Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




VÀI TỤC CÚNG (2)







5. Cúng mùng năm tháng năm (còn gọi là Tết Đoan Ngọ)


Năm nào cũng vậy, cứ đến mùng năm tháng năm âm lịch, nhà nào cũng bày một dĩa bánh ú nước tro tức là bánh ú làm bằng nếp ngâm trong nước tro củi, sau đó làm bánh. Bánh có ba chóp nhọn và gói bằng lá tre nên hơi nhám để thả xuống sông cá không ăn được. Có lẽ việc thả xuống sông nầy là ở thời xa xưa chớ ngày nay tôi không thấy ai thả xuống sông cả. Mỗi cái bánh ú lớn bằng ba ngón tay chụm lại hay lớn nhứt là lớn hơn ngón chưn cái người lớn một chút. Nếp nước tro nên bánh ú ửng màu đỏ sậm, ăn có hương vị đặc biệt và hơi dai. Tới năm 2015 tôi thấy bánh ú bán ít hơn các năm trước. Nhiều người quên ý nghĩa của việc cúng bằng bánh ú nên có người cũng cúng bằng chè hay bánh ngọt nữa.

Đúng mười hai giờ trưa có tục muối mắt nghĩa là người ta ra sân cầm một hay vài hột muối, nhìn lên mặt trời, đặt hột muối ở trước con mắt một chút và nói làm vậy cho mắt tỏ.

Sáng mùng năm, nhà nào cũng chặt một nhánh xương rồng treo trước cửa. Sau nầy xương rồng ít ai trồng nên người ta thay bằng một bó ô rô gọi là để trừ tà. Ngày nay sông rạch bị lấp nhiều, ô rô cũng khó kiếm nên người ta treo bằng một bó nhánh cây nhỏ có lá sum suê mà tôi không biết là cây gì. Họ bán ngoài chợ, cứ mua về treo.

Khi cúng bánh ú, sau khi đốt đèn, tôi nghe vái là: “Hôm nay tôi cúng mùng năm tháng năm tức là Tết giữa năm, cầu Trời Đất phò hộ cho trong nhà trong cửa được yên ổn”. Như vậy là người Việt ngày nay đa số là cúng theo tục lệ chớ không biết ý nghĩa của việc cúng nầy.

Cúng Tết Đoan Ngọ mùng năm tháng năm là cúng theo phong tục người Trung Hoa. Đó là ngày ông Khuất Nguyên, một quan to của nước Sở, đời Sở Hoài Vương, cột đá vào lưng trầm mình xuống sông Mịch La tự tử năm 299 trước Tây lịch (theo Chiến quấc sách, phần Phụ lục niên biểu trang 513).

Theo sách Sử Ký Tư Mã Thiên, Khuất Nguyên giữ chức Tả Đô bị quan đại phu Thượng Quan nói gièm nên vua ruồng bỏ. Ông làm ra khúc Ly Tao buồn thấm thía mà ý sâu sắc. Tần chiếm Hán Trung của Sở và mời vua Sở sang Tần. Khuất Nguyên can vua đừng đi. Vua cứ đi và bị Tần giữ lại và chết ở Tần. Thượng Quan lại gièm với vua con là Khoảnh Tương Vương nên ông bị đày. Thế là mộng vua Sở tỉnh ngộ tin dùng ông để làm nước Sở mạnh bị vỡ. Ông buồn đi lang thang, ông lão đánh cá khuyên ông nên theo thời cuộc. Ông nói là ta thà chết chớ không để bản chất trắng ngần của ta vương bụi của đời. Sau đó thì tự tử.

Sách “Hỏi đáp nghi lễ phong tục dân gian” tác giả là Đoàn Ngọc Minh và Trần Trúc Anh thì nói cúng Khuất Nguyên bằng bánh chưng và nói bánh chưng đầu tiên xuất hiện ở miền Bắc Trung Quốc và cũng nói mơ hồ về thời Tấn. Như vậy thì Tấn nào? Vua nước Tấn thời Đông Chu liệt quốc hay thời Tấn sau nhà Hán vì sách cũng nói bánh chưng thời Đông Hán là thời Khuất Nguyên đã chết 400 năm. Như vậy, Đoàn Ngọc Minh và Trần Trúc Anh có biết sự tích bánh chưng về thời Hùng Vương chăng? Lang Liêu là Hùng Vương thứ mấy, tôi không biết. Chỉ biết thời đại Hùng Vương kết thúc vào năm 275 trước Tây lịch (năm Thục Vương xưng là An Dương Vương). Như vậy, Khuất Nguyên tự tử trước khi thời đại Hùng Vương kết thúc là: 299 - 275 = 24 năm.

Về cúng Khuất Nguyên bằng bánh ú lá tre với ý nghĩa cá không ăn được để cho Khuất Nguyên ăn có lý hơn là cúng bằng bánh chưng. Bánh chưng của Lang Liêu tượng trưng cho Trời Đất để cúng Tiên Vương, sau nầy là cúng tổ tiên, tôi thấy có ý nghĩa và có lý hơn.

Sách Việt Nam lược sử của Trần Trọng Kim ghi: “Hùng Vương bấy giờ cậy mình có binh cường tướng dũng, bỏ trễ việc nước, chỉ lấy rượu chè làm vui thú. Người cháu Thục Vương tên là Phán biết tình thế ấy, mới đem quân sang đánh lấy nước Văn Lang”. Lang Liêu nghèo, đơn phương tranh gay gắt với anh em mới được cho lên ngôi vua lại bỏ bê việc nước như vậy sao? Tôi võ đoán Lang Liêu là vua Hùng trước Hùng Vương thứ 18. Như vậy, tôi cũng võ đoán là bánh chưng có gốc tích của Việt Nam, là bánh của Việt Nam. Tôi ghi sự kiện nầy để mong thức giả hiểu biết về thời Hùng Vương khẳng định Lang Liêu là Hùng Vương thứ mấy để khẳng định bánh chưng là của Việt Nam hay Trung Quấc.


6. Cúng rằm, mùng một


Cúng rằm, mùng một, tôi thấy là tục lệ cúng xưa nay, không ai giải thích ý nghĩa và cũng không nghe ai vái gì. Cứ đến ngày rằm và mùng một, nhà nào cũng mua trái cây sắp lên bàn thờ ông bà, bàn thờ ông Địa và ở bàn Thiên mỗi nơi một đĩa, sau đó đốt nhang và xá xá là xong, cũng không thấy rót nước nữa. Theo tôi thì cũng nên rót một ly nước để cúng. Đương nhiên người theo đạo Thiên Chúa thì không cúng. Cúng với mục đích gì? Không nghe ai giải thích cả.

Ở thế kỷ 20, thời ông nội tôi còn sống, năm nào có nhựt thực hay nguyệt thực, ông phàn nàn với ba tôi là không biết TRỜI, TRĂNG đi thế nào mà để đối đầu nhau và bị ăn như vầy! Năm nay dân chúng khổ lắm. Quan niệm xưa về TRỜI và TRĂNG là như vậy. Tìm hiểu về tín ngưỡng cổ, tôi có đọc một ít tài liệu về tôn giáo ở Ấn Độ, chiết trung lại mà ghi. Tôn giáo cổ nhứt là Phệ Đà giáo với Phệ Đà thánh điển, người Ấn Độ coi là sách dạy của Trời, họ coi tế lễ là vạn năng. Tôn giáo có từ 4.000 năm trước Tây lịch. Dân ở vùng lưu vực sông Hằng Hà thấy rằng sản vật ở đó phong phú, khí hậu ấm áp, thời tiết điều hòa nên họ sùng kính mặt trời, mặt trăng, rừng, sông, núi… Do đó việc kính cúng là điều tất yếu. Nhưng dân ta thuộc nhóm độc thần tức là thờ thần mặt trời. Tiếng cổ của Việt tộc là ông Trăng, bà Trời nên họ cũng thờ kính ông Trăng nữa.

Như vậy, khi không thấy mặt trăng xuất hiện trên bầu trời, dân chúng chìm trong cảnh tối tăm thì họ sợ lắm. Sau ngày 30 tối tăm hoàn toàn thì mùng một họ cúng để cầu mặt trăng xuất hiện soi sáng khắp nơi chăng? Tới ngày rằm, mặt trăng tròn trịa soi sáng khắp nơi nên họ cũng bày ra lễ cúng để mừng và tạ ơn. Như vậy, có lẽ ngày xưa có vái nhưng lâu dần người ta quên chăng? Ngày mùng một, trời tối om thì người ta cần thần trăng xuất hiện soi sáng nhơn gian, tiêu trừ tà ma quỷ quái. Ngày rằm thì họ vái là mừng thần TRĂNG soi sáng khắp nhơn gian xua đuổi tà ma quỷ quái giúp con dân.

Như vậy bàn Thiên coi như thờ cả thần TRỜI và thần TRĂNG đấy. Việc cúng ngày rằm, mùng một diễn ra đều đặn, liên tục từ xưa tới nay thì ta cứ sắm lễ vật mà cúng, thiết tưởng cũng nên lắm vậy.


7. Cúng rằm tháng bảy


Tháng bảy có cúng Vu Lan báo hiếu (?) và cúng cô hồn

- Lễ cúng Vu Lan báo hiếu (tôi không rõ việc nầy). Đây là lễ cúng do các chùa tiến hành. Hình như chỉ có Phật giáo Bắc tông mới cúng còn Nam tông thì không. Lễ cúng về việc Mục Liên Thanh Đề. Người mẹ làm điều sai trái bị tội ở địa ngục, con tu đạt đạo và cùng chư Phật bốn phương cầu xin. Người mẹ thoát tội. Điểm nầy tôi thấy sai với tôn chỉ Đức Phật Thích Ca.

Phật dạy ai tạo nghiệp thì người đó trả nghiệp. Tu là tu cho chính mình. Bị quả báo mà cầu xin là hết tội là sai, không chấp nhận được dù là đạo hay đời. Lễ nầy theo tôi là bỏ đi. Các chùa hành lễ trong phạm vi chùa thôi. Biểu ngữ lễ Vu Lan có lẽ chỉ treo trước chùa. Xa ra ngoài thì không nên treo.

- Cúng cô hồn:

Trong dân gian thường nói “Ngày rằm xả tội vong nhơn”. Mọi người hiểu ngầm là rằm tháng bảy. Nói “Xả tội” hay “Xá tội”? Theo Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức thì “xá” là tha còn “xả” là buông xuống, thả. Theo tôi thì “Xả tội” mới đúng vì tội nhơn bị giam cầm cực khổ, một năm thả ra cho họ đi chơi tự do độ nửa tháng thì giam lại. Với quan điểm như vậy nên mới có việc cúng Cô Hồn để giúp họ. Người bị tội nặng, có khi ngày giỗ cũng không được về nữa đấy. Cũng với ý nghĩa chung của nhơn dân, cúng cô hồn nầy lại là cúng cho cô hồn trẻ con. Cúng có tác dụng gì không, có lẽ không ai biết. Nhưng đã cúng thành lệ thì không nên bỏ. Chị tôi khi buôn bán, mỗi năm tới rằm tháng bảy thì chị cúng. Sau, chị không buôn bán nữa nên không cúng. Đêm 29 tháng 7, chị nằm chiêm bao thấy con nít chạy rần rần một đám đông, chúng tới nắm chưn chị mà kéo rồi cười. Nhớ ra chưa cúng cô hồn, chị vái để mai cúng thì không thấy nữa.

Cúng cô hồn thì cúng từ rằm tháng bảy cho tới cuối tháng. Khi cúng thì bày một mâm để ở cửa ngỏ, trên mâm để:

. Nhang, đèn, nước, giấy tiền vàng bạc và giấy áo cô hồn.

. Bánh trái, nhứt là trái cây rẻ tiền như cóc, ổi, chôm chôm, mía chặt từng khúc ngắn…

. Một dĩa gạo muối (nửa gạo nửa muối).

Sau khi lên đèn, chủ lễ vái: “Hôm nay ngày… tháng 7, tôi cúng cô hồn, mời những người khuất mày khuất mặt về hưởng”. Để một lát rồi đốt giấy tiền vàng bạc, giấy áo, sau đó rải hết gạo muối ra bốn phía rồi đưa mâm ra ngoài, ai muốn giựt thì giựt.

Thường thì khi mới đốt đèn, nhang thì con nít ào vô giựt hết nhưng kệ nó, không la rầy gì hết. Có người thì đóng cửa ngõ lại, đợi khi cúng xong mới mở cửa cho giựt. Sao cũng được.


8. Cúng rằm tháng tám (còn gọi là Tết Trung Thu, Tết Nhi Đồng)


Tết nầy có là do sự tích vua Đường Minh Hoàng của Trung Hoa chiêm bao thấy lên cung trăng xem cảnh tiên với các tiên nữ múa rất đẹp. Sau đó, ông bắt chước cho dân treo đèn kết hoa khắp nơi để vui chơi. Tết Trung Thu thường được người giàu có cúng vì người nghèo khó mua bánh Trung Thu đắt tiền để cúng. Nhưng nếu cúng bánh ngọt như cúng rằm thường cũng được thôi. Trong thập niên 50 của thế kỷ trước, Tết Trung Thu, trẻ con tựu họp năm bảy đứa từng nhóm xách lồng đèn hay đẩy đèn bằng lon sữa bò đi quanh trong xóm chơi cho vui. Có lẽ Tết Trung Thu để cho địa phương tổ chức, họ quy tụ các em nhỏ trong xóm, trong khu phố đi vòng quanh hay tựu họp tại một địa điểm nào đó cùng nhau ca hát, múa hát cho vui. Không tổ chức, không cúng cũng được.


Khánh Hội - Quận 4 - Saigòn ngày 27-7-2016



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 08.11.2016.


trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn