Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






Sắc Thái Đa Thần của Ấn Độ

Trong Tín Ngưỡng Dân Gian Việt Nam










Chương 2-Nguồn gốc Ấn Độ giáo :


     n Độ Giáo ra đời ở Ấn Độ cách đây trên 4.000 năm, nhưng không có người sáng lập. Ấn Độ Giáo là một tôn giáo có truyền thống lâu đời của văn hóa Ấn độ, và là một tôn giáo lớn, có khoảng 80% dân số Ấn Độ theo tôn giáo này.

        Ngày nay, Ấn Độ Giáo pha trộn với Bà-La-Môn Giáo và Phật Giáo. Bởi vì ba tôn giáo này đều có họ hàng với nhau hay nói khác đi, có liên quan với nhau và cái này đan xen với cái kia và mắt xích chính là “nghiệp” (Karma). Ba tôn giáo này ra đời lần lượt, tiếp nối nhau, trong đó Ấn Độ Giáo không đặt nặng giáo quyền và tín lý, nên người theo Ấn Độ Giáo có thể tin thuyết độc thần hay đa thần đều được dung nạp.

       Sau này, người ta coi Ấn Độ giáo bao gồm một đa dạng của các ý tưởng về  tâm linh  và truyền thống, nhưng không có lệnh của giáo hội, không có thẩm quyền tôn giáo không thể nghi ngờ, không có cơ quan chủ quản, không có tiên tri, cũng không bất kỳ cuốn sách thánh ràng buộc; Ấn giáo có thể chọn được đa thần, phiếm thần, độc thần, thuyết nhất nguyên, bất khả tri, vô thần hay nhân văn học. 

      Ấn Độ Giáo, trước đó là Bà La Môn giáo đều có truyền thống chia xã hội Ấn Độ ra thành nhiều đẳng cấp để phân biệt đối xử trong giao tế, hôn nhân, hùn hạp làm ăn buôn bán. Giai cấp được hình thành ở Ấn Độ bắt nguồn từ dân tộc Aryan xâm chiếm nước này sau khi đánh thắng dân tộc Dravidian. Người da trắng (kẻ ngoại xâm) luôn tự hào về chiến thắng người da đen (người bị nô lệ) nên thực hiện chính sách chia để trị bằng cách phân chia giai cấp trong xã hội mới cai trị, chẳng những phân chia giai cấp kẻ thống trị với người bị trị mà còn về lâu về dài phân chia nhỏ ra nhiều giai cấp trong xã hội mới. Do đó, từ chỉ có hai giai cấp : giai cấp kẻ chiến thắng, người chiến bại; giai cấp da trắng với da đen và có tới bốn hạng người. Nhưng Phật giáo lại phủ nhận các giai cấp và xác lập mọi người đều bình đẳng với nhau. Bà La môn giáo hay Ấn Độ giáo đã chia xã hội Ấn Độ ra bốn đẳng cấp riêng biệt như sau:

                   -Bà-La-Môn  (Brahmins): Đạo sĩ, tăng lữ.

                  -Sát-Đế-Kỵ  (Kshatriyas): Quan quyền, chiến sĩ.

                 -Phệ-Xá  (Vaisyas): Điền chủ, doanh gia.

                 -Thủ-Đà-La  (Sùdra): Nông dân, làm mướn, đầy tớ.     

     Ấn Độ Giáo tin các thần ở trong các động vật có sự sống và đồ vật vô tri vô giác như cây cối, gỗ, đá… Ấn Độ Giáo thờ lạy một thần chánh là Brahman (Đại Linh Quang, Phạm Thiên hay Đại Hồn) và 33 thần phụ. Ba thần chính mà hầu hết người Ấn Độ đều sùng bái là thần Brahma, thần Vishnu và thần Shiva. Ấn Độ Giáo cho rằng thần Brahma là thần sáng tạo. Khi Brahma thở ra thì một vũ trụ được thành hình, khi Brahma hít hơi thở vào thì vũ trụ ấy bị tiêu diệt. Thần Brahma cũng được coi là thần có trách nhiệm quản lý việc luân hồi. Thần này có bốn đầu và sáu tay. Bốn đầu để nhìn ra tứ phía, thấy rõ hành vi xấu tốt của mỗi người mà quyết định cho số phận của người sẽ được đầu thai trong kiếp luân hồi. Thần Vishnu có sáu tay là thần bảo hộ, duy trì và dưỡng nuôi sự sáng tạo của thần Brahma. Thần Shiva có bốn tay và một con mắt ở giữa trán, là thần hủy diệt. Shiva cũng là thần của nội tâm. Thần này nhảy múa không ngừng tạo nên những gợn sóng cấu thành vũ trụ nội tâm. Con mắt trên trán của Shiva chiếu vào là tiêu diệt tất cả những gì đã có trong vũ trụ nội tâm để đưa tất cả vào tĩnh lặng.

     Ấn Độ Giáo không chấp nhận thông tin cho rằng Ấn Độ Giáo thờ phượng 330 triệu vị thần. Họ cho đó là một sai lầm trong sự diễn dịch. Nhưng căn cứ vào sự thờ cúng của họ ở các đền chùa và tại các tư gia thì người ta nghĩ rằng Ấn Độ Giáo thờ phượng hàng triệu vị thần khác nhau. Dẫu rằng, Ấn Độ Giáo thật sự thờ rất nhiều thần, nhưng vẫn cho mình là đạo thờ độc thần; vì họ cho rằng tất cả các thần họ thờ lạy đều xuất phát từ một thần chính là Brahman. Ấn Độ Giáo tin rằng mọi sự hiện hữu trên đời này, kể cả con người, đều là thị hiện của thần Brahman. Thần Brahman là sự hiện hữu duy nhất, ngoài thần Brahman ra, không có sự hiện hữu nào khác. Ấn Độ Giáo tin thần chính ở trong con người và thú vật. Thú vật được coi là thiêng liêng. Riêng con bò là loài thú vật được Ấn Giáo coi là thiêng liêng hơn hết, vì nó cho loài người nhiều hơn các loài thú vật khác, như sữa để uống và da để làm giày dép, trong lúc đó con bò chỉ ăn cỏ và ngũ cốc mà thôi.

     Tín hữu Ấn Độ Giáo đem của cúng đến các đền chùa để dâng hiến cho các thần mà họ thờ lạy. Họ tin các đền chùa là nơi cư ngụ của các thần. Ngoài ra, ở mỗi nhà của tín hữu đều có dành riêng một phòng hay một nơi nhỏ để làm am thờ phượng các thần. Tín hữu của tôn giáo này tin rằng các thần mà họ thờ phượng tại gia sẽ xua đuổi tà linh cho họ và phù hộ họ làm ăn khá giả.

     Ấn Độ Giáo tin linh hồn của người và thú vật đều phải chịu kiếp luân hồi. Con người sống trên đời tạo ra "nghiệp".  Nếu con người tạo ra nghiệp tốt, sẽ được đầu thai vào chỗ giàu sang danh vọng. Nếu con người tạo ra nghiệp xấu, sẽ bị đầu thai vào chỗ nghèo hèn hay thành thú vật hoặc côn trùng.

     Ấn Độ Giáo tin rằng, khi con người diệt được hết các tham vọng thèm muốn thì linh hồn sẽ thoát ra khỏi vòng luân hồi để nhập Niết Bàn. Niết Bàn là một trạng thái hoàn toàn hạnh phúc, không còn đau khổ phiền lụy, và cũng không còn ham muốn điều gì nữa. Ngoài ra, Ấn Độ Giáo còn dạy tín hữu luyện tập Yoga để tự chế ngự trí óc, các giác quan và thân thể của mình, để tạo ra những thể nghiệm thần bí và sự kết hợp linh hồn cá nhân với tinh thần vũ trụ.

     Vào cuối thế kỷ 20, Ấn Độ Giáo có khoảng 800 triệu tín hữu trên toàn thế giới, đa số ở Ấn Độ, Nêpal, Bangladesh, và các quốc gia ở miền nam Á Châu.

3 -Thần thoại Ấn Độ hay Tín ngưỡng Ấn Độ :  

      Thật ra, Ấn Độ giáo không phải là một tôn giáo như tên gọi chính danh như các tôn giáo khác. Bởi vì đất nước Ấn Độ từ cổ xưa đã xuất hiện nhiều thần thoại liên quan các vị thần linh thông qua tín ngưỡng dân gian. Triết học Ấn Độ cũng bắt nguồn từ thần thoại và tín ngưỡng liên quan tới việc tôn kính và thờ cúng các vị thần trong thiên nhiên hay các hiện tượng thiên nhiên, từ một thần Brahman, rồi  ba vị thần chủ là Brahman, Wishnu và Siva tới đa thần. Vì là tín ngưỡng đa thần và gồm có các vị thần đều là hiện tượng thiên nhiên và các loài thực vật, động vật hay thảo mộc, các loài đá…có trong trời đất hay chính các hiện tượng và các loài này đã tạo ra Trời và Đất, tức Vũ trụ. Đó còn là ngũ giới, ngũ hành Kim, Mộc, Hỏa, Thủy, Thổ hay ngũ sắc đen, trắng, vàng, xanh, đỏ…Ngày nay, miếu Ngũ hành là một dạng tâm linh – vật thể hóa trong tín ngưỡng dân gian.

        Giải thích các hiện tượng và các loài vật trong vũ trụ bằng tiếng nói, lời ca qua nhiều thời đại liên quan tới các tín ngưỡng mang màu sắc thần bí hay mê tín nên gọi là thần thoại. Trong thần thoại có tư tưởng cao siêu do con người sáng tác, biên dịch lâu đời gom góp lại trở thành tư tưởng hay triết học – văn hóa của một dân tộc. Giống như đạo Nho của Trung Hoa do Khổng Tử thu gom lại và được diễn dịch thành hệ thống tư tưởng hay triết học qua Luận ngữ, Tứ thư, Ngũ Kinh. Hai nền văn hóa lớn và cổ xưa Ấn Độ và Trung Hoa đều được hình thành từ một xuất xứ, nguồn gốc như thế ở phương Đông của lục địa châu Á. Việt Nam nằm kẹt giữa hai nền văn hóa khổng lồ này, nên người phương Tây gọi ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia là Indochina (Ấn – Hoa), (ta diễn dịch thành tên Đông Dương)

        Vì là tín ngưỡng của dân gian xuất hiện từ lâu đời, có thể khi có bộ tộc hay dân tộc xuất hiện thì đã có nó. Tín ngưỡng hay mê tín của tộc người về thiên nhiên và các loài mà những thứ này đều được nhân cách hóa có linh hồn như người nên gọi là thần linh. Câu chuyện nói về các thần linh (các vật được kính trọng, tôn thờ, cúng kiến nên được coi như thần và trở nên linh thiêng do những hiện tượng có tác động ảnh hưởng tới đời sống con người như sinh, bệnh, lão, tử. Thần linh vừa tạo lập ra vũ trụ vừa chế ngự con người nên con người phải tôn thờ, cúng kiến, tế lễ cho phù hợp với đạo Trời đạo Người.

       Tín ngưỡng hay thần thoại của con người và đất nước Ấn Độ chia làm hai thời kỳ : thời kỳ Veda và thời kỳ các tôn giáo.

-Thời kỳ Veda : Thời kỳ có bộ kinh Veda, gồm có Tiền Veda kéo dài khoảng 1.500 năm trước công nguyên trở về trước và Veda kéo dài từ năm 1.400 đến năm 1.000 trước công nguyên. Thời kỳ này, người ta coi đó là tôn giáo Veda.

      Thời kỳ Tiền Veda tính theo sự xuất hiện của chủng tộc bản địa Dravidian đã định cư ở Ấn Độ từ đầu. Họ đã tổ chức ra xã hội ở khu vực thung lũng Indus với hai đô thị lớn Harappa và Mohenjodaro, mới được khai quật sau này. Là cư dân nông nghiệp đã ổn định, người Dravidian thờ các vị thần liên quan tới sinh sản thể hiện ở hai yếu tố chính là sự thờ cúng dương vật (nguồn gốc của việc tôn thờ thần Siva) và thờ cúng mẹ thần xứ sở. Các nhà khảo cổ học còn tìm thấy trên các khuôn dấu thời cổ đại này hình ảnh con bò mộng hoặc hình ảnh nữ thần với một loài cây mọc lên từ rốn, là hình ảnh tượng trưng cho tín ngưỡng phồn thực, sùng bái, cầu xin cho sự sinh sản của con người và các loài động vật, thực vật.

      Theo nhà nghiên cứu Bình Nguyên Lộc (sách Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam), người Dravidian da màu đen, có nguồn gốc thuộc chủng Malaya (Melanesien) ở Nam Á vùng Indonesia từ nhiều ngàn năm trước di cư lên vùng núi cao nên đặt tên núi Hymalaya (Hy là núi, Malaya là chủng Mã Lai). Sau đó, lối 5.000 năm trước công nguyên, họ di cư xuống Bắc Ấn Độ sáng tạo ra hai thành phố văn minh nói trên thuộc vùng đồng bằng sông Indus và sông Gange. Có một nhóm đi sang Trung Đông làm nên văn minh Ai Cập. Một nhóm đi rẽ về phương Đông, phăi chăng đã làm nên văn minh Trung Quốc và Việt Nam ? Thông qua ngành khảo cổ học, người ta còn cho rằng có một nhóm nhỏ nữa đi thẳng lên eo biển Bering, khi đó còn dính liền với Bắc châu Mỹ và làm nên văn minh Maya…

      Theo tiến trình lịch sử văn minh, Ấn Ðộ trải qua hàng chục ngàn năm gồm thiên di và xâm nhập, đã lai tạo các giống dân nên đa dạng về chủng tộc. Tuy nhiên về đại thể, có thể chia thành bốn giống chính đã từng sống ở Ấn Ðộ.

1. Chủng tộc Nê Grô Íđ (Negroid) : Là chủng tộc bản địa cổ xưa nhất, tồn tại lâu đời, trong đó có giống người Ved Ða và Gôn Ðờ, sống ở Nam và Trung cao nguyên Ðê Căng, các giống người nầy chủng tộc da đen, vóc người nhỏ, mũi tẹt, tóc xoắn.

2. Chủng tộc Ðra Vi Ði An (Dravidian) : ( còn gọi là chủng tộc Ôt Xtra Lô Ít hay Mê La Nô Anh Diêng ), có nguồn gốc đại dương Đông Nam chấu Á, là chủng tộc di cư đến Ấn Ðộ sớm nhất, nên được coi như người bản địa, cư trú phần lớn ở cao nguyên Ðê Căng. Giống người nầy nước da nâu sẫm, khuôn mặt hẹp, mũi thẳng, tóc đen. Sự khác biệt chủng tộc nầy với giống A Ry An là hệ thống ngôn ngữ.

3. Chủng tộc A Ry An (Aryan): Là chủng tộc da trắng hoặc da nâu sáng, vóc người cao, mũi thẳng, có nguồn gốc bên ngoài lãnh thổ Ấn Ðộ, có thể là giống dân Caucasoid xuất phát từ vùng Caucasus (nay thuộc lãnh thổ Liên Xô, nằm tiếp giáp Thổ Nhĩ Kỳ và I Ran) khoảng nửa sau thiên niên kỷ thứ 2 trước công nguyên, từ Tây Bắc tràn vào đồng bằng sông Ấn, dần dần lan sang phía Ðông tới châu thổ sông Hằng và xuống phía Nam tới cao nguyên Ðê Căng (1.000-500 tr CN). Dân bản địa Ðra Vi Ði An bị bắt làm nô lệ, đồng thời hổn chủng với giống dân nầy, phần khác bị dồn xuống phía Nam. Ðặc điểm là ngôn ngữ của họ có nhiều quan hệ với ngôn ngữ Âu Châu, gọi chung là ngữ hệ Ấn - Âu, trải qua hàng chục thế kỷ, người A Ry An trở thành dân cư chính yếu của Ấn Ðộ.

4. Chủng tộc Mông Gô Lô Íđ (Mongloide): Giống da vàng, thuộc tiểu chủng Miến-Tạng, không có râu, gò má cao. Chủng tộc nầy xâm nhập vào Ấn Ðộ từ hướng Bắc và Ðông Bắc, một số lan sang phía Ðông, do sự lai tạo lâu đời, ngày nay chủng tộc nầy không còn giữ được đặc trưng thuần khiết của giống dân mình.

      Nói chung, về phương diện lịch sử và văn hóa, giống Ðra Vi Ði An như là nền tảng, còn giống dân A Ry An là yếu tố chủ thể của nước Ấn Ðộ truyền thống. Hai chủng tộc này đã phối hợp tạo nên lịch sử triết học, văn minh và sự phát triển của xã hội Ấn Độ liên tục từ cổ chí kim.

      Thời kỳ Veda : Đây là thời kỳ hình thành bộ kinh Veda. Thời kỳ này, chủng tộc Aryan từ phương Tây Bắc tràn xuống chinh phục Ấn Độ. Và họ đã nhanh chóng chiến thắng trong cuộc xâm lược này. Chủng tộc Dravidian và chủng tộc Aryan đã hợp chủng từ đây để xây dựng và phát triển đất nước Ấn Độ rộng lớn và dân số cũng tăng theo. Cũng từ kỷ nguyên này, kinh Veda hình thành và được coi là cổ nhất Ấn Độ, là bộ sách thâu lượm tất cả những câu ca dao, vịnh phú, những tư tưởng, quan điểm, những tập tục, lễ nghi của hai chủng tộc Aryan và Dradivian trong khu vực sông Ấn (Indus), sông Hằng (Gange) và chân núi Malaya và được viết bởi tiếng Phạn cổ (Sanskrit). Bộ kinh Veda có nghĩa là bộ kinh tâp hợp những hiểu biết, kiến thức của nhân dân Ấn Độ cổ. Veda còn đồng nghĩa với Brahman, tức là nguyên lý vũ trụ, khởi nguồn và mục đích của mọi kiến thức. Như vậy, Kinh Veda là tập hợp tất cả những hiểu biết về vũ trụ, thiên nhiên và con người. Có người còn gọi Đạo Veda.

       Kinh Veda là sản phẩm của các tầng lớp tu sĩ đương thời, là những Brahman tức là những người có nhiệm vụ làm cầu nối giữa con người và thần linh, chủ trì các cuộc cúng tế, chăm sóc đời sống tinh thần của xã hội. Nói chung, kinh Veda được xem là loại văn bản thiêng liêng do con người nghe thấy từ thần linh ghi lại.

       “Kinh Veda (Vệ đà) là một kiệt tác về triết học, tôn giáo, giáo dục được gọi là “pho sách đầu tiên của loài người” ra đời từ thời ấy. Cũng vào thời đó, làng xã bắt dầu được thành lập, các thành cổ được xây dựng và đã bắt đầu có sự giao lưu văn hóa Ấn – Âu” (Nước Cộng hìa Ấn Độ, NXB Sự Thật, 1983 – trang 18).

      Bộ kinh Veda có bốn tập chủ yếu :

-Rig – Veda : Tri thức về thánh ca, tán tụng. “Rig” có nghĩa là “Tán ca”. Đây là bộ kinh cổ nhất của nền văn hóa Ấn Độ, gồm có 1017 bài, về sau được bổ sung thêm 11 bài nữa, dùng để cầu nguyện, chúc tụng công đức các bậc thánh thần, trong đó có hai vị thần được nhắc đến nhiều nhất là Thần Lửa Agni và thần Sấm sét Indra. Kinh này chuyên dùng cho bậc “Khuyến tỉnh sư”.

-Sama – Veda : Tri thức về các điệu ca chầu khi hành lễ, gồm có 1549 bài, là bộ sưu tập những bài ca, vần điệu ca ngợi thần linh. Kinh này chuyên dùng cho các bậc “Ca vinh sư”.

-Yajur – Veda :Tri thức về các lời khẩn tế, những công thức, nghi lễ khấn bái trong hiến tế, còn được gọi là “Tế tự Veda”, chuyên dùng cho các “Hành lễ sư”

-Atharva – Veda : Gồm có 731 bài văn vần, là những lời khấn vái mang tính bùa chú, ma thuật, phù phép nhằm đem lại những điều tốt lành cho bản thân và người thân, gây tai họa cho kẻ thù.

       Về ý nghĩa và tinh thần nội dung :

        Kinh Veda được xem là loại văn bản thiêng liêng do con người “nghe thấy” từ thần linh khác với loại văn bản được con người “nhớ lại” từ lời dạy của những hiền triết. Có thể nói tất cả các tôn giáo ở Ấn Độ đều bắt nguồn từ kinh Veda, ở đặc điểm là tiếp tục triển khai, phát triển và thực hành nó như trường hôp Bà La Môn giáo và Hindu giáo - Ấn Độ giáo. Nhưng cũng từ đó, nó bị bài bác, phủ nhận như trường hợp Phật giáo. Những câu chuyện về thần linh, những khái niệm tín ngưỡng trong kinh Veda cũng là nền tảng của sự phát triển thần thoại Ấn Độ trong các thời kỳ sau này.

       Các nhà nghiên cứu đã quan tâm tói một số điểm nổi bật trong kinh Veda như sau :

      -Tinh thần chiến đấu : Thời kỳ Veda là thời kỳ những người Aryan mở rộng sự xâm nhập nhiều khu vực lân cận nên thường xung đột chiếm giết lẫn nhau để tranh giành quyền lợi, địa vị đồng thời chiến đấu với đối thủ, kẻ thù để giành lấy đất đai, của cải, sinh tồn, hơn nữa để xâm chiếm, đồng hóa, nhất là chiến đấu xâm chiếm và đồng hóa với người dan bản địa Dravidian của Ấn Độ. Trong điều kiện này, các thần linh được cầu nguyện ban cho chiến thắng tiêu diệt kẻ thù. Trong số các vị thần được tôn thờ trong thời kỳ Veda là thần Indra (sấm sét) và các vị thần khác trong tự nhiên như thần Agni (lửa), thần Yama (chết), thần gió (vayu), thần mặt trời (surya), thần Lokapala(phương hướng).

        Thần Indra (Sấm sét) còn được gọi là thần Bão tố, tay cầm lưỡi tầm sét Vajra giống như một ông vua – chiến sĩ người Aryan. Thần có bản tính mãnh liệt, thèm khát loại nước uống Soma, loại nước uống lên men cho thần thêm sức mạnh. Indra là vị thần được nhắc đến nhiều nhất trong các loại kinh Veda như là một vị thần mang mưa đến cho vùng nông thôn hạn hán khô cằn của Ấn Độ. Indra còn được người dân Ấn Độ cho là vị thần sắp xếp lại trật tự vũ trụ vì biết dùng mặt trời để phân định lại vũ trụ thành sáu phía không gian bao trùm hết tất cả vạn vật và xây dựng lại vũ trụ như xây dựng một ngôi nhà.

        Vật cưỡi của thần Indra là con voi trắng gọi là Atravata, có bốn vòi và có vòm lưng khổng lồ trắng xóa như núi Kailasa, nơi trú ngụ của thần Siva.

         Indra là một vị thân cổ nhất và nổi tiếng của Ấn Độ, vị thần siêu việt thời kỳ Veda, vị thần của bầu trời, mưa gió và sấm chớp.

         Thần Agni (Lửa) được sinh ra ở bất cứ nơi nào khi đốt lên ngọn lửa, đặc biệt là ngọn lửa hiến sinh. Agni còn là ngọn lửa bất tận đã phá hủy cả khu rừng tráng lệ của Ấn Độ cổ xưa đề làm nhà ở cho con người, vì thần lửa là bạn của con người. Agni là ngọn lửa của mặt trời, cũng là ngọn lửa của ánh sáng. Sau đó Angi được đồng nhất với Ruda – thần phá hủy – biến thể hung  dữ của thần Siva. Nhưng Agni là bạn thân của mọi nhà.

         Về sau, nhiều triết gia thần bí quan niệm ngọn lửa như một sự hiện diện của các thần thánh nhìn thấy được tâm hồn con người. Thần lửa  có màu đỏ và cưỡi trên lưng con tê giác. Lưỡi của thần là tia lửa liếm thức ăn hiến tế. Thần có hai mắt : lửa mặt trời và lửa trần thế, có bảy cánh tay có thể với tới bảy lục địa và ba chân tượng trưng cho ba ngọn lửa của đời người : lửa thiêng, lửa cưới và lửa tang.

         -Tư tưởng tôn sùng tự nhiên :

         -Đề cao nghi lễ hiến tế bằng lửa :

       

-Thời kỳ các tôn giáo :

+Bà La Môn giáo : Tính từ khoảng 1.000 năm trước công nguyên đến 400 năm sau công nguyên. Đây là thời kỳ của các trí thức, tu sĩ đã phát triển các thần thoại trong kinh Veda lên một bước mới, có hệ thống hơn, gắn kết với những sự giải thích mới có vẻ hợp lý hơn về vũ trụ, về cuộc sống và đặc biệt là đã xây dựng nên một hệ thống các nghi lễ chặt chẽ làm cho sự thờ phụng thần linh có quy củ hơn và cũng có nghĩa là làm cho vai trò của các tầng lớp tu sĩ trở nên quan trọng nhất trong xã hội. Lớp tu sĩ hay người cúng lễ gọi chung là Tăng lữ đứng đầu hệ thống giai cấp, có nguồn gốc của dân Aryan khi xâm nhập vào Bắc Ấn Độ.

       Đây là thời kỳ xuất hiện những bộ sách mang nhiều tính lý luận về tín ngưỡng và những pho truyện đồ sộ về các vị thần linh. Đó là :

1-Brahmana : gọi là Phạm chí hay kinh Ba la môn, gồm những bài cầu nguyện, giải thích các nghi lễ của thời kỳ Veda, giành cho các tu sĩ.

2-Kinh Aranyaka : nghĩa là suy tưởng trong rừng – Kinh rừng, giải thích ý nghĩa huyền bí của những nghi lễ Veda và phát hiện những ý nghĩa tượng trưng, cao siêu của Veda, dùng cho những tu sĩ khổ hạnh, ẩn dật.

3-Kinh Upanishad : là những kinh sách bình chú tôn giáo – triết học, giải thích ý nghĩa triết lý sâu xa của tư tưởng thần thoại, tôn giáo Veda, trong đó nêu lên những lập luận khái quát về “đấng sáng tạo tối cao” về “tinh thần thế giới vô ngã” Brahman và bản chất tâm linh con người, dùng cho các triết gia.

        Upanishad (Upa là gần, Ni là trang nghiêm, Shad là ngồi) có nghĩa ngồi trang nghiêm cùng giảng giải lý thuyết cao siêu, huyền bí với thầy – một hình thức hội thoại giữa các ông thầy và học trò - là một trong những bộ kinh quan trọng nhất của kinh Veda. Nó là những lời bình giải tôn giáo, triết học cổ Ấn Độ và về các ý nghĩa triết lý sâu xa của các bài kinh, các nghi lễ cũng như các thấn thoại Veda được biên soạn qua nhiều thế kỷ (thế kỷ X - thế kỷ V tr. CN) bởi nhiều người trong nhiều điều kiện và hoàn cảnh khác nhau. Xu hướng chính của Upanishad là nhằm biện hộ cho học thuyết duy tâm nên sau này nó trở thành nền tảng lý luận của các học thuyết duy tâm mới.

      Upanishad đã dưa ra một cách giải đáp duy tâm rằng : bản nguyên của thế giới này là “Tinh thần vũ trụ tối cao”. Brahman, là thực thể duy nhất, có trước nhất,tồn tại vĩnh viễn, bất diệt, là cái từ đó cả thế giới đều sinh ra và khi chết sẽ nhập về với nó.  Linh hồn con  người (Atman) chỉ là sự biểu hiện, là một bộ phận của “Tinh thần tối cao”. Cơ thể chỉ là cái “vỏ bọc” của linh hồn, là nơi trú ngụ của linh hồn. Còn hiện  thân của “Tinh thần tối cao” tuyệt đối là Brahman. Ý chí, cảm giác, ham muốn và hành động con người đều gây ra hậu quả từ kiếp này sang kiếp khác, gọi là Nghiệp báo (Karma). Muốn giải thoát linh hồn bất tử ra khỏi thể xác tạm thời của nghiệp báo thì phải tu luyện hành động và tu luyện trí thức.

       Như vậy, nội dung triết lý của Upanishad trở thành quan điểm và hệ thống triết học Ấn Độ sau này. Triết lý duy tâm của Upanishad đã đóng vai trò làm cơ sở lý luận cho đạo Bà La Môn cũng như đao Hindu ở Ấn Độ cổ đại. Do đó, triết lý Veda và Upanishad và đạo Bà La Môn đã trở thành hệ tư tưởng thống trị trong đời sống tinh thần ở Ấn Độ cổ đại.

      -Bộ sử thi Ramayana : Còn gọi là trường ca Ramayana (hay những chiến tích của Rama) là một trong hai trường ca vĩ đại nhất của Ấn Độ cổ, gồm khỏang năm vạn dòng chữ do nhà hiền triết nổi tiếng Valmiki sáng tác vào thế kỷ thứ 3 sau công nguyên.

      Ramayana nói về kỳ tích của Hoàng tử Rama dòng dõi vương triều thần Mặt trời, một mẫu hình cổ điển của người anh hùng thuộc đẳng cấp võ sĩ Kshatriya. Rama có vợ xinh đẹp và chung thủy là Sita. Rama vừa là hiện thân của đẳng cấp danh dự võ sĩ vừa là hiện thân của Brahman đã từ bỏ ngai vàng cùng em trai đi vào rừng để sinh sống trong hoàn cảnh bi thảm của cuộc đời, bên cạnh là vợ Sita suốt mười bốn năm trời. Nhưng nàng Sita bị quỷ ác độc Ravana có mười đầu bắt đi giam giữ ở một nơi khác là đảo Lanka và bị ép làm vợ. Trong cuộc chiến đấu giành lại người vợ đang mang thai nhưng thất bại. Rama hiểu lầm người vợ trẻ mang thai của mình nên đã ruồng bỏ nàng để bị ngọn lửa thiêng thiêu đốt nàng. Nhưng khi Rama kịp nhận ra lầm lỗi của mình thì sự tình đã quá muộn. Sita bất hạnh vì quá thất vọng trước tình đời đen bạc đã kêu gọi nữ thần Đất, mẹ nàng giang rộng đôi tay yêu thương đón nàng mãi mãi về trong lòng mẹ, nơi Sita đã sinh ra.

      Vẫn theo thần thoại này, Sita nghĩa đen là “luống cày”. Trong ngày lễ hạ điền, vua Janaka xứ Videha đã gặp một hài nhi ở luống cày. Vua đem về nuôi nhận làm con mình đặt tên Sita. Cho nên khi nàng chết đi, thân thể được chôn trong lòng đất như thể về với mẹ.

      Tư tưởng chủ yếu tuyệt đẹp trong Ramayana đó là ý nghĩa triết lý đạo đức – nhân sinh trong quan niệm về con người, xã hội và bổn phận tự nhiên của con người, về cái thiện và cái ác của người Ấn Độ cổ xưa.

       -Bộ sử thi Mahabharata : Từ này có nghĩa là “Đại thi tập về cuộc chiến tranh của dòng họ Bharata”. Nó gồm có 110.000 câu thơ đôi, là bộ sử thi đồ sộ, được coi là cuốn “Bách khoa toàn thư” không chỉ của nền văn hóa Ấn Độ mà của cả thế giới. Sự vĩ đại của tác phẩm về mọi mặt như câu ngạn ngữ Ấn Độ nói :”Cái gì không thấy được trong Mahabharata thì cũng không thấy được ở Ấn Độ”.

        Mahabharata cùng với Ramayana là công trình sáng tác tập thể của nhiều thi nhân trải qua nhiều thế hệ khác nhau thuộc thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên, khi các bộ lạc người Arya đã và đang định cư tạo dựng các quốc gia chiếm hữu nô lệ của mình ở đồng bằng sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Gange), tiếp theo bộ kinh Veda. Nội dung chính của tác phẩm nói về cuộc chiến rồng rã 18 ngày đêm trên cánh đồng Kurukshetra tại đờng bằng sông Hằng cách New Delhi ngày nay lối 90 km về phía đông bắc, giữa một bên là 100 anh em dòng họ Kaurava với bên kia là 5 hoàng tử Pandava. Hai bên đều là thân tộc, con cháu của Bharata – người được coi là thủy tổ của dân tộc Ấn Độ - tử chiến với nhau để giành đất đai và quyền hành.

       Sự thật đó là lịch sử của những cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc Aryan trong quá trình xâm nhập Ấn Độ từ phía Bắc ở lưu vực sông Hằng để tạo lập những quốc gia chiếm hữu nô lệ của mình. Ngoài phần chính lịch sử của bộ sách là bộ sử thi đã lắp ghép rất nhiều những sự tích về thần linh, những chuyện ngụ ngôn về muông thú, những ẩn dụ triết học và châm ngôn xử thế.

       “Thời “sử thi” nổi lên rạng rỡ hai thiên anh hùng ca Ramayana và        Mahabharata, ca ngợi những chiến công chống ngoại xâm trong một xã hội đã bắt đầu phân chia thành đẳng cấp. Âm nhạc cung đình, những điệu múa trữ tình, nền bích họa, nghệ thuật khắc đá, đúc tượng đồng chi tiết, tinh vi…đã sớm xuất hiện. Đạo Hindu đã xuất hiện, nền văn hóa Ấn Độ phát triển mạnh. Những tác phẩm thơ ca bằng tiếng San-crit được diễn đạt bằng ngôn ngữ Hindu đại chúng hơn, đã ra đời…Nhiều công trình kiến trúc, phổ biến là đền thờ đạo Hindu được xây dựng lại nhiều nơi trong tiểu lục địa Ấn Độ” (Sđd, trang 18).

       Phần lắp ghép quan trọng nhất là tác phẩm triết học nổi tiếng Bhagavad-Gita (Thánh ca hay Chí tôn ca), vốn là những lời khuyên bảo dài 700 câu thơ của của người đánh xe Krishna hóa thân của thần Vishnu, nói với dũng sĩ Arjuna về bản chất của thế giới và linh hồn con người trong đêm trước trận quyết chiến với 100 anh em dòng họ Kaurava, thuyết giảng về “lẽ trời”, “bổn phận” tự nhiên của con người phải tuân theo lẽ trời Dharma một cách nhiệt tình, tận tâm, không vụ lợi. Đó là linh hồn bất diệt ở mỗi con người có thể xác, còn gọi là “Tinh thần tuyệt đối tối cao”. Do đó, có thể nói Bhagavad – Gita được coi như là bộ thánh kinh tổng hợp và phổ biến nhất của đạo Hindu. Trích dẫn một số châm ngôn (tư tưởng triết học) như sau :

           -Người không kiểm soát được cảm quan thì không hiểu biết tâm linh. Đó là người không có khả năng thiền quán.

           -Vì không tham thiền nên không an tâm. Làm sao có hạnh phúc nếu tâm bất an ?

           -Thỏa mãn với bất cứ điều gì, chẳng cần tính toán, vượt lên khỏi những trái ngang của cuộc sống, không tranh giành với ai, an nhiên trong thành bại. Người ấy dù làm gì cũng không tội lỗi.

          -Ai đối xử bạn và thù như nhau, danh dự và sỉ nhục như nhau, nóng và lạnh như nhau, sướng vui và khổ đau như nhau. Tất cả đều không dính mắc. Người ấy Ta quý mến và được tôn kính.           

       Bộ sử thi Mahabharata không chỉ là một gia tài văn học dân gian mà còn chứa đựng trong đó những huyền thoại, sự tích thần linh, những cách ngôn của đời sống con người Ấn Độ cổ xưa hàm chứa những tư tưởng triết học suy nghiệm về vũ trụ, về tâm linh và về số phận con người.

       Như vậy, trong lĩnh vực tinh thần, thế giới quan duy tâm, tín ngưỡng trong thánh kinh Veda, kinh Upanishad và đạo Bà La Môn được suy tôn là hệ tư tưởng chính thống ngự trị trong đời sống tinh thần của xã hội cổ xưa Ấn Độ. Nó vừa mang tính chất triết học vừa mang đậm màu sắc tín ngưỡng, tôn giáo được trình bày dưới hình thức kinh sách. Cho nên đạo Bà La Môn hay Ấn Độ giáo chỉ là tín ngưỡng dân gian hơn là tôn giáo. Đó là những trường phái triết học Ấn Độ cổ đại.

      Nói tóm lại, lịch sử phát sinh và phát triển của các tư tưởng triết học Ấn Độ chứng tỏ đó là một nền triết học có một truyền thống lâu đời. Chúng được hình thành từ cuối thiên niên kỷ II đầu thiên niên kỷ I trước công nguyên. Từ thế giới quan thần thoại, tín ngưỡng, tôn giáo, người Ấn Độ đã sáng tao nên nền triết học dựa trên tư duy trừu tượng, lý giải căn nguyên của vũ trụ, nhân sinh và cố gắng vạch ra bản chất đời sống tâm linh con người với các tác phẩm triết học, các trường phái tư tưởng như Veda, Upanishad, đạo Bà La Môn, đạo Hindu và cả đạo Phật.

       Các trường phái triết học, tư tưởng đầy huyền thoại này đã được hình thành trong thời kỳ phát sinh và phát triển của lịch sử hình thành hợp nhất của hai chủng tộc Dravidian với Aryan từ giai đoạn chiếm hữu nô lệ tới giai đoạn hình thành nên nền văn minh Ấn Độ cổ đại mấy ngàn năm trước công nguyên. Sự hình thành và phát triển của hai bộ tộc cũng chính là sự hình thành và phát triển của các trường phái tư tưởng triết học đầy huyền thoại. Sức hấp dẫn làm cho nó phát triển lan tỏa từ trong nước ra đến bên ngoài và khu vực chung quanh Đông Nam châu Á. Chính vì thế mà các dân tộc khác ở phía đông Ấn Độ đã nhanh chóng tiếp thu, chia sẻ khi các thương buôn mang đến, lần lượt từng trường phái từng thời kỳ để làm nên tín ngưỡng hay tôn giáo cho đất nước mình từ nước bạn gọi là văn hóa hay văn minh Ấn Độ cổ đại.

        +Hindu giáo (Ấn Độ giáo) :

        Thời kỳ Hindu giáo khoảng từ 400 năm trước công nguyên cho tới nay. Ấn Độ giáo đã được gọi là  "tôn giáo lâu đời nhất" trên thế giới và một số học viên và các học giả đề cập đến như "vĩnh cửu  pháp luật" hay "con đường đời đời" ngoài nguồn gốc loài người. Các học giả coi Ấn Độ giáo như một sự hợp nhất hoặc tổng hợp của nền văn hóa Ấn Độ và truyền thống khác nhau với nguồn gốc đa dạng và không có người sáng lập.  Điều này "tổng hợp Hindu" bắt đầu phát triển từ năm 500 TCN và 300 SCN, sau thời Vệ đà. 

       Ấn Độ giáo là tôn giáo chiếm ưu thế, hay cách sống ở Nam Á, đáng chú ý nhất ở  Ấn Độ và  Nepal.  Mặc dù Ấn Độ giáo có chứa một loạt các triết lý, là một gia đình của các nền văn hóa tôn giáo liên kết ràng buộc bởi các khái niệm chia sẻ, lễ nhận biết, vũ trụ học,  tài nguyên văn bản chia sẻ,  chuyến hành hương đến thánh địa và các câu hỏi của cơ quan đều có một sự đa dạng đan xen của niềm tin và thực hành. Với khoảng một tỷ người theo dõi,  Ấn Độ giáo là  tôn giáo lớn thứ ba thế giới về dân số, sau  Kitô giáo và  Hồi giáo.

        Về ngôn ngữ học, từ  Hindu   có nguồn gốc từ  Ấn-Aryan, tiếng    Phạn  Sindhu,  tên Indo-Aryan cho  sông Indus ở phía tây bắc của  tiểu lục địa Ấn Độ (ngày nay là Pakistan và  Bắc Ấn Độ).  Thuật ngữ "Hindu" trong những hồ sơ cổ đại là một thuật ngữ địa lý và đã không tham khảo một tôn giáo. Trong số các hồ sơ sớm nhất về 'Hindu' với ý nghĩa của tôn giáo có thể được trong thế kỷ thứ 3, thứ 7 sau công nguyên, gọi người dân sống trên sông Indus. 

        Thuật ngữ tiếng Ả Rập Hindu này đã tự lấy từ tiền Hồi giáo Ba Tư, trong đó đề cập đến tất cả người Ấn Độ. Vào thế kỷ thứ 13,  Hindustan nổi lên như một lựa chọn phổ biến  tên của Ấn Độ, có nghĩa là "vùng đất của người Hindu". 

        Thật ra, từ ngữ “Hindu giáo” có thể được dùng để chỉ chung cho “Ấn Độ giáo” kề từ khởi nguyên là thời kỳ Veda, trải qua thời Bà La Môn và mãi cho tới nay. Sau khi các trí thức – tu sĩ Bà La Môn giáo phát triển các kinh điển, các nghi lễ đến chỗ quá phức tạp, quá siêu hình và tầng lớp tu sĩ Bà La Môn chiếm giữ vị trí quá ưu đãi trong xã hội thì nảy sinh ra khuynh hướng hoài nghi, phản ứng lại các giáo điều của các tu sĩ Bà La Môn và đặc biệt là phê phán các u sĩ thoái hóa, không có đức hạnh. Đây cũng là trong bối cảnh đã ra đời đạo Phật và một số đạo khác. Các đạo này khuyến khích sự giải thích do chính con người quyết định chớ không phải trông chờ vào thần linh. Các tôn giáo này được dân chúng hưởng ứng nên đã phát triển trong nhiều thế kỷ, trong đó đạo Phật là lớn mạnh nhất. Nghi lễ và các câu chuyện thần thoại về thần linh cũ đã được kể lại mới mẻ hơn, gọi là Hindu giáo.

       Các thần thoại, các quan niệm tín ngưỡng, tư tưởng triết học được viết lại theo một cách mới, dễ hiểu, gần gũi hơn với người bình dân. Chuyện về các thần Vishnu, Shiva  được nói đến nhiều nhất và trong xã hội Ấn Độ hình thành các giáo phái hoặc đề cao Shiva gọi là Shiva giáo (Sihvaism) hoặc đề cao Vishnugọi là Vishnu giáo (Vihnuism). Rồi để thu hút tín đồ Phật giáo đến với Hindu giáo, người ta coi Phật Thích ca cũng là một kiếp hóa thân của Vishnu.

       Và tất cả những vị thần khác nhau, những tín ngưỡng của nhiều nhóm người cũng được tổng hợp, dung hòa trên nền tảng tín ngưỡng đa thần cổ xưa của người Ấn Độ. Những câu chuyện về Siva, Vishnu, Krishna, Rama, Sita…kể cả Brahman không chỉ tiếp tục gắn bó sống động, hấp dẫn, tâm linh trong cộng đồng cư dân đa dạng của bán đảo Ấn Độ mà còn lan tỏa ra khắp các nền văn hóa các quốc gia lân cận, đặc biệt là ở Đông Nam châu Á.


  Kỳ sau : Bài 3 : Chương 3 – Tín ngưỡng Ấn Độ giáo du nhập vào Việt Nam   



. @ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 19.10.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004