Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (37)



Nhà Tiền Lê & Vận May Nhà Lý







N hà Tiền Lê (980- 1009). Quốc hiệu Đại Cồ Việt. Là triều vua Lê Đại Hành, được Dương Vân Nga và triều đình Đinh (968- 980) trao Hoàng bào. Lịch sử gọi là nhà Tiền Lê. Phân biệt với nhà Hậu Lê do Lê Lợi lập.

Nhà Tiền Lê bắt đầu khi Đinh Phế Đế nhường ngôi cho Lê Hoàn năm 980. Tồn tại ba đời vua. Lê Ngọa Triều chết. Nhà Lý (1009- 1225) thay nhà Tiền Lê.

Nhà Tiền Lê nối tiếp mọi quy củ của nhà Đinh.

Nhà Đinh tập trung hết quyền về tay hoàng đế. Vua Lê Đại Hành khôn hơn. Chia quyền cho các đại thần. Vua tự cầm quân, đánh giặc trong/ ngoài.

Vua Đại Hành đánh giặc & Xây dựng triều Tiền Lê

Lê Đại Hành đánh tan cuộc xâm lược của nhà Tống năm 981. Ông bị người đời lên án chuyện thoán ngôi vua Đinh. Đại Việt sử ký toàn thư viết ông bị chê trách vì lập Dương Vân Nga, hoàng hậu của Đinh Tiên Hoàng làm một trong năm hoàng hậu của mình. Lê Hoàn chết. Các con ông, cướp ngôi vua đẫm máu. Nhà Tiền Lê sụp đổ rất nhanh.

Lê Đại Hành làm vua 24 năm, thọ 65 tuổi (941 - 1005), băng hà ở điện Trường Xuân.

Vua cầm quân dẹp loạn trong nước

Các vua Tiền Lê cai trị. Luôn bị các tù trưởng địa phương chống đối.

Năm 989. Lê Đại Hành sai viên Quảng giáp Dương Tiến Lộc đi thu thuế châu Hoan, châu Ái. Tiến Lộc đem người hai châu ấy, xin về với Chiêm Thành. Chiêm Thành không nhận. Dương Tiến Lộc lấy châu Hoan, châu Ái làm phản. Lê Đại Hành đi đánh. Giết Tiến Lộc và rất nhiều người hai châu đó.

Năm 999. Lê Đại Hành đánh Hà Động, dẹp được 49 động. Sau đó, vua phá được động Nhật Tắc, châu Định Biên (Cao Bằng).

Người Cử Long làm loạn. Không phục triều đình. Năm 1001. Lê Đại Hành đi đẹp được loạn.

Thời Lê Ngọa Triều. Vẫn phải đối phó với sự chống đối của các địa phương. Năm 1008. Ngọa Triều đi đánh hai châu Đô Lương, Vị Long. Bắt được vài trăm người bản địa. Cùng năm, vua đi đánh châu Hoan và châu Thiên Liễu, bắt tù binh về giết.

Tháng 7- 1009. Lê Ngọa Triều đi đánh các châu Hoan Đường, Thạch Hà.

Nhà Tiền Lê mở giao thông bến thuyền

Đánh thắng Chiêm Thành. Năm 983. Lê Đại Hành sai quan Ngô Tử An đem ba vạn người đi mở đường bộ, từ cửa biển Nam Giới đến châu Địa Lý.

Năm 1003. Vua Lê Hoàn đi Hoan Châu, ra lệnh vét kênh Đa Cái cho thông thẳng đến Tư Củng trường ở Ám Châu.

Năm 1009. Triều thần xin đào kênh, đắp đường và dựng cột bia ở Ái Châu. Lê Ngọa Triều xuống chiếu cho lấy quân và dân ở châu Ái đào đắp từ cửa quan Chi Long qua Đỉnh Sơn đến sông Vũ Lung. Ra lệnh đóng thuyền để ở các bến sông Vũ Lung, Bạt Cừ, Động Lung, chở người qua lại.

Tháng 7 năm đó, nhân đi đánh châu Hoan Đường, hành quân đến Hoàn Giang. Lê Ngọa Triều sai Hồ Thủ Ích đem hơn 5.000 quân của châu Hoan Đường, sửa chữa đường từ sông Châu Giáp đến cửa biển Nam Giới. Thuận tiện hành quân về phía Nam.

Kinh tế Nông nghiệp, Làng nghề, Thương mại

Thời Tiền Lê. Nông nghiệp là nền tảng cơ bản của nền kinh tế. Phần lớn ruộng đất ở làng xã trong tay triều đình. Đất do triều đình sở hữu.

Nhà Tiền Lê khuyến khích dân các nơi khai đất hoang. Lập làng. Mở rộng đất công. Những ruộng đất ở làng xã và ruộng mới, là do dân khai hoang. Dân theo tập tục. Chia ruộng đều cho nhau, cày cấy và nộp thuế.

Các làng nghề thủ công truyền thống phát triển. Một số quan xưởng của triều đình hình thành để làm các vật dụng cho vua quan, đúc tiền, đúc vũ khí. Xây dựng cung điện như: điện Bách Bảo Thiên Tuế ở núi Đại Vân, cổ giác vàng bạc, làm nơi coi chầu; điện Phong Lưu, điện Tử Hoa, điện Bồng Lai, điện Cực Lạc, lầu Đại Vân, điện Trường Xuân, điện Long Bộc, mái lợp ngói bạc.

Những nghề sản xuất thủ công nghiệp trong dân gian: kéo tơ, dệt lụa, rèn sắt, làm giấy, đúc đồng, làm vàng bạc, đóng thuyền...

Người Việt uống rượu và buôn bán với người Tống

Đối tác buôn bán chủ yếu của Đại Cồ Việt là nước Tống. Hai bên lập ra những nơi giao dịch song phương. Gọi là Bạc dịch trường đặt trên đường thông lộ biên giới.

Những Bạc dịch trường quan trọng thời này là trại Vĩnh Bình (Lê Văn Siêu phỏng đoán là chợ Kỳ Lâm hiện nay, tại Sách Nam Giang thuộc trại Cổ Vạn và châu Tô Hậu (phỏng đoán là châu Thất Khê, trại Hoành Sơn (Na Chàm ở ải Nam Quan). Trại Hoành Sơn tụ tập nhiều nhà buôn từ châu Quảng Nguyên của Đại Cồ Việt và châu Đặc Ma của nước Đại Lý (Vân Nam) và các lái buôn từ Quảng Châu của nước Tống.

Bạc dịch trường lớn nhất gần biên giới là điểm giao dịch hai nước nằm ở trại Như Hồng, Khâm châu.

Các quan chức địa phương biên giới hỗ trợ quan hệ buôn bán của các thương gia hai bên. Nếu xảy ra việc kêu ca vì người bán cân thiếu. Đại Cồ Việt cử sứ sang Khâm châu thử lại. Triều đình nhà Tiền Lê sai người sang giao dịch thẳng với khách buôn người Tống. Hàng bán của Đại Cồ Việt có vàng, bạc, tiền đồng. Đây không chỉ là thị trường hàng hóa mà còn là thị trường tiền tệ. Hai bên trao đổi ngoại hối.

Tác giả Chu Khứ Phi mô tả việc buôn bán giữa hai bên lúc đó trong sách Lĩnh ngoại đại pháp:

Hai bên gặp nhau thường uống rượu làm vui rồi mới bàn chuyện buôn bán. Người Tống làm nhà ở tại chỗ lâu ngày và thường dìm giá làm người bán phải bán rẻ; nhưng phú thương người Việt cũng không chịu, cầm giữ giá lâu

Tiền Thiên Phúc Trấn Bảo

Lê Hoàn đúc duy nhất tiền Thiên Phúc trấn bảo, lấy tên theo niên hiệu đầu tiên. Các vua Tiền Lê sau không đúc tiền.

Đại Việt sử ký toàn thư Việt sử thông giám cương mục đều nhắc đến việc tiền Thiên Phúc được đúc mùa xuân năm 984. Do tiền trong nước không đủ nhu cầu dùng. Một số đồng tiền nhà Đường cũ như Khai Nguyên và nhà Tống như Thuần Hóa, Tường Phù được lưu hành trong nước Đại Cồ Việt.

Nhà Tiền Lê đặt ra thuế thổ sản theo phép thời Tam Đại (Hạ, Thương, Chu) của Tàu. Lấy cống phẩm. Không thu bằng tiền. Triều đình có chính sách khuyến khích thương mại. Những người buôn bán không phải nộp thuế. Họ bán những nông phẩm sản xuất. Đã chịu thuế ruộng đất rồi.

Với nước Tàu thuần phục giả, độc lập thật

Với chính sách thuần phục giả độc lập thật. Quan hệ ngoại giao giữa nhà Tiền Lê với nhà Tống có nhiều thuận lợi. Nhà Tống tỏ ra dè dặt. Mềm dẻo với các vua nhà Tiền Lê, nước Đại Cồ Việt. Bởi nước Tàu phải đối phó với người Khiết Đan ở phía Bắc.

Lê Hoàn luôn tỏ thái độ coi thường sứ giả nhà Tống. Tống Cảo, sứ Tống sang phong chức. Lê Hoàn nhận tờ chiếu của vua Tống. Không chịu quỳ. Nói là bị ngã ngựa đau chân. Sứ Tống im lặng. Lê Văn Siêu cho rằng đó là do sự ngang ngạnh của vua Lê Hoàn. Tống Cảo biết. Nhưng không phản ứng. Trong sớ tâu Tống Thái Tông sau này. Tống Cảo nói rằng dù thác cớ đau chân, nhưng ngay sau đó Lê Hoàn lại có thể đi chân đất, cầm cần câu lội xuống nước câu cá.

Trong lần tiếp sứ Tống. Lê Hoàn còn làm những việc trêu chọc sứ Tàu. Sai người mang con hổ đến công quán cho sứ Tống xem. Sai mang con trăn lớn đến công quán, hỏi sứ Tống có ăn được thì làm cơm thết đãi. Sứ Tống khước từ. KHông dám nổi nóng. Không dám ngênh ngang, hoắng huyếnh là sứ giả thiên triều.

Lê Hoàn nói với Tống Cảo về việc ngoại giao:

Sau này có quốc thư thì cho giao nhận ở đầu địa giới, khỏi phiền sứ thần đến tận đây nữa.

Tống Cảo về tâu lại. Tống Thái Tông bằng lòng với đề nghị của Lê Hoàn.

Năm 995- 996. Biên giới hai bên có biến cố. Các thổ quan vùng khe động sự bạo loạn. Tướng nhà Tống bắt hơn 100 người Việt làm loạn. Trả Đại Cồ Việt. Nhà Lê bắt 27 người Tống. Trả về Tống. Nhà Tống sai Lý Nhược Chuyết mang chiếu thư và đai ngọc sang ban cho Lê Hoàn. Năm 997. Nhà Tống gia phong vua Lê Hoàn làm Nam Bình vương.

Năm 1004. Lê Hoàn sai hoàng tử Lê Minh Đề đi sứ Tống. Năm 1005. Lê Hoàn mất. Các con cướp ngôi. Nước Đại Cồ Việt loạn. Minh Đề phải trú lại Quảng Châu. Triều thần nhà Tống xui Tống Chân Tông phát binh đánh Đại Cồ Việt. Vua Tống bảo nhà Lê giữ lệ tiến cống. Sai con sang chầu. Không nên đánh. Giữ cho phía Nam yên ổn.

Năm 1006. Lê Long Đĩnh giết anh là Lê Trung Tông. Giành ngôi vua. Nhà Tống không can thiệp. Năm 1007. Tống Chân Tông sai sứ sang phong Lê Long Đĩnh làm Giao Chỉ quận vương và đúc ấn đưa sang.

Năm 1009. Lê Ngọa Triều sai sứ đem con tê ngưu thuần, biếu nhà Tống. Vua Tống nghĩ tê ngưu từ xa đến. Không hợp thủy thổ muốn trả lại. Nhưng sợ phật ý vua Lê. Đợi cho sứ Đại Cồ Việt về, rồi mới mang thả ra biển. Sau đó Lê Ngọa Triều xin áo, mũ trụ giát vàng, vua Tống bằng lòng cho.

Lê Đại Hành phá Tống, bình Chiêm

Sử Việt ghi Lê Đại Hành phá Tống bình Chiêm. Năm 981. Lê Đại Hành sai Từ Mục, Ngô Tử Canh sang sứ Chiêm Thành. Bị vua Chiêm bắt giữ. Lê Đại Hành nổi giận. Sai đóng chiến thuyền sửa binh khí, tự làm tướng đi đánh.

Năm 982, vua Lê khởi binh thân hành Nam tiến. Quân Đại Cồ Việt thắng lớn. Chém chết vua Chiêm là Ba Mi Thuế tại trận. Chiêm Thành thua. Nhiều quân sĩ bị bắt sống. Quân Lê bắt lính. Bắt 100 kỹ nữ trong cung, và một nhà sư người Thiên Trúc. Lấy các đồ quý đem về. Thu được hàng vạn vàng bạc, châu báu. San phẳng thành trì. Phá hủy tông miếu nước Chiêm.

Lưu Kế Tông, tướng của Lê Hoàn trốn. Ở lại Chiêm Thành.

Năm 992. vua Chiêm mới là Harivarman II sai sứ sang xin lại 360 tù binh bị bắt giữ mang về châu Ô Lý. Harivarman II sai sứ Chế Đông sang dâng sản vật nước Chiêm. Vua Lê Đại Hành trách là trái lễ. Không nhận. Harivarman II sợ hãi. Năm 994 lại sai cháu Chế Cai sang chầu. Từ đó quan hệ hai bên yên. Không xảy ra xung đột.

Lê Đại Hành chết. Loạn cung đình. Các con tranh nhau cướp ngôi.

Hoàng tử thứ ba Lê Long Việt lên ngôi vua, là vua Lê Trung Tông (983- 1005). Là vua thứ hai của nhà Tiền Lê. Tại vị được ba ngày. Bị Lê Long Đĩnh, em cùng mẹ giết. Lê Long Đĩnh lên thay.

Năm 1009. Lê Long Đĩnh chết. Điện tiền Lý Công Uẩn thay. Lập ra nhà Lý. Nhà Tiền Lê tồn tại 29 năm. Ba đời vua.

Đền Vua Lê Đại Hành & Khối Tình định mệnh

Đền Vua Lê Đại Hành là một di tích đặc biệt của cố đô Hoa Lư. Đền thờ vua Lê Đại Hành, có tượng thờ thái hậu Dương Vân Nga và tượng Lê Long Đĩnh. Có bài vị thờ công chúa Lê Thị Phất Ngân và tướng Phạm Cự Lượng. Đền nằm cách đền vua Đinh Tiên Hoàng 300 mét, thuộc thành Đông kinh đô Hoa Lư (nay là làng cổ Yên Thành, xã Trường Yên, Ninh Bình).

Đền nhỏ hơn đền vua Đinh. Không gian trong đền gần gũi và huyền ảo như đang kể chuyện Lê Hoàn và khối tình định mệnh với Dương Vân Nga.

Ðền vua Lê Đại Hành có ba toà. Toà ngoài là Bái đường. Toà giữa là Thiêu hương thờ Phạm Cự Lượng, người có công với Lê Ðại Hành. Gian giữa chính cung thờ Lê Hoàn ngồi hướng về phía trước. Bên phải là Lê Long Đĩnh quay về hướng Bắc. Bên trái là hoàng hậu Dương Vân Nga quay hướng Nam, về phía đền vua Đinh.

Gian bên trái chính cung thờ công chúa Lê Thị Phất Ngân. Con gái vua Lê Hoàn và Dương Vân Nga. Là vợ của Lý Thái Tổ. Năm 1000. Hoàng hậu Lê Thị Phất Ngân sinh ra vua Lý Thái Tông. Nhà Lý dời đô về Thăng Long. Lê Thị Phất Ngân ở lại Hoa Lư, tu tại chùa Duyên Ninh. Trông giữ lăng mộ vua cha Lê Đại Hành.

Nét độc đáo ở đền thờ vua Lê Đại Hành là nghệ thuật chạm gỗ thế kỷ 17 đã đạt đến trình độ điêu luyện, tinh xảo. Nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian Việt của các nghệ nhân Ninh Bình tinh tế, giàu âm hưởng Tâm linh. Bởi gắn với các truyền thuyết về Lê Hoàn. Tương truyền, bà mẹ mơ thấy hoa Sen. Sinh ra Lê Hoàn. Trong lúc đi cấy ở cạnh ao sen. Bà đã ôm Lê Hoàn trong khóm trúc và được con hổ chúa rừng xanh ấp ủ. Bà cầu xin, con hổ bỏ đi. Lớn lên Lê Hoàn lập nghiệp lớn Phá Tống, bình Chiêm lừng lẫy.

Ba pho tượng có ba lớp văn hóa chồng nhau

Đền vua Lê Đại Hành dựng trên nền cũ của cung điện cố đô Hoa Lư. Kiến trúc cơ bản thuộc phong cách cuối thế kỷ XVII. Thời Nguyễn tu sửa lớn.

Trong cung cấm của đền có ba pho tượng. Hoàng đế Lê Đại Hành ngồi ngai ở gian giữa. Hoàng hậu Dương Vân Nga ở gian bên trái. Vua Lê Long Đĩnh (Lê Ngọa Triều) ở gian bên phải. Theo tâm thức dân gian. Dương Vân Nga là cánh tay phải của vua. Là người góp công đưa Lê Hoàn lên ngôi. Nhưng lòng nàng vẫn hướng về đền thờ người chồng cũ Đinh Tiên Hoàng. Nên tượng bà đặt ở hông bên trái.

Theo các nhà nghiên cứu nghệ thuật. Mới quan sát, cả ba pho tượng này đều có dáng dấp thời Nguyễn vì nước sơn mới và những hoa văn trang trí rồng, mây, hoa, lá vừa quen thuộc ở thời Nguyễn vừa làm theo kỹ thuật uốn dán vào. Có một số nét của cuối thế kỷ XVII sang thế kỷ XVIII. Hoa cúc trên mũ bà Dương Vân Nga rực rỡ mà gọn đẹp. Hài của các tượng đều chạm mảng lớn với đầu rồng đơn giản.

Trên tổng quan cả ba tượng này, có nhiều nét riêng tiếp nhận từ tượng thời Mạc, để phát triển vào những năm đầu thế kỷ XVII. Như vậy ở ba pho tượng này có ba lớp văn hóa chồng nhau, do các thời sau tu sửa, đã đắp thêm vào, chồng phủ ra ngoài.

Tượng vua Lê Đại Hành đội mũ bình thiên. Tuy thời sau thêm nhiều, song phía trước mũ còn chạm nổi chữ Vương to, theo mũ tượng các đức vua Mạc. Tóc của Lê Đại Hành và Lê Long Đĩnh không làm thành mảng tam giác chảy xuống bệ như các tượng thời Nguyễn, mà đều cắt ngắn đến gáy. Tóc bà Dương Vân Nga được tết một dải chảy sau tai xuống vai rồi chia ra túm về bả vai, đằng trước túm ra sau lưng. Giống như các tượng Quan Âm thời Mạc và chuẩn bị cho tượng giữa thế kỷ XVII.

Khuôn mặt vua Lê Đại Hành phương phi, đầy đặn, sáng láng. Khuôn mặt Dương Vân Nga hiền hòa nét chân dung riêng, khuôn trăng đầy đặn, phúc hậu.

Lê Thị Phất Ngân truyền gen nhà Lê sang nhà Lý

Lê Thị Phất Ngân là một trong những Hoàng hậu đầu tiên của triều nhà Lý. Là vợ vua Lý Thái Tổ. Là mẹ vua Lý Thái Tông. Là công chúa con vua Lê Đại Hành và Dương Vân Nga.

Vua Lý Thái Tông là con trai vua Lý Công Uẩn và Lê Thị Phất Ngân. Lý Thái Tông mang gen của Lê Đại Hành và Dương Vân Nga truyền qua mẹ Lê Thị Phất Ngân sang nhà Lý.

Lê Thị Phất Ngân công chúa sinh tại kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình), Là chị em cùng cha khác mẹ, với hai vua Lê Trung Tông và Lê Ngọa Triều. Là em cùng mẹ, khác cha với vua Đinh Phế Đế. Căn cứ vào năm Lê Hoàn lập Dương Vân Nga làm hoàng hậu (981) và năm sinh của Lý Thái Tông (1000). Lê Thị Phất Ngân sinh khoảng sau năm 981 vài năm.

Đại Việt sử ký toàn thư Quyển II, Kỷ nhà Lý, mục Lý Thái Tông viết:

Mẹ là hoàng hậu họ Lê, sinh vua vào ngày 26 tháng 6 năm Canh Tý, niên hiệu Ứng Thiên năm thứ 7 [1000] thời Lê, ở phủ Trường Yên.

Lý Thái Tổ làm vua. Lê Thị Phất Ngân được phong Lập Giáo hoàng hậu. Hưởng quy chế xe kiệu, áo mũ vượt hơn các hoàng hậu khác.

Khi Thái Tông Hoàng đế lên ngôi. Lê Thị Phất Ngân được tôn làm Linh Hiển Hoàng Thái Hậu.

Theo Ngọc phả các vua triều Lê tìm thấy ở các di tích thuộc xã Liêm Cần, Thanh Liêm, Hà Nam:

“Thái Tổ hoàng đế sinh thời hàng năm theo Thiền sư Vạn Hạnh vào hầu vua Lê Hoàn ở thành Hoa Lư. Thái Tổ được vua Lê Hoàn yêu, cho ở lại kinh thành học tập quân sự. Vua lại gả con gái cả là Lê Thị, sinh ra Lý Phật Mã và đặc phong cho Thái Tổ làm Điện tiền cận vệ ở thành Hoa Lư.

Dần dần, Thái Tổ được thăng chức Điện tiền chỉ huy sứ. Chức ấy chỉ dành cho hoàng tộc hoặc quốc thích mới được trao. Bước vào bộ máy quyền lực, là điều kiện ban đầu, để Lý Thái Tổ lên ngôi vua, thay thế nhà Lê”.

Theo thần tích các chùa Duyên Ninh, chùa Nhất Trụ ở cố đô Hoa Lư. Nhà Lý dời đô về Thăng Long. Hoàng hậu Lê Thị Phất Ngân thường xuyên lui về đô cũ để cùng người con trai Lý Long Bồ mới hơn 10 tuổi trấn thủ vùng đất này. Tại Hoa Lư, Hoàng hậu giúp dân tu bổ, xây dựng nhiều ngôi chùa để tu hành và trông coi lăng mộ vua cha Lê Đại Hành.

Tại chùa Duyên Ninh, bà tác hợp, nhiều đôi lứa nên duyên. Chùa Duyên Ninh trở thành ngôi chùa cầu duyên ở cố đô Hoa Lư.

Tại đền Vua Lê Đại Hành thuộc khu di tích quốc gia đặc biệt cố đô Hoa Lư ở Trường Yên huyện Hoa Lư (Ninh Bình), bên trái hậu cung có ban thờ công chúa Phất Ngân. Quan niệm con gái "xuất giá tòng phu" nên dân gian không đúc tượng như Lê Đại Hành, Dương Vân Nga và Lê Long Đĩnh ở chính cung mà chỉ có bài vị thờ công chúa.

Các nhà nghiên cứu cho rằng việc phối thờ cùng vua cha Lê Đại Hành và mẹ Dương Vân Nga trong khi rất nhiều Hoàng tử và Công chúa khác không được thờ trong đền này cho thấy công chúa Phất Ngân phải có công tích, đức hạnh vô lượng, mới được nhân dân tôn vinh như vậy.

Đức hạnh của công chúa Lê Thị Phất Ngân huyền vi. Nàng mang một sứ mệnh cao cả. Truyền gen của Lê Hoàn và Dương Vân Nga, sang nhà Lý.

Ở khu động Hoa Lư, ranh giới hai huyện Nho Quan và Gia Viễn (Ninh Bình) có nhiều đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và thái hậu Dương Vân Nga phối thờ Lý Thái Tổ cùng hoàng hậu Lê Thị Phất Ngân như: đình Ngọc Nhị, đình Ngọc Ba, đình Trai, chùa Hưng Quốc. Giai thoại kể, trước khi dời đô về Thăng Long, Lý Thái Tổ đã đến những nơi này lạy tạ và xin ý chỉ các bậc tiền nhân.

Đêm Hồ Gươm. Người Nấu Sử Sôi Kinh nghe tiếng Dương Vân Nga ngâm ngợi:

“Đường trần cay đắng thiếp ngậm ngùi/ Hai chồng, dứt day Tình và Tội/ Trái tim ôm nặng, gánh sơn hà/ Tình là định mệnh, buộc dây oan/ Sám hối tạ ơn chàng, vua Đinh/ Hóa sinh, sinh hóa nợ duyên đời/ Truyền gen Lê- Lý Tình Non Nước/ Ai biết nông sâu, lỗi hẹn thề/ Tổ Tiên Việt bi hùng trao gen”.


(… Còn tiếp ...)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 10.10.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004