Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

tượng Lý Thái Tổ


Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (38)



Nhà Tiền Lê Đổ - Lý Công Uẩn Lên Ngôi







L ê Đại Hành có 12 con trai. Giữa năm 1005. Lê Đại Hành mất. Các con ông đánh nhau. Tranh vua. Loạn nước. Loạn nhà. Phá đạo làm người. Tám tháng, Đại Cồ Việt không có vua. Tranh chấp chính giữa thái tử Lê Long Việt và hoàng tử thứ hai Ngân Tích. Tháng 10- 1005. Ngân Tích thua, chạy đến châu Thạch Hà (Hà Tĩnh). Bị người bản địa giết.

Lê Long Việt lên làm vua, là Lê Trung Tông. Sinh năm 983 tại Hoa Lư, là con Lê Đại Hành và bà Chi hậu Diệu Nữ.

Làm vua ba ngày. Lê Trung Tông bị Lê Long Đĩnh em cùng mẹ. Sai người trèo tường, lẻn vào cung giết. Thọ 22 tuổi.

Đại Việt sử ký toàn thư chép "Vua lên ngôi được 3 ngày thì bị Long Đĩnh giết. Bầy tôi đều chạy trốn, duy có Điện tiền quân là Lý Công Uẩn ôm xác mà khóc".

Lê Long Đĩnh lên ngôi. Lý Công Uẩn làm Tứ sương quân phó chỉ huy sứ.

Đại Việt sử ký toàn thư Ngô Sĩ Liên viết:

"Đại Hành băng, Trung Tông vâng di chiếu nối ngôi. Long Đĩnh làm loạn, Trung tông vì anh em cùng mẹ không nỡ giết, tha cho. Sau Long Đĩnh sai bọn trộm cướp đêm trèo tường vào cung giết Trung Tông."

Theo gia phả Lê tộc sinh hạ của nhà Hậu Lê. Lê Trung Tông chết. Vợ Phạm Thị Duyên và con trai Lê Long Diên được các trung thần nhà Tiền Lê đưa chạy trốn về khu cửa sông Cà Lồ. Tại thôn Phương La Đông, xã Tam Giang, huyện Yên Phong- Bắc Ninh, nay còn dấu tích một dòng họ là hậu duệ của vua Lê Trung Tông. Cụ Tổ dòng họ để lại ba câu chữ Hán "Tránh cái hiểm họa Long Đĩnh. Di chuyển gia quyến đến cửa sông Cà Lồ. Giấu họ, đổi tên mà lập nghiệp".

Lê Long Đĩnh & nhà Tống

Lê Long Đĩnh (986- 1009) sử sách Việt gọi là Lê Ngọa Triều, vua cuối cùng của nhà Tiền Lê. Cai trị bốn năm (1005- 1009). Cái chết bí ẩn của ông ở tuổi 24, đã chấm dứt nhà Tiền Lê. Quyền cai trị nước, chuyển nhà Lý.

Sử sách ghi Lê Long Đĩnh là một kẻ dâm đãng, tàn bạo, độc ác. Thái độ thiết triều bê bết, bị gọi là Lê Ngọa Triều.

Lê Đại Hành chết. Một số quan lại ở vùng biên ải phía Nam nước Tàu, dâng thư. Thúc vua Tống nhanh chóng lợi dụng cơ hội này. Đánh chiếm Đại Cồ Việt. Vua Tống không chấp thuận, nói:

Họ Lê thường sai con sang chầu, góc biển ấy vẫn được yên, chưa từng bất trung, bất thuận. Nay nghe tin Lê Hoàn mới mất, chưa có lễ thăm viếng mà đã vội đem quân đánh kẻ đang có tang, đó chẳng phải là việc làm của đấng vương giả.

Năm 1006. Vua Lê Long Đĩnh sửa đổi quan chế và triều phục của các quan văn võ và tăng đạo, nô lệ theo nhà Tống.

Năm 1007. Lê Long Đĩnh sai em là Minh Xưởng và phụ tá Hoàn Thành Nhã dâng nhà Tống tê ngưu trắng và xin kinh Đại Tạng. Nhà Tống phong Long Đĩnh làm Giao Chỉ Quận Vương lĩnh Tĩnh Hải quân tiết độ sứ.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư , năm 1009. Lê Long Đĩnh xin được đặt người coi việc tại chợ trao đổi hàng hóa ở Ung Châu thuộc Tàu. Nhưng Tống Nhân Tông chỉ cho mua bán ở chợ. Trao đổi hàng hóa tại Liêm Châu và trấn Như Hồng, là những nơi giáp vùng biên giới.

Trong Việt Nam Phật giáo sử lược Thiền sư Thích Mật Thể viết:

Niên hiệu Ứng Thiên thứ 14 (1008), sau khi nước ta đã hòa với Tống rồi, vua Đại Hành sắc ông Minh Xưởng và ông Hoàng Thành Nhã sang sứ nước Trung Hoa, cống hiến đồ thô sản và xin vua Tống ban cho bộ "Cửu kinh" và "Đại Tạng kinh". Vua Tống trao cho những bộ ấy và cho sứ giả đưa về. Đó là lần đầu tiên nước ta cho người sang cầu kinh bên Trung Hoa vậy.

Các nhà nghiên cứu nhận xét, do nhầm lẫn, hoặc do ghét Lê Long Đĩnh, Thiền sư Thích Mật Thể đã viết đoạn này không đúng. Lê Đại Hành mất năm 1005. Lê Long Đĩnh cai trị từ năm 1006. Đến năm 1008 vẫn giữ niên hiệu Ứng Thiên của Lê Đại Hành. Đại Việt sử ký toàn thư chép Lê Long Đĩnh sai Minh Xưởng và Hoàng Thành Nhã dâng tê ngưu trắng cho nhà Tống và xin kinh Đại Tạng.

Lê Long Đĩnh chết. Con trai là Sạ còn bé. Quan Chi Hậu Đào Cam Mộc đạo diễn. Triều thần tôn Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế. Sáng lập triều nhà Lý.

Lê Long Đĩnh & Những hành động Tâm thần

Đại Việt sử ký toàn thư Lê Văn Hưu nói:

Ngọa Triều giết anh, tự lập làm vua; bạo ngược với dân chúng để thỏa lòng hung ác, đến nỗi mất nước mất ngôi, không phải là sự bất hạnh của nhà Lê, lỗi ở Đại Hành không sớm đặt Thái tử và do Trung Tông không biết phòng giữ từ khi mới chớm nên đến nỗi thế.

Đại Việt sử lược (trang 33, quyển 1, bản điện tử) viết:

Phàm đánh trận, bắt được quân địch vua cho áp giải đến bờ sông. Lúc nước thủy triều rút xuống thì sai làm cái chuồng dưới nước, rồi đuổi tù binh vào trong chuồng. Khi nước thủy triều dâng lên, tù binh ngộp hơi thì hả miệng ra rồi uống nước mà chết. Lại bắt (tù nhân) treo lên cây cao rồi sai người ở dưới chặt cây. Có khi vua đi chơi ở sông Chi Ninh, sông có nhiều thuồng luồng, bèn trói người ở một bên ghe, rồi cho ghe qua lại ở giữa dòng nước, khiến cho thuồng luồng nó sát hại đi. Còn phàm những con vật (nuôi để cúng tế) đem cung cấp cho nhà bếp, trước tiên phải sai người khiên vào để tự tay vua đâm chết đã, rồi sau mới giao cho người nấu bếp. Lại khi, nhà vua đặt mía trên đầu bậc tu hành là đức Tăng thống Quách Mão mà róc, rồi giả vờ sút tay dao phập vào đầu Quách Mão chảy máu ra, vua cười rầm lên. Hoặc đêm đến vua sai làm thịt mèo để cho các tướng vương xơi. Ăn xong vua đem đầu mèo bày ra, các tước vương đều mửa thốc mửa tháo. Mỗi khi đến buổi chầu thì sai những tên hề ra nói leo lẻo luôn mồm để làm khỏa lấp lời những ai bẩm bạch về việc gì. Lại thấy kẻ giữ cung làm món chả thì đến cùng người tranh nhau mà ăn...

Trong bài Bệnh án của Ngọa Triều Hoàng Đế Hồ Đắc Duy viết: "Chỉ có những người mắc bệnh tâm thần, với một đầu óc bệnh hoạn mới tưởng tượng ra các trò chơi giết người phong phú như đoạn văn trên mô tả những hành vi độc ác mất hết tính người".

Các bộ sử cổ của Việt Nam như Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử Thông giám cương mục thống nhất chép tháng 10- 1009, Lê Long Đĩnh chết. Do hậu quả của sự hoang dâm, mê tửu sắc.

Lê Ngọa Triều ăn cơm Việt, lấy vợ Tàu

Theo tác giả Nguyễn Thanh Tuyền (Website Kiến Thức). Sử sách ghi Tiêu Thị là nữ nhân ngoại quốc đầu tiên nhập cung Đại Cồ Việt.

Lê Long Đĩnh lên ngôi vấp phải sự chống đối của Trung Quốc Vương, cùng hai vương gia là Ngự Bắc Vương và Ngự Man Vương. Lê Long Đĩnh phải tự cầm quân dẹp. Ngự Bắc Vương chống đỡ không nổi, đã bắt Trung Quốc Vương và đến đầu hàng Lê Long Đĩnh. Trung Quốc Vương bị chém đầu. Ngự Bắc Vương được tha bổng. Sau đó, Ngự Man Vương quy hàng.

Dẹp yên họa trong nước. Lê Ngọa Triều lại phải đương đầu với sự uy hiếp của nhà Tống. Biết Đại Cồ Việt loạn. Viên quan coi giữ Quảng Châu nước Tống, dâng thư xin Hoàng đế Tống phái binh đánh chiếm Đại Cồ Việt.

Tống Chân Tông (997- 1022) vẫn chưa quên lần xâm lược đại bại năm 981. Không dám xuất quân. Nhưng vẫn ra vẻ nước lớn. Sai sứ sang hăm dọa Lê Ngọa Triều. Nếu không sớm ổn định tình hình. Nhà Tống sẽ đem quân sang hỏi tội.

Hèn yếu, sợ nhà Tống. Lê Ngọa Triều đã cư xử nhún nhường với sứ giả. Xin cho em trai sang Tàu tiến cống.

Đầu năm 1007. Lê Ngọa Triều cử em Lê Minh Xưởng làm Chánh Sứ, dẫn đoàn sứ bộ Đại Cồ Việt sang nhà Tống.

Đại Việt sử kí toàn thư chép:

“Mùa xuân (năm 1009), Minh Xưởng ở Tống về, xin được kinh Đại Tạng và dụ được người con gái nước Tống là Tiêu Thị đem dâng. Vua cho làm cung nhân”.

Tiêu Thị là cung phi ngoại quốc đầu tiên trong hậu cung nước Việt. Trước đó. Lê Đại Hành đánh Chiêm Thành và đưa về nước nhiều kỹ nữ Chiêm. Nhưng không có tư liệu xác nhận Lê Đại Hành nạp họ làm phi.

Lê Ngọa Triều đã tạo tiền lệ cho các vua thời sau. Họ lấy vợ người Tàu, người Chiêm Thành, người Ấn Độ và người phương Tây.

Thói đam mê tửu sắc, dâm dục vô độ kéo dài, chất chứa thành bệnh. Vài tháng sau ngày có Tiêu Thị. Lê Long Đĩnh lâm bệnh nguy nan. Chết trẻ.

Ngày nay, một vài ý kiến bênh Lê Long Đĩnh. Nhưng không thể bênh nổi. Lê Long Đĩnh giết anh, cướp ngôi. Tham Ác tranh Quyền/ Tiền. Bất tài. Vô dụng. Hèn kém. Vô Đạo. Vô Thần. Hám mê tửu sắc. Không xứng làm vua.

Dù Lê Long Đĩnh cũng cố xoay xở, cúi đầu phò Tống, sang Tàu xin kinh, mở đường sông nước… Nhưng chỉ cầm quyền được bốn năm.

Triều đình Lê Long Đĩnh suy đồi. Dẫn đến cung đình sụp đổ. Trách ai? Oán ai? Đổ tội cho ai? Lịch sử không ghi nhận các thế lực thù địch diệt nhà Tiền Lê. Vua không xứng làm vua. Vua tự chết. . Luật đời Nhân quả. Kẻ thù của mình là chính mình. Triều Tiền Lê đổ sụp. Dân vỗ tay hoan hô.

Các Thiền sư & Sự kiện Lý Công Uẩn lên ngôi

Triều Tiền Lê mục nát. Rỗng. Sụp. Đổ. Những Tinh hoa dân Việt hội tụ. Cứu Nước. Cứu nhà. Họ tỉm Hiền tài gánh trọng trách Quốc gia. Thay ngôi vua sang nhà Lý. Không đổ máu. Triều đình nhà Tiền Lê tự vỡ nát vì Ác Tham và suy đồi cực độ. Tạo điềm lành cho Lý Công Uẩn lên ngôi.

Hiện tượng Lý Công Uẩn lên ngôi là Đất-Trời- Người linh cảm ứng. Hóa sinh. Sinh hóa. Cứu nước Đại Cồ Việt và người dân Việt. Các Thiền sư thời Đinh & Tiền Lê tu đắc đạo, để lại những giá trị lớn về văn hóa Phật giáo Việt Nam. Về lĩnh vực an dân, trị nước, các Thiền sư góp phần quan trọng, đưa Lý Công Uẩn lên ngôi.

Sử sách Việt ghi nhiều giai thoại về những lời tiên tri Lý Công Uẩn lên ngôi vua. Lập nên triều Lý hùng cường, với quốc gia Đại Việt vững mạnh ở thế kỷ XI- XIII.    

Người có dự cảm sớm nhất đối với sự ra đời của nhà Lý trong lịch sử nước Việt là thiền sư Định Không. Đệ tử đời thứ 7 của Thiền phái Diệt Hỷ. Thiền sư Định Không, họ Nguyễn, ở làng Cổ Pháp, phủ Thiên Đức (nay là phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn- Bắc Ninh).

Ông nổi tiếng là người am hiểu Thế, Số. Sách Thiền Uyển tập anh cho rằng, ngay từ thời điểm năm 785 đến 804, tức hơn 200 năm trước khi Lý Công Uẩn lên ngôi. Thiền sư Định Không đã dự cảm, triều nhà Lý xuất hiện. Câu chuyện huyền bí này, gắn với ngôi chùa Quỳnh Lâm (tức chùa Đài hay còn gọi là chùa Lục Tổ, ở Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh) nổi tiếng đất Kinh Bắc.

Tương truyền, khi xây chùa Quỳnh Lâm, lúc mới đào đất đắp nền đã phát hiện 1 cái ly hương và 10 cái khánh. Sư sai người đem xuống sông rửa sạch.

Một cái khánh bị rơi xuống đáy sông. Thiền sư Định Không cho rằng đây là điềm báo tốt. Ông nói với mọi người: Chữ thập , chữ khẩu hợp thành chữ cổ . Chữ thuỷ , chữ khứ hợp thành chữ pháp . Chữ thổ chỉ làng ta ở. Định Không đặt tên làng mình từ Diên Uẩn thành Cổ Pháp.

Sau đó, Thiền sư tụng:

       Hiện ra pháp khí/ Mười hai chuông đồng
             Họ Lý làm vua/ Ba phẩm thành công.

Tương truyền, trước khi sắp tịch, sư Định Không gọi đệ tử Thông Thiện, nói: "Ta muốn mở rộng làng xóm nhưng e nửa chừng gặp tai hoạ, chắc có kẻ muốn phá hoại nước ta. Sau khi ta mất, con cố giữ đất Cổ Pháp này, rồi gặp người họ Đinh thì truyền".

Lời dặn của Thiền sư Định Không với đệ tử Thông Thiện sau này, diễn ra, đúng sự thực. Người ngoại quốc mà Không Định nhắc đến là Cao Biền- Tiết độ sứ Tĩnh Hải Quân (tên gọi nước Việt thời 866- 968). Cao Biền gây tội ác với dân Việt, yểm phá long mạch, khi làm Tiết độ sứ nước Việt.

Liên quan đến sự ra đời của vương triều Lý, còn một Thiền sư nổi danh, của Thiền phái Diệt Hỷ. Thiền sư Vạn Hạnh, đời thứ 12 của Thiền phái Diệt Hỷ. Là người thầy nuôi dưỡng, dạy Lý Công Uẩn từ nhỏ, và giúp Lý Công Uẩn lên ngôi.

Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 2, tờ 1-a) chép:   Thái Tổ hoàng đế họ Lý, húy là Công Uẩn, người châu Cổ Pháp, Bắc Giang (nay là đất Tiên Sơn, Bắc Ninh), mẹ người họ Phạm, đi chơi chùa Tiên Sơn (nay thuộc Từ Sơn, Bắc Ninh), có thai với thần nhân, sinh ra vua vào ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất (năm 974). Việc này, cứ như sử cũ mà xét, thì đã có sự báo trước

Sử sách ghi những điềm báo Lý Công Uẩn lên ngôi.

Đại Việt sử kí toàn thư (tờ 1-b) chép:

“Trước ở viện Cảm Tuyển, chùa Ứng Thiên Tâm (châu Cổ Pháp) có con chó con mới sinh, sắc trắng, lông có đốm đen, kết thành hình hai chữ Thiên tử”.

Kẻ thức giả nói đó là điềm năm Tuất (năm con chó), đất ấy sẽ sinh ra Thiên tử. Vua Lý Công Uẩn sinh năm Giáp Tuất, sau lên làm thiên tử, quả là ứng nghiệm.

Theo Thiền Uyển tập anh , cây gạo làng Diên Uẩn do thiền sư Đinh La Quý trồng ở chùa Châu Minh, thuộc hương Cổ Pháp vào năm 936 thời Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ.

Năm 1009. Sau 73 năm tồn tại. Cây gạo làng Diên Uẩn bị sét đánh nhưng không chết. Theo ghi chép của các bộ sử như: Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử tiêu án, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tại chỗ sét đánh trên thân cây có bài thơ sấm. Các nhà nghiên cứu cho rằng tác giả là sư Vạn Hạnh.

Khả năng Tiên tri của các Thiền sư Đinh, Tiền Lê, Lý

Các nhà nghiên cứu khẳng định. Ngoài tài năng về Võ học, các Thiền sư thuộc Thiền phái Diệt Hỷ được ca ngợi như những nhà Phong thuỷ bậc thầy. Họ được biết đến bởi khả năng tiên tri linh nghiệm.

Nhiều câu chuyện cho thấy, các Thiền sư thuộc Thiền phái Diệt Hỷ đã tiên liệu được sự xuất hiện của nhà Lý. Họ dự báo Lý Công Uẩn lên ngôi vua từ hàng trăm năm trước.

Không chỉ có một Thiền sư Định Không. Còn nhiều Thiền sư các đời kế tiếp của Thiền phái Diệt Hỷ, được lưu truyền là có biệt tài về phong thuỷ và có khả năng dự đoán được tương lai. Nhiều huyền sử ghi tên tuổi của nhiều vị Thiền sư như Trưởng lão La Quý, Thiền sư Vạn Hạnh. Họ đều là những bậc thầy về Phong thuỷ và có khả năng Tiên tri.

Thiền sư Định Không viên tịch. Thiền sư Thông Thiện theo lời dặn của thầy, suốt ngày tu luyện, giữ Cổ Pháp. Lời truyền dạy của thiền sư Định Không đã ứng nghiệm khi thiền sư Thông Thiện đã gặp được một người học trò họ Đinh và truyền pháp cho. Đó là Trưởng lão La Quý.

Sử chép, Trưởng lão La Quý người An Chân (Thái Bình ngày nay). Ông tu tại chùa Song Lâm, làng Phù Ninh, phủ Thiên Đức (Từ Sơn, Bắc Ninh). Thuở nhỏ, Trưởng lão La thường chu du khắp các phương. Trải qua nhiều năm không gặp đạo duyên, Trưởng lão La sắp thối chí.

May mắn. La Quý gặp được pháp hội của Thông Thiện. Nghe một lời. Lòng Thiền khai ngộ. Chịu phục thờ làm thầy. Được Thiền sư Thông Thiện truyền pháp. La Quý ra sức tu luyện đến khi đắc pháp. Thiền sư La Quý tuỳ phương diễn hoá. Tài phép vô biên. Mỗi khi ngài nói ra lời nào, đều là sấm truyền.

Cuộc đời Thiền sư La Quý gắn với giai thoại hàn long mạch. Phá trấn yểm của Cao Biền. Theo Thiền Uyển tập Anh khi Cao Biền sang nước ta, xây thành bên sông Tô Lịch. Biết đất Cổ Pháp có khí đế vương, Cao Biền đào đứt con sông Điềm và những ao Phù Chẩn. Số lượng là 19 chỗ trấn yểm. Việc Cao Biền trấn yểm, để nước Việt mãi là vùng đất thuộc nước Tàu. Là một hành động rất nham hiểm. Nhưng cũng rất vi diệu. Người thường không dễ nhận ra.

Trưởng lão La Quý, khi "đắc pháp". Ông đã phát hiện được điều này. Chính ông là người cho tiến hành lấp lại các điểm Cao Biền sai người đào, phá long mạch. Trưởng lão La Quý đã trồng một cây bông gạo ở chùa Châu Minh để hàn long mạch nhằm trấn chỗ đứt. Cây gạo La Quý trồng, gắn với giai thoại, sét đánh thành bài sấm truyền cho sự lên ngôi của Lý Công Uẩn.

Khi trồng cây gạo này. Trưởng lão La Quý làm bài thơ: "Đại sơn đầu rồng ngửng/ Đuôi cù chẩn Châu Minh/ Thập bát tử định thành/ Bông gạo hiện long hình/ Thỏ gà trong tháng chuột/ Nhất định thấy trời lên".

Bài thơ này là lời sấm truyền báo hiệu ngày, tháng, sự ra đời của vua Lý Công Uẩn. Bài thơ dự báo sự ra đời của nhà Lý vào tháng 10 năm Dậu. Sau này, nhà Lý ra đời đúng vào tháng 10 năm Đinh Dậu.

Thiền sư Vạn Hạnh thấu thông ba cõi

Đến nay, tên tuổi Thiền sư Vạn Hạnh tỏa sáng Việt Nam. Truyền kỳ về sự thấu thông ba cõi Sư nói lời nào, thiên hạ cho là phù sấm.

Vua Lý Nhân Tông đã làm kệ (thể thơ phổ biến thời Lý- Trần), ca ngợi tài năng thấu suốt tất cả sự việc của quá khứ, hiện tại và thời vị lai của Thiền sư Vạn Hạnh:

"Vạn Hạnh dung ba cõi/ Thật hiệp lời sấm xưa/ Quê hương tên Cổ Pháp/ Chống gậy trấn kinh đô".

Sư Vạn Hạnh là thầy của Lý Công Uẩn. Người đã nuôi dạy và giúp Lý Công Uẩn làm vua. Ngày vua Lý Thái Tổ lên ngôi tại cung đình Hoa Lư- Ninh Bình. Sư Vạn Hạnh ở chùa Quỳnh Lâm- Bắc Ninh đã biết trước mọi việc, bảo với người bác và chú của vua: "Thiên tử đã băng, Lý Thân vệ (Lý Công Uẩn) hiện đang ở nhà. Trong trưa nay, Thân vệ ắt được lên ngôi".

Thiền sư Vạn Hạnh cho yết bảng ở đường cái. Tuyên bố nhà Lý thay nhà Lê:

Tật lên chìm bể Bắc/ Hạt Lý mọc trời Nam/ Bốn phương gươm giáo dẹp/ Tám cõi mừng bình an.

Giải thích về mối quan hệ giữa Thiền học, Võ học, Phong thuỷ và dự báo, võ sư Nguyễn Văn Thắng cho rằng: "Ngày trước các thầy Võ thường rất giỏi về Văn, Y, Lý, Số. Điều này không có gì là lạ. Bởi, Năng lượng đi cùng với Khí công. Khí công hỗ trợ cho lực Võ. Ý sinh khí, khí sinh lực, lực tạo công năng. Võ giỏi đều phải giỏi Khí công, đỉnh cao của Khí công tức là tĩnh, là Thiền định. Võ thuật là Thiền định. Thiền định là Tâm linh. Tâm linh là Phong thuỷ, là để hoà hợp với Đất Trời. Phong thuỷ liên quan đến dự báo (Tiên tri). Bởi trong Hình có Khí, trong Khí chứa đựng Tâm linh. Hình thể như thế nào, thì Khí như vậy".

Dùng gậy của nhà Phật để trấn giữ kinh kỳ

Theo tác giả Lý Khôi Việt (saigontimesusa.com).

“Sau đêm dài man rợ, rùng rợn của thời đại Bắc Thuộc, sau thời  kỳ loạn lạc suy tàn của ba chế độ  pháp trị và bạo trị ngắn ngủi Ngô,  Đinh, Lê, tất cả đều phải được  làm lại, tất cả đều phải được  bắt đầu lại, đó là sứ mạng của thời đại. Trước họa nội chiến, trước nạn ngoại xâm, trước chế độ độc tài, tàn bạo, dân tộc cần được cứu nguy, đất nước cần được quang phục, con người cần được giải phóng.  Đó là tiếng kêu, đó là nhật lệnh của lịch sử. Dưới sự cai trị bạo ác của chế độ Lê Long Đĩnh dân tộc ta bị kéo lê lết, lầm lũi đi xuống vực thẳm, họa nội chiến chực xô đẩy dân tộc xuống đồng lầy, nạn ngoại xâm chực đạp đầu dân tộc xuống bùn đen.

Thế rồi, trong cơn nguy biến ấy, trong giờ phút hấp hối ấy, bỗng nhiên, Thiền Sư Vạn Hạnh xuất hiện, thần tốc  vung tay, siêu việt chuyển hóa, dũng mãnh  hành hoạt đem Trụ tích trân vương kỳ. (Dùng gậy của nhà Phật để trấn giữ kinh kỳ).

Bằng  cái Thiền trượng mầu nhiệm ấy.  Thiền Sư Vạn Hạnh đã tung mình bay đến, đứng trên bực thẳm, hùng  tráng nhảy vọt qua hố thẳm, bay bổng  qua cánh đầm lầy và Thiền Sư đã  mang cả dân tộc vượt thắng, vượt qua, vượt lên hố thẳm diệt vong và đầm lầy suy vi. Không những mang cả dân tộc cùng đi, Thiền Sư Vạn Hạnh còn cõng cả thời đại trên lưng để bay đi kỳ vĩ- từ vực sâu bạo trị, vô trị của các nhà Ngô, Đinh, Lê đến đỉnh cao, Văn Trị và Đức Trị của thời đại Lý, Trần, thời đại hưng thịnh nhất, tuyệt vời nhất và vinh quang nhất của dân tộc”.


(… Còn tiếp ...)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 10.11.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004