau khi triều Lý thành lập. Vạn Hạnh là một nhà tiên tri.

Thiền sư họ Nguyễn, quê ở châu Cổ Pháp (nay thuộc thị xã Từ Sơn- Bắc Ninh), từ thuở nhỏ đã thông minh, học thông Nho, Lão, Phật và nghiên cứu hàng trăm bộ luận Phật giáo. Năm 21 tuổi ông xuất gia, tu học với bạn là Thiền sư Ðịnh Tuệ, dưới sự chỉ dẫn của Thiền sư Thiền Ông, tại chùa Lục Tổ. Sau khi Thiền Ông mất. Vạn Hạnh bắt đầu chuyên thực tập Tổng Trì Tam Ma Ðịa. Nên sau này, Vạn Hạnh nói lời gì đều được thiên hạ cho là sấm. Vua Lê Ðại Hành rất tôn kính ông. Năm 980. Hầu Nhân Bảo nhà Tống mang quân sang đóng ở núi Cương Giáp Lãng. Xâm chiếm nước Đại Cồ Việt. Lê Đại Hành triệu Vạn Hạnh vào hỏi, nếu đánh thì thắng hay bại. Vạn Hạnh đáp: Trong vòng từ ba đến bảy ngày giặc sẽ rút lui.

Trong cuộc vận động Lý Công Uẩn lên ngôi. Vạn Hạnh đã tác động dư luận bằng sấm truyền, rất hữu hiệu. Sách Thiền Uyển Tập Anh ghi nhận, những loại sấm truyền và tiên tri Vạn Hạnh dùng, không kể hết.

Đại Việt Sử ký toàn thư ghi bài Sấm- Vĩ của Vạn Hạnh:

Dịch:

Gốc cây thăm thẳm
Ngọn cây xanh xanh
Cây hoa đào rụng
Mười tám hạt thành
Cành đông xuống đất
Cành khác lại sinh
Đông mặt trời mọc
Tây sao ẩn hình
Sáu bảy năm nữa
Thiên hạ Thái bình

Ngày Rằm tháng Năm năm Thuận Thiên thứ 9 (tức 30- 6- 1018), khi công hạnh đã viên mãn. Thiền sư Vạn Hạnh gọi đệ tử dặn dò, đọc bài kệ rồi thị tịch. Vua Lý Thái Tổ và tất cả triều thần nhà Lý đến làm lễ Trà tỳ, thỉnh Xá lợi của ngài về thờ tại chùa Tiêu Sơn (chùa Lục Tổ- Bắc Ninh).

Bài kệ thị tịch của sư Vạn Hạnh là Tuyên ngôn về triết lý nhân sinh thời Lý. Bùng nổ sức mạnh của Thiền thời Lý:

Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cối xanh tươi thu não nùng
Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi
Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông.

Vạn Hạnh Thiền sư đến cõi trần  

Theo tác giả Chí Tín (Website Thiên Lý Bửu Tòa). Sử liệu về Ngài Vạn Hạnh Thiền Sư rất hiếm, phần nhiều căn cứ vào quyển Đại Nam Thiền Uyển Đăng Lục là tác phẩm đầu nhà Trần được trường Bác Cố Viễn Đông kiểm nhận là chính xác. Theo đó thì Vạn Hạnh Thiền Sư họ Nguyễn, tên thật và năm sinh không được ghi nhận.

Ngài sinh trưởng trong một gia đình Phật giáo. Thuở nhỏ sư thông minh khác thường học thông Tam Tạng kinh là Kinh, Luật, Luận của Phật giáo Nguyên thủy và cũng đã tham cứu đến khoa Bách Luận là căn bản của Phật giáo Đại Thừa do Bồ Tát Long Thọ chủ trương. Sư cũng thông giáo lý của Tam giáo Đạo là Nho, Thích, Lão. Tam giáo rất thông dụng vào đời Lý, Trần, cũng là cơ bản của nền văn minh cường thịnh nhất, có nhiều chiến công oanh liệt nhất của hai đời Lý, Trần trong lịch sử Việt Nam.

Tài cao học rộng, nhưng xem thường phú quí vinh hoa. Sư xuất gia thờ Thiền Ông làm Thầy ở chùa Lục Tổ (chùa Tiêu) tại làng Đình Bảng huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ngoài giờ phục vụ Chùa, sư học hỏi không chán và chuyên luyện về khoa Tổng Trì Tam Muội là Pháp Môn chỉ quán Thiền Định cho đến chỗ đại định cao thâm. Sư đã dày công khổ luyện và đắc quả hiện tiền. Vì thế Sư mới thông suốt, biết trước mọi biến cố nước nhà, và việc cá nhân mình. Giúp hai vua Lê Đại Hành và Lý Công Uẩn an dân trị nước được thanh bình, hạnh phúc. Sư đã dạy dỗ và góp công đưa Lý Công Uẩn lên ngôi Lý Thái Tổ.

Trong thời gian vua Lê Ngọa Triều làm những điều tàn bạo ác độc, động lòng Trời, nên có hiện nhiều điềm lạ các nơi. Sư phân tích biện giải và cho biết nhà Lê sắp đổ, nhà Lý lên thay. Sư có làm bài kệ sấm

Dịch:

Trong vòng ba tháng nữa
Thân Vệ sẽ lên nối ngôi
Cây đà in chữ quốc
Đất nước mười ra đi
Gặp Thánh Chúa hiệu Thiên Đức.

Sư Vạn Hạnh nói với Thân Vệ Lý Công Uẩn là môn đệ của Ngài đang học tại chùa Lục Tổ: "Gần đây tôi thấy nhiều lời sấm lạ báo hiệu nhà Lê phải mất mà nhà Lý tất phải lên thay. Người họ Lý rất nhiều, nhưng không ai khoan từ, nhân đức bằng ông, đương nắm binh quyền trong tay, lại được lòng dân chúng. Người đứng đầu muôn dân chẳng phải Thân Vệ còn ai đương nổi. Tôi đã hơn 70 tuổi rồi, mong được thư thả hãy chết để xem đức hóa của ông ra thế nào. Tôi chỉ ân hận không kịp thấy đời thịnh trị mà thôi ".

Cái học mà Vạn Hạnh đã truyền cho các môn đồ ở chùa Lục Tổ không phải là cái học Phật giáo xuất thế tiêu cực, lãnh đạm với việc đời, mặc kệ quốc gia hưng vong, đất nước bị xâm lăng, đồng bào bị đô hộ, lầm than, khốn khổ mà cái học Phật nhập thế tích cực, nhưng lúc nào cũng lo nhiệm vụ đối với nước non dân tộc. Thi hành xong thì các Phật sự đó, Vạn Hạnh từ chối mọi vinh hoa phú quí hiến dâng, trở lại Thiền đường vui thú tiêu dao, với hài cỏ gậy tre, non xanh nước biếc ngày tháng ung dung tự tại.

Thiền Sư Vạn Hạnh được Lý Thái Tổ phong Quốc sư, nhưng vẫn ở tại chùa Lục Tổ. Khi quốc gia hữu sự mới vào triều giúp ý kiến cho vua, rồi trở về Chùa cùng hài cỏ gậy tre, ung dung tiêu sái.

Thiền Sư liễu Đạo nhằm ngày rằm tháng 5, năm Mậu Ngọ (30/6/1018) thọ trên 80 tuổi, niên hiệu Thuận Thiên thứ chín, không bệnh mà thác, người đời bấy giờ bảo là Sư hóa thân. Trước khi lìa bỏ xác phàm Thiền Sư cho gọi tất cả môn sinh và cho bài kệ nổi tiếng.

Thấy đệ tử thương khóc, Thiền Sư bảo rằng: “Các con muốn ta đi về đâu? Ta không lấy chỗ trụ để trụ và cũng không nương vào chỗ không trụ để trụ.”

Đây là đại khái tiểu sử của Đức Vạn Hạnh Thiền Sư mà chúng tôi muốn nhắc lại để quí độc giả nhận thấy sự liên hệ giữa Ngài đối với dân tộc, đất nước Việt Nam, mà chính dân tộc này được Đức Chí-Tôn Thượng đế chọn để khai Đạo và từ đây sẽ phóng phát ra năm châu bốn bể.

Sứ mạng của Thiền Sư đã được chứng minh qua một bài thi:

Vạn Hạnh Thiền Sư đến cõi trần
Giúp người học Đạo thoát mê tân,
Hỡi ai đã có cơ duyên sẵn;
Thuyền đến bến sông kíp bước lần.

Thiền Sư đã thả thuyền Bát Nhã để đưa rước người chí thành tâm đạo, quyết cầu tu giải thoát:

Nước biếc sông xanh một chiếc đò
Ai qua bĩ ngạn giúp đưa cho
Bao nhiêu hành lý xin chừa lại
Chỉ chở Hà- đồ với Lạc- thư.

Hà- đồ với Lạc- thư là gì?

Theo tác giả Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ (internet).

Hà Đồ, và Lạc Thư đều bàn về lẽ sinh thành của vũ trụ quần sinh, đều chủ trương lẽ Thiên Địa vạn vật đồng nhất thể, và Nhất Thể tán vạn thù, Vạn thù qui Nhất Thể, đều chủ trương Vạn vật phát xuất từ một Tâm Điểm, phóng phát ra ngoài, rồi cuối cùng lại qui hướng về Tâm Điểm ấy.

Hà Đồ sinh Tiên Thiên Bát Quái, đi theo chiều thuận. Lạc Thư sinh Hậu Thiên Bát Quái, đi theo chiều nghịch. Thuận là Thuận chiều kim đồng hồ, Âm Dương không bao giờ chống đối lẫn nhau, lấy Tình Thương yêu, nhân nghĩa làm tiêu chuẩn.

Khi Trời sinh ra con người đã trao cho hai sứ mạng:

1. Làm người.

2. Làm Trời, Phật, Thánh, Tiên.

Sứ mạng thứ 2, hay hạng người thứ 2 hiện nay rất hiếm, vì con người đã dần dần làm mất Lương Tâm, mất Tiên Cách của mình. Hạng người thứ hai, theo Tiên Thiên, sống hồn nhiên, tiêu sái, vô tư, vô dục, thương yêu lẫn nhau, coi người như mình. Các Đạo lớn trong thiên hạ đều dạy con người tìm lại Thiên Đạo này để mà theo, mà giữ. Đạo này vốn hằng hữu trong ta. Như vậy chúng ta sẽ tiến hoá về Nguyên Bản, về Trời. Thật là vô cùng qúi giá.

Còn làm người thì dĩ nhiên là ai cũng làm được, khác nhau ở chỗ làm hay hoặc làm dở. Làm người là sống trong Hậu Thiên, trong dở dang chếch mác, trong phóng túng dục tình, trong mê loạn, trong vô thường. Sống trong Hậu Thiên là chỉ lo giải quyết công việc, giải quyết vấn đề, thích ứng với hoàn cảnh, chứ ít khi chịu tiến hoá thêm. Như vậy:       

  

            Hà Đồ là Tiên Thiên, là Vô Vi.
            Lạc Thư là Hậu Thiên, là Hữu Vi.

Có thể chia cuộc đời ta thành hai: Nửa đời trước để lo làm người, kiếm cơm áo, danh vọng (Hậu Thiên). Nửa đời sau lo làm Thần, Phật, Thánh, Tiên (Tiên Thiên)


(… Còn tiếp ...)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 26.11.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004