Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





NHỮNG ĐẶC SẮC VÀ VỊ THẾ CỦA

“ NIÊN PHẢ LỤC”

TRONG KÍ - VĂN XUÔI TRUNG ĐẠI VIỆT NAM









N iên phả lục” là tác phẩm rất đặc sắc của Trần Tiến (1709 – 1770). Ông người làng Điền Trì, nay là thôn Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Cha ông là Tham tụng Lễ bộ thượng thư, Hùng Quận công Trần Cảnh. Theo sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Trần Cảnh dâng vua Lê Hiển Tông năm 1749, bộ sách Minh nông chiêm phả và trở thành nhà khoa học nông nghiệp đầu tiên của Việt Nam. Ông nội ông là Tham tụng Hình bộ thương thư, Phương Trì hầu Trần Thọ, nhà thơ và nhà ngoại giao xuất sắc, được Phan Huy Chú, trong chương Bang giao chí của bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí, khen là một trong những bậc tài giỏi trong việc bang giao của nhà nước ta ở thờì Lê. Cụ nội ông là Hàn lâm viện thừa chỉ, Dụ Phái hầu Trần Phúc.

Trần Tiến, tự là Khiêm Đường, hiệu là Cát Xuyên, đỗ tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1748) làm quan Phó đô Ngự sử, tước Sách Huân Bá, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, sau thăng Lễ bộ thượng thư, tác giả các bộ sách: “Đăng khoa lục sưu giảng”, “Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi”,“ Cát Xuyên tiệp bút”, “Cát Xuyên thi tập”, “Niên phả lục”… Sách giáo khoa phổ thông Ngữ văn lớp 10 nâng cao, vinh danh Trần Tiến là một trong 5 nhà viết ký xuất sắc nhất của nền văn học trung đại Việt Nam ( 938 – 1858) : Vũ Phương Đề, Trần Tiến, Lê Hữu Trác, ( ba nhà văn thời Lê) và Phạm Đình Hổ, Lý Văn Phức ( hai nhà văn thời Nguyễn). Các tác phẩm tiêu biểu của 5 nhà văn trên đều viết bằng chữ Hán.

Trong 5 nhà văn lớn đó, thì Lê Hữu Trác ( 1720 – 1791), nhà văn ở thời Lê, quê cha ở Hưng Yên, quê mẹ ở Hà Tĩnh, tác giả tập Thượng kinh kí sự, hoàn thành năm 1783, viết về việc ông từ Hà Tĩnh lên Thăng Long chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán, con trai chúa Trịnh Sâm và Đặng Thị Huệ. Thương kinh kí sự là tập 65 trong bộ sách thuốc vĩ đại Y tông tâm lĩnh của ông. Đây là một tập kí có giá trị, được nhà văn Nguyễn Trọng Thuật dịch ra quốc ngữ năm 1924, đăng Tạp chí Nam Phong ( cùng khoảng thời gian với việc dịch và đăng bản dịch Niên phả lục ? ) sau được Phan Võ dịch lại, Bùi Kỉ duyệt, nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1989; Lí Văn Phức ( 1785 – 1849), người Hà Nội, là nhà văn thời Nguyễn, tác giả ghi chép các sự việc trên đường đi công vụ sang Tây Dương năm 1830, sang Yên Kinh ( Trung Hoa ) năm 1841.

Ba nhà văn người Hải Dương là Vũ Phương Đề, người làng Mộ Trạch; Trần Tiến, người làng Điền Trì, ở thời Lê; và Phạm Đình Hổ, người làng Đan Loan, ở thời Nguyễn. Vũ Phương Đề ( 1697 - ?) hoàn thành Công dư tiệp kí năm 1755, sau đó được nhiều người bổ sung, thêm bớt hoặc viết lại, nên, theo Phan Huy Chú, văn chương Công dư tiệp kí “ vô cùng hỗn loạn”, đến nay vẫn chưa biết thật đích xác Vũ Phương Đề viết những bài nào, phần nào. Người cuối cùng biên soạn lại, là Vũ Xuân Tiến, người phủ Bình Giang. Sách chia làm 12 loại, bao gồm cả danh thần, danh nho, những người tiết nghĩa và các chuyện dân gian thần quái, ác báo… Riêng phần Tục biên Công dư tiệp kí của Trần Trợ - ông là Viên ngoại lang bộ Lại, Trợ giáo Thái tử, nên gọi theo chức là Trợ - cụ Trợ - Trần Trợ, trong khi ông tự ghi tên mình ở cuối sách Niên phả lục là Trần Quí, gia phả lại ghi tên ông là Trần Nha. Có lẽ vì thế chăng, sách xuất bản của ông nhiều chục năm nay và sách giáo khoa phổ thông hiện hành, đều ghi tên ông là Trần Quí Nha, người làng Điền Trì - thì đứng tách hẳn ra thành một tác phẩm riêng, dù nhiều năm in chung trong một tập với Công dư tiệp kí của Vũ Phương Đề, nhưng phẩn của Vũ Phương Đề in trước, ghi là Tiền biên, phần của Trần Quí Nha, in sau, ghi là Tục biên, nhưng vẫn là hai tác phẩm độc lập. Năm 2008, Tục biên Công dư tiệp kí của Trần Trợ tức Trần Quí Nha, con trai của Trần Tiến, mới được Nguyễn Đăng Na và Nguyễn Thanh Chung dịch lại, in thành một tập riêng, do Nhà xuất bản Văn học ấn hành.

Phải ghi lại lai lịch các tác phẩm như thế, để thấy tính toàn vẹn và minh bạch của hai nhà văn còn lại và kế tiếp nhau tạo ra 2 thành tựu xuất sắc là Trần Tiến, tác giả Niên phả lục ở thời Lê và Phạm Đình Hổ ( 1768 – 1839), tác giả Vũ trung tùy bút ở thời Nguyễn, trong đó Niên phả lục của Trần Tiến hoàn thành năm 1764, thì 4 năm sau, năm 1768, Phạm Đình Hổ mới ra đời. Vũ trung tùy bút được Phạm Đình Hổ viết trong những năm lánh nạn ở quê nhà, từ năm 1823 trở về sau, khi ông đã ngoài 55 tuổi. Tác phẩm đã được Nguyễn Hữu Tiến dịch, đăng Tạp chí Nam Phong năm 1927. Cũng không rõ năm nào, bản dịch Vũ trung tùy bút được xuất bản thành sách lần đầu. Tập sách tôi có là bản in năm 1989. Đây là một tập kí 90 bài, gồm tiểu truyện các danh nhân, các thắng cảnh du lãm, các khảo cứu về địa lí, phong tục, lễ nghi, ẩm thực và nhiều việc linh tinh khác, trong đó trang viết về cách pha trà, được cho là một trang văn rất xuất sắc. Phạm Đình Hổ tự nói về mình, ghi trong Vũ trung tùy bút, trong đời ông, ông “ chỉ có mỗi một cái tội là nghiện… nước chè ” chủ yếu do chính ông tự pha lấy. Cho nên trang văn ông viết về cách pha trà, tinh vi và cao sang là rất dễ hiểu. Ông viết: ông “ rất ghét thanh sắc, nghề cờ bạc và những chuyện rủ rê chơi đùa”, cứ thấy ai nói đến điều đó là ông “ phải bịt tai lại”. Một người mực thước và kĩ tính đến mức ấy. Do đó chuyện “ Hồ Xuân Hương – Chiêu Hổ” được truyền tụng ( đến nay trên Bách khoa toàn thư mở và nhiều sách nghiên cứu, nhiều trang mạng…vẫn ghi ông là Chiêu Hổ) là chuyện vui dân gian, và về tiểu sử văn học của ông, thì đấy là điều hoàn toàn bịa tạc.


Điểm qua các tác phẩm tiêu biểu đã được vinh danh rất xứng đáng như trên, để thấy tính độc đáo và vị thế rất đặc biệt của Niên phả lục, theo tôi là tác phẩm lớn nhất của kí trung đại Việt Nam. Không rõ Trần Tiến khởi thảo “Niên phả lục” từ năm nào, nhưng hoàn thành vào mùa đông năm Giáp Thân, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 25 ( 1764), như chính ông đã ghi ở cuối bài Tựa. Đây là tập thứ 2 của thể loại kí Việt Nam, sau tập đầu tiên của Vũ Phương đề 9 năm ( 1755 – 1764). Hiện trong lưu trữ của Dòng họ Trần Điền Trì, cùng với 35 đạo sắc phong, hoàn toàn của thời Lê, còn được giữ lại hầu như nguyên vẹn, có tập bản thảo chép tay Niên phả lục, được cho là chữ của chính Trần Tiến. PGS- TS Nguyễn Đăng Na, một chuyên gia hàng đầu của văn học trung đại Việt Nam đã về đây và chứng kiến Hội đồng dòng họ, dùng búa phá khóa của két sắt để lấy tập bản thảo đó trao cho ông. Ông rất cảm động và nghĩ rằng, ông là người đầu tiên có tập bản thảo gốc này trên tay. Thực ra người đã đọc nó trước ông và cho thuê sao lại để làm tài liệu riêng, là nhà văn Nguyễn Trọng Thuật, người làng Mạn Nhuế, cùng huyện Nam Sách, tác giả tiểu thuyết Quả dưa đỏ, giải thưởng ( loại Nhất) của Hội Khai trí Tiến đức năm 1925. Nguyễn Trọng Thuật đã giới thiệu và cho đăng bản dịch Niên phả lục của ông trong nhiều số Tạp chí Nam Phong, có lẽ cũng vào khoảng thời gian ông dịch và cho đăng Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác trên tạp chí này, năm 1924

Niên phả lục được PGS –TS Nguyễn Đăng Na dịch và giới thiệu rất công phu, Nhà xuất bản Văn học ấn hành đầy đủ năm 2003. Đó là tên chung cho 2 tập kí sự, như chính trong bản thảo. Tập 1 là Tiên Tướng công niên phả lục, Trần Tiến viết về người cha của ông là Diệu Quận công ( hiện còn một đạo sắc phong, lưu giữ tại Từ đường dòng họ, ghi là Hùng Quận công) Tham tụng Thượng thư Trần Cảnh, từ lúc sinh ra, ra làm quan vô cùng lận đận, rồi theo vua đi đánh dẹp nông dân khởi nghĩa, rồi làm bộ trưởng đến 4 bộ, bộ Công, bộ Binh, bộ Hộ, bộ Lễ, 2 lần làm tể tướng, rồi chống tham nhũng, bênh vực dân nghèo bị quan lại cướp ruộng đất và nổi loạn…cho đến khi ông từ trần. Về văn chương, tập này được viết rất thâm hậu, “rất hay, bút pháp của đại gia”, “sâu kín, nhưng rõ ràng, ý tại ngôn ngoại”, cảm giác rất rõ là tác giả đã học tập và kế thừa bút pháp Sử kí của Tư Mã Thiên. Trong tập còn bộc lộ nhiều quan điểm về chính trị xã hội, đến nay“vẫn còn nguyên giá trị” và có ý nghĩa thời sự. Về nghệ thuật, thì đây là: “ Lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, có một người dám đứng ra bộc lộ cái tôi của mình”. “Đây là một tập nhật kí, dùng nhiều thể văn đan xen: kí sự, tùy bút, trữ tình, tự sự, bình luận”. Vì thế, “nó không giống bất cứ một ai trước đó, đồng thời đặt nền móng cho những người đi sau noi theo như Lê Hữu Trác, Phạm Đình Hổ” ( Nguyễn Đăng Na).

Tiếp theo là 8 văn bản có liên quan đến tập kí trên, vừa như minh họa vừa như bổ sung, nên vì thế, kết cấu vẫn chặt chẽ trong sự nhất quán của một tác phẩm, trong đó có những văn bản rất có giá trị về lịch sử và văn hóa, như Bài khải về binh chế của Trần Cảnh, tâu vua : “ Đạo trị nước và giữ nước, gốc ở binh chế”, khuyên vua nên giữ phép “ tỉnh điền” và thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông”; như Bài khải dâng vua khi hộ giá Tây chinh: “Bọn giặc cũng là dân đen của triều đình”, nên xin vua dung tha cho họ sau khi họ đã bị bắt; rồi thư từ trao đổi giữa các tướng lĩnh ở thời Lê. Đặc biệt là bài Tựa sách Minh nông chiêm phả, do chính Trần Cảnh viết, cho thấy dung lượng, bố cục và nội dung bộ sách khoa học nông nghiệp đầu tiên của Việt Nam là như thế nào. ( GS Trần Văn Giáp, nhà thư mục học lỗi lạc của Việt Nam, có lần kể rằng, trước khi sang chuyên tu tại Trung Quốc 2 năm, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã mời cơm ông tại nhà riêng và dặn rằng, trong 2 năm đó, cố gắng tìm kiếm trong các thư viện cổ ở Bắc Kinh và các tỉnh thành khác, xem có 11 bộ sách quí của dân tộc ta, lưu lạc sang bên đó không, trong đó có bộ Minh nông chiêm phả của Trần Cảnh - tôi đã kể khá kĩ điều này trong sách Đối thoại văn chương ). Sau đó là phần Phụ lục, trong đó có bài Văn bia thờ Trần Cảnh tại chùa Khương, huyện Siêu Loại, nay là chùa Dâu, Bắc Ninh, bài Văn điếu của vua Lê Hiển Tông đọc trong Lễ quốc tang Trần Cảnh và đặc biệt là Thơ của 58 nhà thơ thời Lê họa thơ Trần Cảnh, trong đó có nhiều người rất nổi tiếng như Hữu Thị lang bộ Binh, Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm, thân phụ Đại thi hào Nguyễn Du; Công bộ Thượng thư, Liêu Đình hầu Lê Hữu Kiều, chú ruột Đại danh y Hải thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác; Tả thị lang bộ Hình, Cẩm Xuyên hầu Nguyễn Kiều, chồng nhà thơ Đoàn Thị Điểm; Thiêm sai Đông các hiệu thư Lê Trọng Thứ, thân phụ nhà bác học Lê Quí Đôn; Tham tụng Ôn Đình hầu Vũ Khâm Lân; Bồi tụng Phan Trạch hầu Nhữ Đình Toản…” vân vân… sẽ là nguồn “bổ sung tư liệu quí giá của các tác gia văn học Việt Nam thế kỉ XVIII” (Nguyễn Đăng Na).

Tập 2 là Trần Khiêm Đường niên phả lục, Trần Tiến tự viết về mình, từ thuở bé, đi học, đi thi, đỗ đạt rồi ra làm quan.... Câu đầu tiên, Trần Tiến viết: “ Tôi họ Trần, thuở bé tên là Tân, lớn lên tên là Kính, lại có tên là Tiến, tự là Khiêm Đường, con của Thừa tướng Trần công, do bà Quận phu nhân họ Nguyễn sinh ra…” Với tác phẩm này, Trần Tiến đã khai sinh ra một thể loại kí mới trong văn xuôi trung đại Việt Nam là kí tự thuật, từ năm 1764. PGS-TS Nguyễn Đăng Na nhận xét: “ Và điều quan trọng nhất chính là, lần đầu tiên trong văn xuôi tự sự Việt Nam, có một tác phẩm kí tự thuật. Chỉ khi con người ý thức được về mình, ý thức được về vai trò và vị trí của mình, thì, loại hình tự thuật mới ra đời. Ở thời trung đại, mấy ai dám làm như vậy?”.


Khác với các tập kí khác, lấy sự việc làm trung tâm, hoặc các truyền thuyết hoang đường, ma quái, các chuyên dân gian, các khảo sát phong tục, phong cảnh du lãm hay ẩm thực…, để làm nên nhiều trang văn đặc sắc, Niên phả lục không có những cái đó. Nói như Nguyễn Đăng Na, nó “ dựng lại được không khí thời đại ” với những “lòng người chia lìa, đồng liêu đố kị, vua thì tăm tối, tiền hậu bất nhất, quan lại thì tham lam tàn bạo, lợi dụng đục nước béo cò,,,” … “ Đặc biệt cuộc nổi dậy của ba ông hoàng ( Duy Mật, Duy Quy, Duy Chúc ) ở Thanh Hóa những năm 1738 – 1739 và những cuộc nổi dậy tiếp theo của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Vũ Trác Oánh,,,” rồi Nguyễn Hữu Cầu … nó đi thẳng vào các vẫn đề chính trị sôi bỏng và gay gắt nhất của đất nước ở thời đó. Có thể nói đây là kí sự chính trị. Nó lại lấy con người hoạt động chính trị làm trung tâm, và đặc biệt, con người này lại ở phía bên kia – tạm gọi như thế - nghĩa là bên đi đánh dẹp nông dân khởi nghĩa, với “những cảm xúc”, “những băn khoăn, trăn trở, ưu thời mẫn thế”, khắc họa nhiều tâm trạng, các tình huống và cả số phận. Điều chưa từng có trong kí trung đại Việt Nam.

Về xã hội chính trị, nó nói rõ nông dân bị cường hào ở các làng xã cướp ruộng đất, đàn áp bức bách và bần cùng, đến mức họ chỉ còn một con đường cuối cùng là “gửi thân cho giặc”chống lại triều đình. Nó mô tả quân giặc rất mạnh và qua làng xã nào cũng “tuyệt đối không tơ hào đến cái kim sợi chỉ của dân”, trong khi quan quân của triều đình , “ về danh nghĩa là đi đánh giặc, nhưng thực chất là đi cướp của dân. Thảy đều như vậy”. Chúng “tung hoành bạo ngược, dung túng bọn tướng sĩ cướp đoạt tài vật của dân gian, vơ vét từ chủi cùn rế rách” của dân. Đám quan quân này đến đâu là “đục khoét ăn nhậu, vui say tửu sắc, cờ bạc thâu đêm suốt sáng, khi giặc đến thì bỏ cả ấn tín mà chạy. ..” . Nó mô tả các cuộc họp trong triều, các quan lớn chỉ đưa mắt nhìn nhau, chờ đón ý chỉ của nhà vua rồi mới nói đưa đà, ve vuốt, nịnh bợ, “ không ai dám nói một câu nào theo ý mình”. Nó mô tả ngay cả bậc hoàng thượng cũng sáng nói một đằng, chiều làm một nẻo. Sáng “ thì khen là có công khai quốc, khen ngợi không tiếc lời”, chiều lại “thăng có một tư, lòng dạ không biết thế nào mà lường. Chỉ trong một khoảng khắc đã đổi thay như vậy, huống chi là lâu dài?...”. Khi điều hành việc nước, vua thường “bày ra nhiều việc tạp dịch, trưng dân ngày càng phiền nhiễu, gây nhiều khổ sở cho dân”.Trong việc quan, vua “thường dùng lũ bẻm mép, cho họ là hiền tài”. Đất nước vì thế mà suy vong . Có lẽ đây là tác phẩm duy nhất trong các kí trung đại mô tả trực tiếp nhà vua ( vua Lê Hiển Tông ) bằng những đường nét khách quan, không mấy sáng sủa…

Vua Lê đã vậy. Còn chúa Trịnh thì sao? Cuối tác phẩm, Niên phả lục ghi:“ Gần đây, chúa thượng chỉ nằm một chỗ mà điều khiển triều đình, bên trong thì mê muội vì một người đàn bà nhan sắc, bên ngoài thì bị bọn tà thần lừa dối, cái thế của non sông đang chuyển dời, dần dần khó mà kéo lại được…”. Đây có lẽ là 1 đoạn văn kì lạ và rất hiếm hoi, được Trần Trợ ghi ở phần Tục phả của Niên phả lục năm 1767 ( sau 3 năm tác phẩm hoàn thành – 1764 - và trước 3 năm Trần Tiến mất - 1770), ở cuối tập 2 - Trần Khiêm Đường niên phả lục, báo hiệu rất sớm, trước đến hơn 20 năm, sự sụp đổ tất yếu của triều đình Lê - Trịnh, khi Tây Sơn kéo quân ra Bắc.

Về quân sự, nó mô tả các cuộc giao tranh của quân triều đình và quân khởi nghĩa, như một quyển nhật kí chiến tranh. Nguyễn Đăng Na nhận xét: từ trước đến nay, “ chưa có tài liệu nào ghi lại đầy đủ, chính xác đến từng ngày, từng giờ, từng địa điểm, số quân, số thuyền bè, súng ống, diễn biến chiến sự… như bộ Niên phả lục của Trần Tiến”. Nó mô tả rất trung thực khách quan hai trận tuyến, nhưng chủ yếu là từ phía quân triều đình, với nhiều cuộc thắng to và cũng không ít cuộc thất bại thật thảm hại. Có hải đội ra quân, cuối cùng “ bị thua và bị giết, toàn quân bị lật chìm, tướng sĩ thì không một ai chạy thoát”. Viết về nông dân khởi nghĩa, gọi họ là“giặc”, tâu vua là họ “làm càn”, nhưng trong cả bộ sách, tuyệt không có một chữ nào xúc phạm, khinh miệt hay lên án họ, kể cả khi họ tàn phá gia đình mình, khai quật mộ bà nội mình, đốt cả làng mình để trả thù… Đó cũng là một điều hiếm thấy trong các tác phẩm chiến tranh từ xưa đến nay.

Về nhân vật, trong Niên phả lục, tác giả và nhân vật do tác giả xây dựng, thành nhân vật trung tâm “ để từ đây, mọi sự kiện được quan sát, đánh giá, miêu tả dưới điểm nhìn trực diện của anh ta. Điều này, tất cả các tác giả trước đây, chưa một ai làm được” ( Nguyễn Đăng Na). Chỉ xin nói về nhân vật Trần Cảnh. Đây là những chi tiết Trần Tiến ghi về người cha của mình trong đời thường, không phải là hư cấu theo phương pháp xây dựng nhân vật của tiểu thuyết. Có lẽ vì thế chăng mà nhân vật hiện lên rất sống động, từ những việc nhỏ bé hằng ngày với những phẩm chất mà đến nay vẫn có thể còn làm cho chúng ta ngạc nhiên.

Trần Cảnh 2 lần làm tể tướng. Lần thứ nhất năm 1741, lần thứ 2 năm 1749. Lần thứ 2 này, ông từ chối nhiều lần, vua buộc ông phải nhận việc. Khi lên đường về Thăng Long, kiểm tra tiền nong của cả gia đình chỉ còn có 30 quan tiền lẻ. Khi ông theo vua đi công cán, cả nhà ông đói đến mức, chính Trần Tiến phải đến bộ Lại xin được cứu đói. Ông thường dặn vợ con: “ Nhà mình vốn xuất thân là người dân cày, nên ăn mặc phải như những người tá điền. Phải tiết kiệm, nấu ăn không được để thừa”. Làm tể tướng mà ông vẫn ở trong nhà tranh vách đất. Cả đời chưa từng hối lộ ai, cũng chưa từng nhận của ai một đồng hối lộ. Ông rất ghét cho vay lấy lãi. Ông dặn con rất nghiêm khắc: “Ông ngoại ở làng Kiệt Đặc cho vay lấy lãi. Cái gì ông ngoại cho, các con không được mang về nhà”. Từ năm 1741, nhậm chức tể tướng lần thứ nhất, ông trả lại cho dân làng tất cả số ruộng đất ông đã mua từ lúc ra làm quan mà “không nhận về một đồng tiền chuộc”nào, vì mua ruộng bằng tiền lương tức là tiền của dân, nay trả lại dân sao còn nhận lại tiền. Khi đi làm việc quan, đến đâu, ông cũng lệnh trước cho quan nơi đó “ không được thết đãi bằng cách giết gà mổ lợn”. Khi ông 70 tuổi làm một cái lễ mừng thọ nhỏ trong gia đình, ông ghi trong giấy mời: “ Tuyệt đối không được mang đến bất cứ thứ quà cáp gì.”

Trong tập kể nhiều chuyện về ông. Khi làm Hiệp trấn Sơn Tây, có người phạm tội tham nhũng, bán cả nhà đi biếu ông, lại có quan đồng liêu xin cho, ông không nhận và “vẫn xử tử hình, tịch thu toàn bộ gia sản.” Rồi có một nhà buôn xin được vua cho phép độc quyền bán muối. Văn bản đến tay ông, ông không cho thực hiện và lập tức tấu trình xin hoàng thượng bãi bỏ, vì được thế, anh ta sẽ bán bóp chẹt dân, vì không có muối thì dân sống thế nào được, vua đành thôi, không nói gì.

Khi đang làm Tể tửu Quốc tử giám, 1740, vua cử ông làm “đốc đồng” ( nghĩa là cùng các tướng khác) tiễu trừ Nguyễn Tuân, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ nổi dậy ở bản huyện từ năm 1739. Lúc ấy, nghĩa quân đã rất mạnh, đánh chiếm nhiều vùng từ Hải Dương, Hưng Yên, An Quảng, đến Lạng Sơn. Nguyễn Tuyển tự xưng là Minh Chủ, Nguyễn Cừ tự xưng là Tiết chế . Ông xin vua cử người khác, vì cùng quê, nhưng vua dứt khoát không nghe. Sau đó, ông lại nhận cờ tiết và ấn “ Bình khấu đại tướng quân”, thống lĩnh các đạo quân đánh dẹp. Do đó quân của Nguyễn Tuyển đã tràn vào làng, đốt cả làng, phá đình làng, san phẳng nhà ông, đào mộ mẹ ông, rồi chém chết cả gia đình họ Nguyễn Xuân, người trông coi nhà ông, vì không khai mộ cha ông, mộ ông nội ông và mổ tổ họ Trần ở chỗ nào để cho nghĩa quân khai quật ( Hậu duệ của gia đình này - họ Nguyễn Xuân - 270 năm nay đều được Dòng họ mời dự giỗ và tri ân hằng năm - cho đến hiện nay). Niên phả lục ghi: “tất cả nhà cửa đều bị giặc phá hủy, chỉ còn lại một mành đất trống không mà thôi”. Vậy mà đến khi cuộc khởi nghĩa tan, quân sĩ 700 người bị bắt, vua cho xử tử, ông mất ngủ 1 đêm soạn tờ khải, sáng sớm sau dâng vua “ cúi xin chúa thượng mở lòng hiếu sinh lớn lao của trời đất” “an ủi trăm họ ngày đêm mong ngóng”, xin cho chỉ chém chủ tướng là Cừ ( văn bản không ghi họ của Nguyễn Cừ và không ghi Nguyễn Tuyển) (1) còn phó tướng thì chặt chân, để không làm loạn lần sau, rồi tha, còn lại xin tha hết, vì họ cũng là “dân đen của triều đình”, chỉ muốn làm ăn yên ổn, vì bức bách quá mà phải “ gửi thân cho giặc”. Vì ông là một trong các chủ tướng, gia đình và làng quê ông lại bị hại, mà ông xin cho, nên vua nghe, còn các quan tướng khác thì rất tức giận…

Sau đó ông xin về hưu, chiêu mộ dân li tán sau những năm loạn lạc, vì các cuộc khởi nghĩa, ở các huyện, khai hoang lập ấp ở một số làng xã, dọc triền sông Kinh Thày, từ Nam Sách, Chí Linh, Kinh Môn (Hải Dương) đến Đông Triều (Quảng Ninh) và Thuỷ Nguyên (Hải Phòng) hiện nay, thời ấy đều thuộc đạo Hải Dương, được vua Lê phong chức “Hải Dương khuyến nông sứ”. Trên cơ sở hướng dẫn dân trồng cấy, ông đã soạn bộ sách Minh nông chiêm phả, dâng vua Cảnh Hưng (Lê Hiển Tông) năm Kỷ Tị (1749), như đã nêu ở trên.

Khi làm Điền chánh sứ, ông xin vua cho “chia lại ruộng đất một cách chính thức, tước ruộng cuả kẻ mạnh, chia cho người yếu”. Do đó “những kẻ cùng đinh được thân oan đội ơn, còn bọn cường hào quyền quí thì phần nhiều không bằng lòng”. Cũng vì thế, trong triều, ông rất cô độc, “khi có sự, không ai nói đỡ cho một câu”. Có lần trái ý vua, ông bị hạ xuống đến 6 bậc, phải giúp việc cho người hầu của mình. Thời gian sau, chính vua Lê Hiển Tông phục chức cho ông, đã nói trước triều đình :“Ông Trần bị giáng đến thế, mà không hề ca thán gì, cũng không nhờ vả ai xin xỏ cho…”.

Khi mới nhậm chức tể tướng lần thứ hai, được 2 – 3 năm ( 1749 – 1752), ngày 20 tháng 9, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 13 ( 1752), ông đã xin vua cho nghỉ việc “ để dành chỗ cho người hiền tài” và viết thư cho người được vua rất tin cậy, là quan đốc xuất Hải Quận công Phạm Đình Trọng, có câu: “ Mong ngài giúp đỡ vài lời, khải tấu ( với vua) nói đầy đủ những điều kém cỏi của tôi, không thể đảm đương được việc, tốt nhất là cho về hưu. Được thế, xin khắc cốt ghi xương, ơn cao coi bằng núi Thái ”. Nếu cái thư đó không còn lưu trong Niên phả lục, thì ngày nay chúng ta khó mà tin được.

Những phẩm chất như thế phải nói là rất hiếm trong số các quan lại thời xưa, và không có lợi cho việc tuyền truyền chống lại nhà nước phong kiến, áp bức bóc lột nhân dân, đối tượng phải lật đổ của cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, nhất là nhân vật này, bị coi là có tội vì đã cầm quân đánh dẹp 2 cuộc khởi nghĩa lớn nhất của thế kỉ thứ XVIII là cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ và tham gia hợp đồng đánh Nguyễn Hữu Cầu ở giai đoạn đầu. Vì thế mà ta ngần ngại khi quảng bá tác phẩm này chăng?

Trên đây, mới chỉ nói về tập 1 của bộ Niên phả lục. Tập 2 là kí tự thuật, chủ yếu thuật lại việc đi thi rồi đi chấm thi của tác giả và ta được biết, lúc đó đi thi, thi đỗ, nhiều trường hợp đã là kết quả của hối lộ và mua bán bằng cấp rồi. Tập 2 này là kí dân sự, không nằm trong sự quan tâm của bài viết, nên giá trị riêng biệt của nó, xin phép được nêu vào một dịp khác.


Khoảng trước năm 1975, tôi có đọc một bài nghiên cứu, tôi có lưu bản in lại, nhưng hiện chưa tìm thấy để dẫn ra tên bài và tên tác giả - hình như của GS Trần Nghĩa thì phải - tôi không dám chắc (?) - chứng tỏ sau Nguyễn Trọng Thuật và trước Nguyễn Đăng Na, Niên phả lục đã có nhiều người đọc, không rõ qua nguồn nào. Sau khi đánh giá cao giá trị về văn chương và các tư liệu lịch sử của tác phẩm, bài viết tỏ ý rất lấy làm tiếc về việc tác phẩm này lại ca ngợi một vị tướng đã nhiều lần đánh dẹp nông dân khởi nghĩa, và nêu một ý nghĩ phân vân rằng, đây là con viết về cha sau khi cha đã mất, liệu những phẩm chất cao đẹp của nhân vật chính, tác giả có tô vẽ thêm không?

Đã có thời chúng ta rất khe khắt với những tác phẩm viết về chiến tranh, nhất là tác phẩm đó lại được nhìn từ phía bên kia, nên đã cấm không cho tái bản Chinh phụ ngâm , khúc ngâm của người vợ lính, có chồng đi đánh dẹp nông dân khởi nghĩa, và đưa tác phẩm cổ điển kiệt xuất này ra khỏi trường học. Ở thời đại nào cũng vậy, khi đã tham gia việc binh, thì cấp trên sai ra trận, anh không thể thoái thác và cố làm tốt nhất trong phạm vi có thể, để lập công cũng có, nhưng để quan trọng hơn, là bản thân mình và gia đình mình không bị liên lụy. Cũng như thế, là trường hợp của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bồi tụng Bùi Huy Bích… từng chỉ huy đánh dẹp nông dân khởi nghĩa ở thời Lê và thi hào Nguyễn Công Trứ ở thời Nguyễn, còn bạo liệt hơn, đã đốt cháy cả rừng Thẩm Pát, Tuyên Quang (nay thuộc Cao Bằng) để thiêu cháy tàn quân và lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa là Nùng Văn Vân, vân vân… Nhưng cả 3 trường hợp trên, việc đánh dẹp nông dân khởi nghĩa, đều nằm ở ngoài tác phẩm, nên tác phẩm của 3 ông và bản thân 3 ông, có lẽ vì thế, dễ được chấp nhận hơn chăng?...

Với tư duy khoa học và lịch sử, lại được hoàn thiện hơn sau Công cuộc Đổi Mới đất nước, khởi đầu từ năm 1986, những hạn chế tất yếu của lịch sử như trên, sẽ được thể tất và những giá trị lớn khác sẽ được gạn đục khơi trong, ghi nhận một cách xứng đáng. Đó cũng là lí do để tên Trần Cảnh đã được đặt cho một đường phố ở phường Cẩm Thượng, TP Hải Dương. Trong một tương lại gần, những hạn chế lịch sử đó, tôi rất tin là sẽ được nhìn nhận lại khách quan hơn và cũng rộng rãi hơn, thì những đặc sắc của bộ kí Niên phả lục sẽ được đánh giá đầy đủ hơn và được xếp đúng bậc thang giá trị mà nó thực đã có, trong kí trung đại Việt Nam nói riêng và trong nền văn học Việt Nam nói chung./.


(1) Nguyễn Cừ bị Phạm Đình Trọng bắt ở chân núi Yên Tử huyện Đông Triều, tháng 7/1741; Còn Nguyễn Tuyển đã bị Hoàng Nghĩa Bá chém bị thương trong trận ở Phao Sơn, rồi lại bị bắn tên, nên tử trận trên đường rút chạy, từ tháng 2 năm 1741)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 20.11.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004