Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






Sắc Thái Đa Thần của Ấn Độ

Trong Tín Ngưỡng Dân Gian Việt Nam










Chương 3 - Tín Ngưỡng Ấn Độ Du Nhập Vào Việt Nam


1-Sự tích nhà sư Pháp Quang & Chử Đồng Tử


Truyện “Nhất Dạ Trạch” trong sách Lĩnh Nam Trích Quái ghi lại việc Chử Đồng Tử đã được nhà sư Pháp Quang tại núi Quỳnh Viên (cũng có bản viết là Quỳnh Vi) truyền dạy giáo lý Phật giáo. Sách này được biên tập đời sau cả ngàn năm nên không phân biệt Phật giáo với Ấn độ giáo vào thời đầu công nguyên.

Xưa nay các nhà nghiên cứu đều xếp “Lĩnh Nam Trích Quái” vào loại truyện thần thoại hay huyền sử. Tuy nhiên, khi đi sâu vào nghiên cứu nội dung của Lĩnh Nam Trích Quái, ta mới thấy rõ Lĩnh Nam Trích Quái không chỉ đơn thuần là tập hợp những chuyện thần thoại, thậm chí những chuyện hoang đường. Trái lại, nó chứa đựng nhiều sự kiện có thực, mà trường hợp Chử Đồng Tử được nhà sư Pháp Quang truyền đạo ở núi Quỳnh Viên là một thí dụ cụ thể.

Truyện Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung con của vua Hùng Vương xảy ra ở đầm Dạ Trạch (Hưng Yên), nay còn đền thờ bên sông Hồng mà theo ông Phan Lạc Tuyên trong sách đã dẫn ở trên, cho công chúa Tiên Dung là con gái vua Hùng Vương thứ 3. Có người cho là Hùng Vương thứ 18 hay không xác định là Hùng Vương thứ mấy nên không thể nói cụ thể là niên đại nào của thời gian dài tới trên 2.500 năm trước công nguyên vì triều đại Hùng Vương có tới 18 đời vua (TCN 2879-258). Trong khi đó, lịch sử tư tưởng và triết học Ấn Độ có trước công nguyên tới trên 1.500 năm hay hơn nữa, hình thành nên Bà La Môn giáo rồi tới đầu công nguyên chuyển thành Ấn Độ giáo gần như cùng thời hay trước một chút với sự ra đời của Phật giáo ở Ấn Độ nên có nhiều lẫn lộn giữa hai tín ngưỡng này. Hơn nữa, hai tín ngưỡng này gần gũi nhau và người ta coi Phật Thích Ca là hóa thân đời thứ 9 của thần Vishnu. Nếu luồng tư tưởng triết học này truyền tới Việt Nam cũng phải vào đầu công nguyên. Lịch sử Phật giáo Việt Nam cho biết Phật giáo tới nước ta vào thế kỷ thứ II sau CN ở khu vực thành Luy Lâu- Thuận Thành (Bắc Ninh). Từ đó, nó cũng đã tới Chân Lạp, Phù Nam, Champa. Sau nữa là Hồi giáo nên ở đền Angkor (Cam-pu-chia) các tượng đá có gương mặt của thần Siva đều bị đục phá, tới nay dấu vết vẫn còn. Trung tâm Phật giáo Dương Đông ở Trà Kiệu - Quảng Nam đã được thành lập một thời hưng thịnh xảy ra sau thời kỳ hình thành cụm tháp Chăm ở Mỹ Sơn.

Lĩnh Nam trích quái” chép Chử Đồng Tử học đạo Phật của nhà sư Pháp Quang và là Phật tử đầu tiên là chưa chính xác. Chử Đồng Tử thuộc thời đại Hùng Vương dù là Hùng Vương thứ 18 cũng vẫn ở trước ngưỡng đầu công nguyên trên 200 năm, thì làm gì có đạo Phật để mà học của nhà sư Pháp Quang (giáo sĩ hay tăng lữ). Cả tác giả “Lĩnh Nam trích quái” và tác giả “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” đều lầm lẫn Phật giáo với Ấn Độ giáo. Nếu Chử Đồng Tử học đạo của nhà sư Pháp Quang thì đó là học Bà La môn giáo hay Ấn Độ giáo của các giáo sĩ – tăng lữ vì lẽ thứ nhất là về thời đại, trước đầu công nguyên (Hùng Vương thứ 18 chấm dứt vào năm 250 tr. CN) cùng thời với vua A Dục (Asoka) của Ấn Độ (khoảng 232 tr. CN) thời kỳ cực thịnh và phát triển phát tán, lan tỏa sang Đông phương của đạo Ba La Môn hay Ấn Độ giáo. (Theo Lịch sử văn minh Ấn Độ của Will Durant – Nguyễn Hiến Lê dịch).

Phương tiện hàng hải chủ yếu là thuyền buồm là điểu kiện chính để giao thương và truyền đạo từ Tây sang Đông vào thời kỳ trước và sau công nguyên cũng như tới thế kỷ thứ XVI - XVIII đạo Thiên chúa truyền sang viễn đông và cùng khắp thế giới theo các tàu buôn hay tàu chiến của thực dân đi tìm thuộc địa chạy bằng hơi nước.

Việc đi lại bằng thuyền ở vùng Đông Nam Á đã có từ thời rất xa xưa. Có thể nói cư dân Đông Nam Á đã biết đóng bè mảng và thuyền đi biển từ rất sớm. Những tiến bộ lớn về kỹ thuật hàng hải cổ đã được thực hiện bởi những người nói tiếng Nam Đảo và xuất hiện dọc duyên hải cổ miền Trung và vịnh Bắc Bộ. Kỹ thuật hàng hải cổ này đã đạt đến đỉnh cao vào khoàng giữa thế kỷ V trước công nguyên khi những hình thuyền với cỡ dáng to lớn, kiểu cong mũi, cong lái đã được khắc trên nhiều trống đồng Đông Sơn. Các thư tịch cổ Trung Hoa từ thế kỷ thứ III cũng xác nhận rằng các sư tăng Trung Hoa sang Ấn Độ thời bấy giờ đều đi trên những thuyền dài đến 50 mét, trọng tải tới 600 tấn có thể chở hàng trăm người có buồm lớn buồm con của các nước thương nghiệp Đông Nam Á. Việc buôn bán bằng đường biển với Đông Nam Á đã khá nhộn nhịp từ thế kỷ II…(Lịch sử Đông Nam Á, NXB Giáo dục 1998, trang 6).

Tượng bà Chúa Xứ ở Châu Đốc được cải dạng từ thần Siva hay Brahman trước kia nằm trên đỉnh núi Sam do thương thuyền Ấn Độ đưa sang thời kỳ nước biển còn ngập gần tới đỉnh, mọc đầy rau sam (rau muống nước). Hiện nay, trên đỉnh núi Sam còn bệ thờ Yoni đã được tu sửa lại, có mái che. Còn tượng Linga bằng đá sa thạch đưa xuống thờ bên cạnh tượng bà Chúa Xứ (gọi Cậu – con của Bà).

Còn lẽ thứ hai là Phật giáo không có phép thuật (hay không đề cao) mà nhà sư ấy chính là pháp sư hay giáo sĩ, tăng lữ tháp tùng các thuyền buôn. Thầy dạy Chử Đồng Tử tặng cho học trò của mình cây gậy và chiếc nón là phép thuật, thần thông biến hóa ra lầu đài, nhà cửa, phố thị thuộc về Ba La Môn giáo hay Ấn Độ Giáo chớ không phải của Phật giáo.

Căn cứ vào lý lẽ trên thì Chử Đồng Tử học đạo là Ấn Độ giáo hay Bà La môn giáo hay “tín ngưỡng” Ấn Độ nói chung chớ không phải Phật giáo của Thích ca Mâu ni. Có sách cho biết Chử Đồng Tử được một nhà buôn rủ đi buôn bán, tới núi Quỳnh Lãng (Quỳnh Vi hay Viên), chàng trèo lên ngắm cảnh và vào thăm một am sơ sài dựng tít trên đỉnh núi. Thấy Đồng Tử có dáng người tiên cốt, nhà sư bẻn truyền cho đạo pháp. Chử Đồng Tử nhận ở lại học đạo, sau một năm mới về nhà. (Sách Tiếp cận tín ngưỡng dân gian Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc năm 1998, trang135).
 
Như vậy, Chử Đồng Tử theo nhà buôn nước ngoài đi buôn bằng thuyền, ghé vào núi Quỳnh Viên nhưng không ai xác định núi này ở đâu, trên đất nước ta hay nước ngoài thời bấy giờ. Nhưng tới thế kỷ XV, ngẫu nhiên trong một bài thơ của vua Lê Thánh Tông trong chuyến chinh phạt Champa có nói tới tên núi này mà những người chủ biên Thơ văn Lý Trần đã chú thích là : "Một quả núi trong truyện thần thoại". Dẫu thế, nếu chịu khó đọc “Minh lương cẩm tú” do Lê Thánh Tông viết về 13 cửa biển của đất nước ta trong khi tiến quân chinh phạt Chiêm Thành vào năm 1470, thì ta gặp bài thơ thứ 7, nói về Nam giới hải môn lữ thứ, trong đó có hai câu như sau :


Di miếu man truyền kim Vũ Mục. Danh sơn do thuyết cổ Quỳnh Viên.
Nghĩa là :   Di miếu còn truyền nay Vũ Mục. Danh sơn vẫn nhắc cổ Quỳnh Viên


Vũ Mục ở đây chỉ tướng Lê Khôi, cháu ruột của vua Lê Lợi. Năm Thái Hòa thứ 2 (1444) ông được phái đi đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm là Bí Cai, khi trở về đến cửa biển Nam Giới thì mất. Dân thương nhớ, lập đền thờ tại cửa biển này. Cửa biển này còn được gọi nôm na là cửa Sót. Còn núi Quỳnh Viên thì nằm ở phía Nam cửa bể này và từ thời Lê Thánh Tôn đã được xác nhận là một danh sơn, tức một hòn núi có tiếng tăm của đất nước. Và tiếng tăm này là có từ xưa, chứ không phải đợi đến thời Lê Thánh Tôn, tức từ năm 1460 trở về trước. Ngay cả khi ta đồng ý với Lê Quí Đôn trong Toàn Việt thi lục và Bùi Huy Bích trong Hoàng Việt thi tuyển và xếp các bài thơ về 13 cửa biển này vào loại "vô danh thị", thì việc nói "ông Vũ Mục ngày nay" (kim Vũ Mục) và "núi Quỳnh Viên thuở xưa" (cổ Quỳnh Viên) vẫn không đánh mất ý nghĩa thời điểm của bài thơ.

Theo báo Hà Tĩnh điện tử số ra ngày 07/8/2016 (Bài viết tựa đề “Quỳnh Viên - Nam Giới đẹp mê hồn qua góc máy Flycam”), từ TP. Hà Tĩnh đi xuống Thạch Hải (Thạch Hà), theo bờ biển ngược về phía Bắc, bạn sẽ đến điểm du lịch sinh thái Quỳnh Viên với nhiều khe suối, hang động đẹp như: khe Mưa Dông, ao Tắm, đền thờ Lê Khôi..

Quỳnh Viên, là tên xưa nhất của núi Nam Giới. Vua Lê Thánh Tông khi qua đây đã viết:  “Danh sơn do thuyết cổ Quỳnh Viên”  (ngọn núi nổi tiếng này do có truyền thuyết xưa núi Quỳnh Viên). Mặt trước dãy núi Nam Giới - Quỳnh Viên lấn ra tận bờ biển Đông, có đoạn sóng vỗ ầm ầm vào bờ đá, có đoạn là bãi cát đẹp làm nơi tắm biển khá thú vị. Ở mỏm cuối giáp đất Dương Luật (Thạch Hải) có ngôi miếu nhỏ thờ Thánh Mẫu.

Báo còn viết, Quỳnh Viên - Nam Giới, nơi có nhiều khe suối, đền miếu với cửa biển, lạch sông, với bến thuyền, chợ cá với truyền thuyết lịch sử về vua Lê Thánh Tông, về cuộc huyết chiến của chiến thuyền Trịnh - Nguyễn ở vùng Cửa Sót, và huyền thoại dân gian Chử Đồng Tử và Bà Chúa Liễu Hạnh... từ xa xưa đã có sức cuốn hút tao nhân mặc khách.

Như vậy, núi Quỳnh Viên là có thật tọa lạc tại cửa Sót đồng thời là biên giới phía Nam của Văn Lang vào thời đại Hùng Vương, nay thuộc xã Bắc Hải huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh, nơi có đền thờ tướng Lê Khôi dưới triều nhà Lê và đền bà Chúa Liễu Hạnh vào thế kỷ thứ XVI. Bà chúa Liễu Hạnh là một nhân vật huyền thoại được nhân dân thờ phượng ở nhiều nơi theo tín ngưỡng dân gian. Nhiều nơi ở nước ta thờ bà chúa Liễu Hạnh rất xưa cũng là một tín ngưỡng mang sắc thái Ấn Độ giáo hay Bà La Môn giáo theo tư tưởng thần thoại “Mẹ xứ sở” (mang tính Mẫu).

Xuất phát từ Lĩnh Nam trích quái mà người đời sau truyền tụng về cổ tích Chủ Đồng Tử và công chúa Tiên Dung và cho rằng Chử Đồng Tử bỏ nghề buôn theo học đạo với nhà sư Pháp Quang ở núi Quỳnh Viên mất một năm trời. Chử Đồng Tử và Tiên Dung hiện nay còn đền thờ ở bên bờ sông Hồng thuộc đầm Dạ Trạch huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên. Đền thờ “một ông hai bà” như nói ở Chương dẫn nhập.

Các nhà nghiên cứu lại dựa vào bài thơ của Lê Thánh Tông khi đưa quân chinh phạt Champa đi ngang qua đây tức cảnh làm thơ có hai câu như trên với địa danh Quỳnh Viên (cổ Quỳnh Viên đối với kim Vũ Mục) do nhìn thấy đền thờ tướng Lê Khôi (hay nhận ra địa danh cửa Sót với núi Quỳnh Viên) thời Lê Lợi (Lê Thái Tổ) có công bắt được vua Chăm cũng như ông đang cầm quân đánh vào nước Champa do vua Chăm là Trà Toàn phá rối biên giới. Năm 1470, do vua Champa là Trà Toàn xâm phạm biên giới nên vua Lê Thành Tông đích thân cầm quân chinh phạt tận kinh đô Đồ Bàn (Bình Định).

Thời đại Hùng Vương, nước Văn Lang mở rộng biên giới xuống tới đây nên có tên Nam giới. Nhưng thực tế có thể ranh giới Văn Lang – Champa của tộc Cau và Dừa thuộc văn hóa Sa Huỳnh ở tận dãy Hoành Sơn bị nhà Hán (Trung Quốc) cai trị, gọi là quận Nhật Nam tiếp giáp với quận Cửu Chân của Giao Châu thời đầu Bắc thuộc. Vùng đất nằm phía dưới dãy Hoành Sơn là đất nước của hai tộc Cau – Dừa chưa được lập quốc, chỉ thành vương quốc tới thế kỷ thứ II sau CN do Khu Liên nổi lên lật đổ ách thống trị của nhà Đông Hán dựng lên nước Lâm Ấp (năm 190 sau CN).

Thời Hùng Vương, tộc Cau – Dừa tiền thân của dân tộc Chăm được thống nhất chắc chắn đã có sự thâm nhập của Bà La Môn giáo hay Ấn Độ giáo nên ở động Phong Nha huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình đã xuất hiện chử Phạn (Sancrit – loại chữ viết cổ của dân Aryan dùng để viết kinh Veda) mà tác giả có thể là các tu sĩ hay tăng lữ của đạo này tạo ra trong thời gian cư trú và dùng nơi đây là nơi truyền đạo và thu nhận đệ tử, trong đó có Chử Đồng Tử. Thời ấy, thuyền buôn có thể qua lại và ghé vào cửa Sót – Quỳnh Viên (thuộc Hà Tĩnh) để dừng chân và lấy nước ngọt dài ngày nhưng các nhà truyền đạo lại ra vào cửa sông Gianh (thuộc Quảng Bình) vào sâu trong nội địa mà ngày nay khoảng giữa cửa Sót và cửa sông Gianh là Vũng Áng nổi tiếng của khu công nghiệp thời kỳ mới.

Việc tu học, rao giảng và truyền đạo thời kỳ đầu xâm nhập khu vực này, chắc chắn phải ở tận trong hang động vừa kín đáo vừa thuận lợi cho tu học và phù hợp với truyền thống tin tưởng tiếp cận tâm linh với các vị thần trong thiên nhiên (liên quan tới thần thoại núi Meru). Thời ấy, hang động Phong Nha còn bí ẩn, hoang vắng nên chỉ có các tăng lữ Bà La Môn ra vào và ở ngụ dài ngày, trong đó có nhà sư Pháp Quang có thể là người Chăm nên ngôn ngữ Chăm – Việt thời ấy được hai bên trao đổi thuận tiện. Quá trình tu học của Chừ Đồng Tử kéo dài hơn một năm là hiểu được. Chữ Phạn được lưu thông đầu tiên ở vương quốc Chăm mà ngày nay ta thấy dấu tích ở động Phong Nha và một số cột đá khắc ghi bằng loại chữ này, như bia đá Võ Cạnh ở Khánh Hòa mà các nhà khảo cổ học đã đào được trước năm 1945. Chữ Căm sau này cũng có thể bắt nguồn từ chữ Sanscrit của Ấn Độ cổ.

Như vậy, có thể nói đạo Bà La Môn hay Ấn Độ giáo, tín ngưỡng Ấn Độ được truyền vào duyên hải có nền văn minh Đông Sơn, sông Hồng và Sa Huỳnh trước tiên từ thời Hùng Vương trước đầu công nguyên ít nhất cũng hai ba thế kỷ. Điều này cũng phù hợp với thời gian ở xứ Ấn Độ, vua A Dục (Asoka) thế kỷ thứ III trước công nguyên là người cho truyền bá đạo Ấn Độ sau Bà La Môn, Ấn Độ giáo ra khắp năm châu, trong đó có khu vực Đông Nam châu Á (Myanmar, Lào, Chân Lạp, Phù Nam, Champa, Malaysia, Indonesia… và Văn Lang.)

Có thể nói từ 5 thế kỷ trước công nguyên, ảnh hưởng của văn minh, văn hóa Ấn Độ đã lan tràn khắp Đông Nam châu Á. Riêng ở Văn Lang thời đại Hùng Vương, mối giao thương đã bắt đầu nở rộ ở khu vực miền Bắc và miền Trung.

Đầu tiên là các tăng lữ hay giáo sĩ Bà La Môn tới khu vực Đông Nam châu Á trước công nguyên. Kế đến là Ấn Độ giáo tới vào đầu công nguyên và thứ ba là Phật giáo tới vào thế kỷ thứ II sau công nguyên. Và Hồi giáo tới sau đó nữa như ở Champa và Chân Lạp – Campuchia.

2-Sự tích nhà sư Khâu Đa La và Man nương :

Khâu Đà La được phiên âm chữ Hán từ Kaundynia - chữ Phạn (Sanscrit) cổ ngữ Ấn Độ, đúng hơn là của người Aryan xâm nhập Ấn Độ từ phía Bắc của nền văn minh sông Indus. Người Aryan mang theo tín ngưỡng Bà La Môn (Brahman) từ nhiều thế kỷ trước công nguyên.

Theo nhiều tài liệu cổ, Khâu Đà La là một hoàng tử, một nhà tiên tri, một giáo sĩ hay một nhà sư của Ấn Độ có mặt tại Việt Nam từ thời đầu Bắc thuộc được sử sách cổ ghi nhận ở Luy Lâu hay Liên Lâu, trị sở cai trị của nhà Hán tại Giao Châu. Thật khó hiểu, các tư liệu, sách cổ đều chép hai tên này ở hai vùng miền khác nhau từ đầu công nguyên với hai tên khác nhau. Như ở Luy Lâu là nhà sư Khâu Đà La. Ở Chân Lạp, Phù Nam, Champa gọi là Kaundinya có danh xưng là “Hoàng từ Ấn Độ” với huyền thoại là người lập ra các vương quốc này. Ở phần dưới, chúng ta sẽ nói tới “Hòang tử Kaundinya”.

Ở phần này, chúng ta nói tới nhà sư Khâu Đà La. Ông có mặt tại Luy Lâu – Giao Chỉ rồi đổi thành Giao Châu (nay thuộc huyện Thuận Thành – Bắc Ninh) vào đầu công nguyên dưới thời cai trị của Thái thú Sĩ Nhiếp (còn gọi Sĩ Vương – năm 187-226) người nước Lỗ được nhà Đông Hán cử sang. Theo sách “Lĩnh Nam chích quái”   là một tập hợp các truyền thuyết và cổ tích dân gian   Việt Nam   được biên soạn vào khoảng cuối đời   nhà Trần , có chuyện kể rằng : Man Nương là người Mãn Xá, một làng nhỏ nằm ở bờ Nam sông Đuống. Ngay từ năm 12 tuổi đã được cha mẹ cho sang chùa Linh Quang ở bờ Bắc sông Đuống để thụ giáo thiền sư Khâu Đà La, ngưới Thiên Trúc Ấn Độ. Một hôm, Khâu Đà La đi hành lễ về muộn, vô ý bước qua người Man Nương đang nằm ngủ nơi cửa ra vào khiến nàng có mang. Nàng trở về nhà, được một năm thì sinh được một con gái vào ngày mùng 8 tháng 4. Nàng mang con sang trả cho Khâu Đà La. Nhà sư đem đứa bé tới cây đa cổ thụ ven sông, niệm thần chú rồi dùng thiền trượng gõ vào gốc cây. Gốc cây nứt ra, Khâu Đà La đặt đứa bé vào đó…Rồi năm Giáp Tý nọ, sau những ngày mưa to gió lớn, cây cổ thụ này đổ xuống sông. Dân làng xúm nhau đưa cây vào bờ với sự trợ giúp của Man Nương. Nàng là con gái của vợ chồng ông Tu Định là người mộ đạo ở gần thành Luy Lâu nói ở trên.

Có sách cho rằng, cây cổ thụ đó trôi trên sông Dâu tới trước thành Luy Lâu. Đêm đến, Sĩ Vương nằm mộng thấy một vị thần nói rằng :”Cây này là cây thần mây, mưa, sấm, chớp”. Sĩ Vương liền cho dân làng cưa cây ra bốn khúc để tạc thành bốn tượng và cho xây bốn chùa để thờ tượng này, đặt tên : Thiền Định, Thành Đạo, Phi Tướng, Trí Quả. Sau đó, ông nhớ mộng mới đặt tên lại là : Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Dân chúng thường gọi là chùa Thần Mây, Thần Mưa, Thần Sấm, Thần Chớp, về sau đươc gọi chung là “Tứ Pháp”. Còn chùa thờ bà Man Nương gọi là chùa Phật Mẫu.

Thực tế, hiện nay ở Thuận Thành (có dấu vết Luy Lâu cổ) tỉnh Bắc Ninh vẫn còn tồn tại bốn chùa này và hàng năm cứ đến ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch đều cử hành lễ hội rất linh đình. “Tứ pháp”, bốn người con của Phật Mẫu Man Nương được phân ngôi thứ như chi em ruột trong một gia đình. Pháp Vân được coi là chị Cả, Pháp Điện là chị Út. Lễ rước từ sáng sớm, rước các chị em về tụ họp ở nhà mẹ là chùa Tổ - Phật Mẫu. Có nhiều sự tích nói về “Tứ pháp”, được coi như là tín ngưỡng dân gian từ xưa tới nay. Trên đất Bắc còn nhiều địa phương còn thờ “Tứ pháp”, nhất là ở thành phố Hà Nội và cac vùng phụ cận.

Tới nay, hầu hết các sách và tài liệu đều lấy từ sự tích trên mà xác nhận rằng Phật giáo du nhập vào nước ta từ thế kỷ thứ II sau công nguyên bằng vào sự có mặt của nhà sư Khâu Đà La và cô gái Man Nương, đồng thời coi 5 ngôi chàu trên đều là chùa Phật giáo. Nhưng ngày nay, sau khi xem xét đối chiếu lại chuyện cổ tích và sự kiện thực tế nói trên, chúng ta thấy đó là chuyện thuộc về Bà La môn giáo vì có liên quan tới các sự việc sau : chuyện Man Nương có thai là do nhà sư Khâu Đà La có thể hiểu được vì nhà sư này là tu sĩ Bà La Môn giáo chớ không phải Phật giáo. Nhà sư có phép thuật (cây trượng thần) đem con đặt vào gốc cây cổ thụ (có linh thần), còn tu sĩ Phật giáo thì không có phép này và không đặt tên thần mây (Vân) , mưa (Vũ), chớp (Điện), sét (Lội), kể cả không có lễ hội rước tượng thần. Trên bàn thờ ở chùa Tổ, tượng Phật Mẫu Man Nương được đặt ở chính giữa, còn tượng Phật Thích Ca đặt ở phía ngoài, nơi phụ. Điều này cho thấy, Phật giáo du nhập sau Bà La Môn giáo hay Ấn Độ giáo – một nơi mà sách vở đều nói Phật giáo có mặt đầu tiên ở Luy Lâu mặc dù là tới thế kỷ thứ II. Còn đầu và các thế kỷ trước công nguyên là Bà La Môn giáo hay Ấn Độ giáo.

3-Sự tích hoàng tử Kaundynia và công chúa Liễu Diệp:

Một số nước ở Đông Nam châu Á được xem là những nước có quan hệ từ ngày đầu thành lập hay được “Ấn Độ hóa về văn hóa ” từ trước, giữa đầu công nguyên và sau công nguyên đều có liên quan tới Ấn Độ gồm hai mô hình : giao thương và truyền đạo. Mà đạo ở đây là Bà La Môn, Ấn Độ giáo và Phật giáo.

Theo Lược sử Đông Nam Á, NXB Giáo Dục năm 1998, trong số hàng chục tiểu quốc đã xuất hiện ở Đông Nam Á trong khoảng từ thế kỷ thứ I đến VII sau CN, nổi bật lên nước Phù Nam với một vai trò tiếp thu và truyền bá văn hóa Ấn Độ…Nhờ những điều kiện sinh sống thuận lợi và nhờ tiếp xúc với văn minh Ấn Độ qua vai trò xúc tác của Phù Nam, các tiểu vương quốc này dần dần mạnh lên. Phù Nam khủng hoảng vào thế kỷ thứ VI, lãnh thổ rộng lớn của nó mọc lên hàng loạt vương quốc độc lập khác. Quá trình này diễn ra từ khoảng thế kỷ thứ VII đến thể ký thứ X…Trong khi Phù Nam khủng hoảng thì Chân Lạp (Chenla) ở khu vực Sê Mun bắt đầu hùng cường, đem quân đánh bại Phù Nam khoảng năm 580-640 và chinh phục lại vương quốc này. Ở đảo Sumatra ở phía biển Nam đến cuối thế kỷ thứ VIII đã thành lập vương quốc Xri Vijaya mở rộng tới Malaysia. Trên đảo Java hình thành quốc gia Kalinga.

Ở những vùng khác, phía Đông và Đông Bắc, một số quốc gia tiếp tục phát triển và ngày càng lớn mạnh như Đại Việt, Champa…Đại Việt được thành lập sau trên 1.000 năm bị đô hộ bởi các triều đình phương Bắc (Trung Hoa) mà như ta đã biết, thời bị đô hộ, Luy Lâu là trị sở của họ. Địa danh này được ta xác nhận làm trục đầu mối tiếp nhận và truyền bá các làn sóng lan tỏa của các đạo Bà La Môn, Ấn Độ, Phật giáo cùng với các đạo Khổng Mạnh từ phương Bắc thâm nhập. Nền văn minh hay văn hóa Ấn – Trung bắt đầu hình thành từ đây.

Các nhà khảo cổ học và dân tộc học phương Tây cho rằng người Khơ Me (Khmer) từ hướng Tây Bắc đi xuống vào các hành lang của Campuchia trước năm 2.000 trước công nguyên. Từ thế kỷ III trước công nguyên đến thế kỷ thứ IX-X sau công nguyên, người Ấn – Mã Lai từ Java bắt đầu thâm nhập vào Campuchia.

Theo Lịch sử nước Campuchia (A history of Cambodia) của David Chandler xuất bản ở Thái Lan năm 1998, hiện tượng “Ấn Độ hóa” (Indianization) xuất hiện ở Campuchia từ đầu công nguyên. Tới thế kỷ XIX, người ta còn ghi nhận nông dân nước này có trang phục giống như người Ấn Độ và ăn cơm bằng năm ngón tay (ăn bóc), đội vật dụng, hàng hóa trên đầu khi cần di chuyển, dùng khăn dài choàng hay quấn cổ, mặc quần dài kiểu Ấn Độ túm ống hoặc xòe ra như váy của phụ nữ phương Tây v.v...

Tác giả cho rằng Phù Nam (Founan) là vương quốc đầu tiên của người Khmer tức Campuchia (Cambodia) nên đã lấy huyền thoại lập quốc của Phú Nam làm của Campuchia. Đó là chuyện một hoàng tử Ấn Độ theo Bà La Môn giáo (Bramanism) tên Kaundynia kết duyên công chúa xứ rồng (Nagi) vùng còn ngập nước biển. Câu chuyện cho thấy hoàng tử Ấn Độ tên Kaundynia nằm mộng được một vị thần tặng cho một cây cung và mũi tên đồng căn dặn là đi thuyền theo hướng đông tới đất nước rồng mà kết hôn. Ông vâng lời lấy cung, tên, thuyền đi về phương đông thì gặp một cô gái không có trang phục đi thuyền ra ngăn chặn. Hoàng tử bắn mũi tên đồng làm lủng thuyền của cô gái làm cho nàng phải khuất phục. Cô gái là Công chúa xứ rồng tên Liễu Diệp (cổ sử Trung Hoa vào đời nhà Đường chép công chúa này tên là Lieou Ye) được hoàng tử cho áo quần và hai bên kết hôn với nhau. Vua rồng tán thành và nhường ngôi cho hai người, đồng thời dùng phép thuật rút cạn nước xứ rồng giao cho hoàng tử và công chúa cai trị đất nước mới. Huyền thoại này xảy ra trùng hợp với hiện tượng “hải thoái” (nước biển rút xuống) ở khu vực Đông Nam Á bắt đầu từ nhiều thế kỷ trước công nguyên.

Theo đó, vương quốc Phù Nam ra đời vào thế kỷ trước công nguyên và bị Chân Lạp (Chenla) một tiểu quốc trong khối Phù Nam đánh chiếm vào thế kỷ thứ VI sau công nguyên. Vương quốc này rộng lớn bao gồm toàn bộ Nam bộ, Trung bộ Việt Nam, Hạ Lào và Thái Lan. Kinh đô của Phù Nam tên Vyadhapura (Cổ sử Trung Hoa gọi Đặc Mục) nay ở gần Ba Phnom tỉnh Prey veng phía Bắc Châu Đốc trên đất Campuchia. Thời kỳ trước hiện tượng “hải thoái”, Phù Nam có Phố cảng nổi tiếng là Óc Eo nay còn di tích khảo cổ ở huyện Thoại Sơn tỉnh Long Xuyên, từng là đầu mối giao lưu hàng hóa trong thương mại giữa Đông (châu Á) và Tây (châu Âu). Chính nơi này còn là đường truyền giáo của Bà La Môn, Ấn Độ Giáo (kể cả Phật giáo) lúc đầu tới khu vực Phù Nam và Luy Lâu.

Hoàng tử Kaundynia vốn là người theo đạo Ba La Môn nên cả vương quốc Phù Nam đều theo đạo này. Như vậy, có thể khẳng định đạo Bà La Môn – Ấn Độ giáo có mặt tại Phù Nam (nay là khu vực miền Đông và miền Tây Nam Bộ Việt Nam) từ thời lập quốc theo huyền thoại trên. Từ đó về sau, đạo này lan tỏa ra Bắc (Luy Lâu) và Trung bộ Việt Nam (Champa). Tiếp theo sau nữa là Phật giáo.

Các nhà khảo cổ trước 1945 và sau 1975 , cả người nước ngoài và trong nước đều xác nhận vương quốc Phù Nam có nền văn minh Óc Eo khá phát triển mà ngày nay người ta đã phát hiện nhiều cổ vật liên quan nằm rải rác trên vùng đất miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Đặc biệt, về Bà La Môn - Ấn Độ giáo, những di tích kiến trúc dạng đạo Hindu-Ấn Độ giáo ở Đồng Nai niên đại khá sớm. Kết cấu vật liệu xây dựng bằng gạch-gỗ, có khả năng là vết tích văn hóa Óc Eo mở đầu ở Nam Bộ trước khi có văn minh Ấn Độ - Trung Hoa thì hoạt động giao thương, trao đổi văn hóa giữa cư dân Thiên Trúc - Ấn Độ và cư dân Phù Nam vào khoảng thế kỷ thứ III-IV trước công nguyên. Lúc ấy cảng thị Cần Giờ là đầu cầu giao lưu kinh tế khu vực Đồng Nai. Các kiến trúc dạng đền thờ đạo Hindu - Ấn Độ giáo được đầu tiên du nhập vào đây.

4-Tín ngưỡng “Phồn thực”

Ngày nay, người ta cho rằng tín ngưỡng Phồn thực đã có từ thời nguyên thủy, cách đây hàng chục vạn năm. Khi con người biết cuộc sống thì họ biết muôn loài có âm có dương mới tạo thành được, trong đó họ biết con người xuất hiện nhờ có âm – dương tức dương vật (của nam giới) – âm vật (của nữ giới) và họ cho là thiêng liêng nên thờ kính, cúng bái. Ấn Độ giáo gọi đó là Linga và Yoni. Người phương Tây gọi tín ngưỡng phồn thực (thờ âm – dương, âm vật - dương vật hay linga – yoni) là Réligion de la fécondité hoặc Rites de fertilité.

Người ta cũng cho rằng nơi ra đời của biểu tượng âm (yoni) và dương (linga) này là vùng thung lũng sông Indus - Ấn Độ của cư dân Sumerian và Dravidian với tục thờ âm vật, dương vật mà biểu tượng là linga va yoni. Sau này, câp biều tượng Linga – Yoni lại hóa thân vào thần Shiva, là vị thần chủ trong ba thần là Shiva, Vishnu và Braman (Trimurti). Theo thần thoại Ấn Độ, thần Shiva xuất hiện lần đầu là một cột lửa có hình dương vật, biểu tượng của sự sáng tạo, sinh sôi, phát triển. Sau đó lại có thêm âm vật, trở thành cặp linga-yoni, được thờ trong các đền như các tháp Chăm ở miền Trung bộ Việt Nam, các đền Ấn Độ giáo ở quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh, ngay cả ở chùa bà Chúa Xứ - Châu Đốc (bệ Yoni nằm trên đỉnh núi Sam đã được tu bổ lại, có mái che; còn Linga là cột đá được thờ bên cạnh Bà Chúa Xứ, gọi là Cậu).

Theo nhà nghiên cứu Bình Nguyên Lộc, trong sách “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam” xuất bản năm 1971 tại Sài Gòn, tất cả các nhóm Mã Lai đều có những nghi lễ và tục lệ liên hệ đến dương vật và âm vật của tôn giáo của chủng Malayalam mà đạo Bà La Môn vay mượn (trang 442).

Ông còn cho biết thêm, có rất nhiều nhóm Mã Lai chi Lạc thờ mặt trời hoặc ông trời mà riêng về Mã Lai Việt Nam, tục thờ dương vật và âm vật ở vài làng Bắc Bộ mà chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau. Biểu trưng của nó là “cối” và “chày” mà sách cổ Ô châu cận lục mô tả dân Việt có phong tục dâm đảng, con gái thường lấy cối để trêu con trai. Dân tộc Thái ở Bắc Bộ và Trung Bộ cũng gốc Mã Lai nên có tục đánh “côn” và biểu diễn âm vật và dương vật trong các lễ hội và hôn lễ. Trước hôn lễ, người cao tuổi nhất trong làng đưa ra một cái vòng tròn bằng mây, bịt giấy mỏng. Ông mai ném trái côn lọt được vào cái vòng đó, xé rách được tấm giấy mỏng thì hôn nhân mới được cử hành. Sau đó, trai gái dự hôn lễ tiếp tục diễn cái trò ấy nhưng đề chơi cho vui chớ không phải vì tính cách tín ngưỡng hay lễ nghi nữa.

Vẫn theo nhà nghiên cứu Bình Nguyên Lộc, khoa khảo tiền sử học đã xác nhận các nhóm chủng Mã Lai di cư lần lượt ba đợt từ Nam lên Bắc lục địa châu Á tới quanh núi Himalaya thông qua Tây Tạng cách đây hàng chục ngàn năm.Trong số này, nhóm đi đợt I lại từ núi tuyết tràn xuống chiếm lĩnh toàn cõi bán đảo Ấn Độ. Theo ngữ nghĩa, Hinúi nên Himalaya là núi của người Malaya (cổ Mã Lai).

Từ 6.000 năm trước, đất Ấn Độ chỉ có chủng Mê-la-nê-siên dân da đen. Khi nhóm Mã Lai đợt I tới thì họ hợp chủng thành ra dân Dravidian và năm trăm năm sau, họ làm ra nền văn minh cổ nổi tiếng với hai thành phố được xây dựng hiện đại mà ngành khảo cổ học mới phát hiện gần đây. Đó là Harappa và Mahenjo Daro, được định tuổi là 3.500 trước công nguyên. Thành phố gồm toàn nhà lầu, có đường sá rộng lớn, có ống cống, ống dẫn nước, có cầu xí hầm với bàn ngồi, có chỗ tập trung rác rến. Người dân biết dùng đồ đồng và có văn tự để lại (nhưng chưa ai đọc được). Tới năm 2.000 trước công nguyên thì bị chủng da trắng Aryen từ phương Bắc tới tiêu diệt một phần, còn lại môt phần thì hợp chủng. Kinh Phệ Đà (Veda) đạo Bà La Môn của dân dân Aryen có nói tới dân địa phương với lời lẽ miệt thị. Chính chủ nhân đạo này đã phân chia giai cấp trong xã hội mới hình thành. Hơn nữa, ban đầu đạo Bà La Môn của dân da trắng không có thần Siva. Mà dân da đen bản địa gốc Mã Lai mới có thần Siva và biểu tượng âm vật – dương vật và thờ thần mặt trời. Đạo Bà La môn rất linh hoạt nên chấp nhận thần Siva của dân Dravidien bản địa đa đen. Cũng như sau này, đạo Bà La Môn biến đổi thành Ấn Độ giáo của người Hindu, tên gọi khác của người Ấn Độ, (Hinduism) sau khi hợp chủng tộc Aryen với Dravidien.

Theo sách Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, các đợt di cư II và III sau này mới quay lại Trung Quốc, bán đảo Đông Dương và các nước thuộc Đông Nam chấu Á, kề cả tới Nhật Bản và Trung Mỹ châu, tộc Maya. Do đó, ca dao và tục ngữ hay tín ngưỡng dân gian của ta cho tới ngày nay đều có những từ ngữ, câu hát, lễ hội, tín ngưỡng, hôn lễ với các hình tượng tục tỉu và thờ “dâm thần” (Siva – âm vật, dương vật : linga-yoni).

Theo sách “Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam”, NXB Văn hóa Dân tộc – 1998, hình thức tín ngưỡng này được các nhà khoa học cho là thuộc cơ tầng văn hóa nguyên thủy, rất phổ biến ở các nền văn hóa nông nghiệp lúa nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Ở Bà La Môn giáo hay Ấn Độ giáo, người ta sùng bái nó chỉ ở góc độ thờ cúng với phẩm vật hoa quả. Mỗi khi viếng đền, tháp các tín hữu chỉ sờ tay vào hiện vật tiếp nhận sự linh thiêng để sùng kính, cầu nguyện. Còn ở Việt Nam, sự sùng bái được thể hiện bằng lễ thức và tên gọi khác nhau như ông Đùng bà Đà, ông Khiu bà Khiu… và thờ bản thân hành vi giao phối nhằm cầu mong cho cho mùa màng bội thu, vạn vật sinh sôi, nhà nhà con đàn cháu đống. Tín ngưỡng này đã nhập vào cuộc sống của người nông thôn ở khắp các vùng quê và trở thành sinh hoạt tinh thần không thể thiếu như ở Phú Thọ là vùng đất Tổ của dân Việt và nhiều nơi khác ở đồng bằng Bắc Bộ. Tục thờ Nõ - Nường hiện còn duy trì trong lễ hội “Linh tinh tình phộc” ở ngôi miếu “Đụ Đị” làng Tứ Xã, Lâm Thao, Phú Thọ. Đêm 11 rạng ngày 12 tháng giêng hàng năm, cụ thủ từ lấy một cặp dương vật và âm vật bằng gỗ được sơn màu rồi đưa cho một cặp trai gái. Trong đêm tối không đèn nến, người nam cầm dương vật gỗ đâm ba lần vào âm vật gỗ do người nữ cầm, sau tiếng hô “Linh tinh tình phộc”. Nếu đâm trúng cả ba lần, thì năm đó dân làng được mùa lúa bội thu.

Miếu bà Lườn – Hang Lỗ Lườn trên đảo Hòn Đỏ nằm trong vịnh Vân Phong tỉnh Khánh Hòa với nghi thức cúng lễ của ngư dân rất độc đáo hiện thức thể hiện sự tôn thờ Linga – Yoni từ lâu đời. Sách “Di tích thờ Mẫu ở Khánh Hòa” do Trung tâm bảo tồn di tích thuộc Sở Văn Hóa Thế thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa NXB Văn hóa Thông tin tỉnh Khánh Hòa phát hành tháng 7/2014 đã ghi chép tỉ mỉ về Miếu Bà Lườn và Hang Lỗ Lườn trên đảo Hòn Đỏ.

Đảo này rộng khoảng 5km2 cách đất liền khoảng 10 km, nơi có nhà máy đóng tàu Huyndia Vinashin ngày nay ở thôn Mỹ Giang. Đảo có hình dáng một phụ nữ khỏa thân nằm nghiêng trên bãi cát sạch mịn, mặt hướng về bờ biển. Trên đảo có ba miếu thờ : miếu Hội đồng và miếu Cô, Cậu. Phía sau và trên các miếu này có một miếu đặc biệt thờ Bà Lườn. Chính nơi đây là hang khe núi mà ngư dân gọi “Bà Lườn – hang Lỗ Lườn” – trùng khớp với vị trí có bộ phận sinh dục của hòn đảo có hình dáng phụ nữ nằm dài trên bãi cát.

Nếu đứng cách xa 3-4 mét nhìn vào hang và bề mặt dưới của hang, ta thấy rõ ràng là tuyệt tác của tạo hóa đã ban cho nơi đây một bộ sinh dục nữ đều đặn, tròn trịa và thật cân đối. Hơn thế nữa, toàn bộ hang đá cho ta có cảm tưởng như đang đứng trước bức tượng đá lớn, bán khỏa thân mà phần kín bên dưới đẹp nhất của người phụ nữ được tạc trong tư thế đang nằm.” (Sđd trang 270).

Thông thường hàng năm, đình làng Mỹ Giang cúng Xuân và cúng Thu. Sau khi cúng ở đình xong, Ban tế lễ và bà con ngư dân lên thuyền ra đảo mang theo lễ vật tổ chức cúng tại miếu Hội đồng, miếu Cô Cậu, Giếng Mán và miếu Bà Lườn, hang Lỗ Lườn. Lễ cúng chính tại miếu Bà Lươn và hang Lỗ Lườn diễn ra vào ngày 20 âm lịch hàng năm từ tháng Hai đến tháng Bảy. Khi cúng ở các miếu xong, ông chủ tế ra hang Lỗ Lườn cầu nguyện. Vái ba lần xong ông dùng thanh dương vật (để sẵn thờ bên cạnh) thọt 9 lần (ngày xưa chi có 3) vào khe Lỗ Lườn, tượng trưng cho sự giao phối. Ngoài lễ chính này, ngư dân còn có thể đem lễ vật ra cúng bất cứ lúc nào vào những lúc đánh cá thất thu, để xin Bà phù hộ cho được cá.

Tại Nhật Bản, tín ngưỡng thờ dương vật và âm vật cũng phổ biến thể hiện trong các lễ rước xưa nay ờ vùng Komaki tỉnh Aichi hay ở Kawasaki. Những dương vật bằng gỗ được làm thật to được khiêng diễu hành qua đường phố có đông đảo người đi theo cổ vũ, trống kèn inh ỏi tạo thành đám rước nháo nhiệt.


Kỳ sau : Chương 4 – Di tích chùa “Tứ pháp” ở Bắc Ninh – Việt Nam



. @ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 20.11.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004