Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



VĂN CHƯƠNG NAM BỘ

VÀ

CUỘC KHÁNG PHÁP 1945 - 1950







KỲ THỨ 5

KỲ THỨ 5


CHƯƠNG II


VĂN CHƯƠNG NAM BỘ TRÌNH BÀY

NHỮNG ĐAU KHỔ TINH THẦN VÀ THỂ XÁC

CỦA NGƯỜI DÂN DƯỚI THỜI PHÁP THUỘC



Trong mục đích tạo những khích động nơi quần chúng độc giả, nhà văn Nam Bộ mô tả hình ảnh người dân dưới chế độ thực dân, một hình ảnh bộc lộ vai trò thấp kém của một dân tộc bị trị: đau đớn tinh thần cũng như thể xác; về tinh thần chán chường, sầu khổ, e dè sợ sệt; về thân xác bị ức hiếp, bóc lộ, nghèo khổ...


Tiết 1: Khổ sở tinh thần của người dân dưới chế độ.


Dưới thời Pháp thuộc, hầu hết mọi người đều mang những nỗi khổ tinh thần. Một vài người nhờ khéo lợi dụng tình thế, nhờ giỏi lòn cúi được mang quốc tịch Pháp nhưng thực tế vẫn là dân bản xứ, dân thuộc địa nên tuy về vật chất được đầy đủ, sung sướng, song về mặt tinh thần vẫn không khác biệt gì với người Việt Nam. Tất cả đều có những khổ sở tinh thần chung: e ngại súng đạn vô tình, phập phồng tai bay vạ gió vì những lời tố cáo vu vơ, càng đau đớn hơn khi giá trị làm người hầu như không có dưới mắt bọn ngoại nhân, càng chán chường hơn khi mình trở thành kẻ xa lạ ngay chính trên quê cha đất tổ...

Những khía cạnh trình bày, có thể xếp thành bốn phương diện, được diễn tả trong các tác phẩm của những nhà văn sau:

1/ - Phi Vân với truyện ngắn : Cô gái quê (1).

- Thiết Can với truyện ngắn: Tôi đã giết chồng (2).

- Bùi Nam Tử với truyện: Đoàn quân đi (3).

- Lý Văn Sâm với các truyện: Nắng bên kia làng,(4) và Ngoài mưa lạnh (4).

- Ngươn Long với truyện dài: Ngậm hờn (5).

- Vũ Anh Khanh với tác phẩm: Cây ná trắc (6).

- Vĩnh Sanh với thiên phóng sự: Từ người chết đến người sống (7).

ghi lại tâm trạng lo sợ, kinh hãi của người dân Nam Bộ về những tai bay vạ gió của những viên đạn vô tình.


- Hồ Thị với bài thơ: Bố (8).

- Hoàng Tấn với thiên bút ký: Cứu lấy quê hương (9).

- Việt Tha với tập hồi ký: Tôi bị đày Bà Rá (10) .

- Hoài Tân với truyện dài: Về thành (11)

- Vĩnh Sanh với thiên phóng sự: Ngày chúa nhật u tối (12) .

trình bày những nỗi phập phồng, e dè, hồi hộp của những người dân sống dưới một chế độ mà chỉ cần một sự sơ xuất nhỏ cũng đủ mang họa vào thân.


3/ - Hoài Tân với truyên dài Về thành

- Lý Văn Sâm với truyện ngắn Nắng bên kia làng,

mô tả cảnh lạc lỏng của một người dân Việt - sau khi thoát vòng kiềm hãm của bọn thống trị - ngay chính trên quê hương mình.


4/ - Bùi Nam Tử với truyện dài: Lỡ một kiếp người (13) .

- Thiết Can với truyện ngắn: Trái lựu đạn không kịp nổ,

phơi bày sự tuyệt vọng đến cùng cực của người nghèo khổ, đến nỗi có người bắt buộc phải giải thoát gia đình và bản thân mình bằng cách giết tất cả rồi tự sát.

Bao nhiêu mô tả đó, góp lại, tạo nên những khổ sở tinh thần của người dân thời Pháp thuộc.

Chúng ta thử đi vào từng chi tiết.


a/ Lo sợ súng đạn vô tình.


Chiến tranh làm bối cảnh cho tác phẩm thời nầy, một bối cảnh được tạo dựng theo hình ảnh thực tế nên phản ảnh tâm trạng phập phồng lo sợ của người dân.

Đầu tiên là lo sợ những viên đạn vô tình.

Trong bài phóng sự Từ người chết đến người sống Vĩnh Sanh đã ghi lại được nỗi lo lắng, khổ sở của người đân vì nạn tai bay vạ gió qua lời than của một người được phỏng vấn: Tôi không sợ bị bắt, tôi không sợ bị đánh, nhưng tôi chỉ sợ một điều... chết oan vì một viên đạn (14).

Những viên đạn hại người bất cứ lúc nào cũng có thể bắn ra vì những người lính ngoại quốc - hay bọn đã bỏ quốc gia dân tộc đi theo ngoại nhân - cái chết của người dân vô tội do đó đối với chúng không đáng kể, không tạo cho chúng một xúc động nào.

Ban ngày, khi những cuộc hành quân được thực hiện, chúng ta chứng kiến biết bao cái chết tức tưởi của người dân hiền hòa, chất phác sống nơi đồng ruộng. Thiết Can, với truyện Tôi đã giết chồng đã ghi lại bằng một vài lời ngắn ngủi, thảm cảnh đó: một buổi sớm, quân Ấn đến vây xóm và ruồng bắt dân cư... Nhà tôi...ra núp ở bụi tre. Chẳng dè vì thế mà bị chết. Tụi nó không vô xét từng nhà, chỉ đi ngang bắn tưới vào những lùm cây, bụi rậm. Tới khi chúng rút đi, tôi ra bờ tre sau nhà kiếm thì thấy chồng tôi đã nằm gục bên vũng máu: một viên đạn xuyên qua bụng đã giết chồng tôi. Chết không một lời trối! Không gặp mặt vợ con (15) .

Cái chết của nhân vật nầy không nằm trong trường hợp đặc biệt, chuyện nầy xảy ra quá thường vì người cầm súng không cảm thấy thắc mắc khi có người chết vì những viên đạn bắn bừa bãi của mình. Nạn nhân đối với chúng quá xa lạ, xa lạ về hình dáng, ngôn ngữ, xa lạ về quan niệm tư tưởng. Chúng không cần biết những người nầy hoạt động cho cách mạng hay lam lũ làm ăn; đối với chúng người nào cũng như người nấy: cũng mắt xếch, da vàng, mũi tẹt, có người giống như vậy đã chống trả lại chúng, chúng có quyền giết những người khác...

Ngươn Long trong quyển Ngậm hờn diễn tả những cái chết tức tưởi của dân chúng vì tâm trạng không cần phân biệt đó của bọn lính ngoại quốc. Khi một vài dân quân tấn công, chúng giết cả những người dân vô tội đang đi trên đường, đang ở trong nhà: Súng nổ. Trống, mõ hồi một đánh lên inh ỏi khắp nơi, từ làng nầy lại kế tiếp đến làng kia. Ở hai bên vệ đường, kẻ nào đang đi ngang qua đều bị bắn nhào; nhiều người đàn bà lâm nạn...Quân Ấn nhắm ngay chiếc nhà lá khạc đạn vào. Hai đứa nhỏ vừa lối ba tuổi ngã lăn bên cạnh mẹ. Nhiều người lâm nạn thình lình đương núp dưới gầm giường. Không nhà nào tránh khỏi (16) .

Ban đêm nỗi lo ngại càng gia tăng hơn. Bóng tối vắng ngắt như đồng loã với những gì mang đến tai họa, mọi người không dám ra đường khi đã hết, hay chưa có ánh mặt trời. Họ chui rút vào nhà để tự mình dối mình rằng được che chở bởi bốn vách lá vốn chẳng chắc chắn gì. Bùi Nam Tử đã diễn tả tâm trạng đó: Họ nằm trên ván, trên chõng, hoặc trên bồ rơm và nhóng ánh sáng mặt trời. Ra làm chi trong những giờ khuya khoắc. Biết đâu chừng một cặp mắt canh phòng nào không hờm sẵn để nhận lầm mình là bóng của một kẻ địch. Chiều đến...như cũng bị một sức vô hình thôi thúc...không bảo mà họ rút vào nhà riêng (17).

Nằm thao thức với bóng đêm, con người dễ sợ hãi, họ muốn có ánh sáng chập chờn của ngọn đèn dầu, để nhìn được cảnh vật chung quanh, để thấy người thân trong gia đình. Với cảnh vật quen thuộc, với người thân tộc, con người sẽ bớt sợ hơn, bớt cô đơn hơn. Nhưng họ không được thắp đèn. Thời này thắp đèn ban đêm đồng nghĩa với làm dấu hiệu và quân lính đồn bót buồn tình có thể bắn xả vào những nhà có để đèn như vậy.

Trong các truyện ngắn Ngoài mưa lạnh và Thêm một ngọn đèn, Lý Văn Sâm cho biết: Không ai thắp đèn vì sợ hòn đạn lạc (18). Những nhà đang thắp đèn, mặc dầu chưa đến giờ giới nghiêm, hễ có tiếng súng nổ, người vợ sẽ vội vàng tắt đèn để rồi cả nhà thao thức trong đêm tối.

Tóm lại, vì bọn lính ngoại nhân - cũng như bọn đánh thuê giết mướn - không biết tiếc thương sanh mạng của người dân, những tai nạn do súng đạn dễ xảy ra đối với người lam lũ, lương thiện. Cuối cùng, đời sống của họ đầy những phập phồng sợ hãi, không biết tai vạ đến với mình lúc nào.


b/ Phập phồng tai ương dễ đến.


Sau những lo âu về tai nạn do súng đạn, người dân còn e ngại những tai vạ có thể phủ lên mình họ hay gia đình họ một cách đột ngột, bất thường.

Đầu tiên ta có thể kể nạn bao bố nhìn mặt.

Thời này, để khủng bố dân chúng, người Pháp áp dụng chánh sách bao bố. Khi bắt được người ở hàng ngũ đối nghịch, họ bắt người nầy mang bao bố trùm kín mặt mày, chỉ chừa hai lỗ nhỏ để nhìn ra. Họ vào một xóm nào đó, lùa tất cả về bót để Bao bố nhìn mặt. Bao bố gật đầu người nào, kể như người đó nhà tan cửa nát, tù đày...

Nhiều tác giả đã khai thác đề tài nầy:

- Vĩnh Sanh với phóng sự ngắn: Ngày chúa nhật u tối,

- Hoàng Tấn với một đoạn mô tả dài trong thiên bút ký : Cứu lấy quê hương,

- Hồ Thị với bài thơ dài Bố.

Cả ba tác phẩm trên diễn tả lại tâm trạng hãi hùng của những người bị bố. Một sớm mai nào đó, dân chúng bị dọng cửa, họ bị lùa ra sân, chở đi về bót. Nơi đây số phận của họ gần như bị định đoạt một cách ngẫu nhiên: bao bố trong một buổi nhìn mặt phải gật vài lần để khỏi bị đánh đập. Sự lo sợ của người bị bố được diễn tả một cách cụ thể,rõ ràng qua bài thơ Bố của Hồ Thị:


Tim tôi nó nhảy tía lia

Thấy bao bố tiến dần về phía tôi

Từng hàng rồi lại từng người

Con mắt bao bố - chao ôi! tử thần...

Dường như rúm lại não cân

Chao ôi con mắt đến lần tôi kia

Mồ hôi toát dã, đầm dìa

Mắt tôi không biết nhìn về hướng nao...

. . . Đến khi nghe thở cái phào

Tôi vừa thoát một nạn nào gớm ghê...



. . . . . . . . . . . . . .

Trời ôi! Tôi muốn bể tim

Sao nhìn nhiều vậy, hay tìm ai đây?

Mỗi lần nghe ngẩng lên mày

Mỗi lần tôi muốn xỉu ngay tức thì

Thực lòng có sợ điều chi

Sợ bố gật ẩu - thì đi đứt đời . . .!



. . . . . . . . . . . . .

Tôi ra thấy chị đàn bà

Đứng bên hè phố khóc la thấu trời

Bao bố vừa gật chồng tôi

Trời ơi! Chết mất - trời ơi cứu giùm

Chị la chị khóc om sòm

Lính ra biểu chị ôm con về nhà (19)


Kế đến là những vụ bắt người trong đêm.

Gia đình nạn nhân không biết cơ quan nào bắt, về tội gì, giam ở đâu, chừng nào xử..., người nhà chỉ còn chọn ngày bị bắt làm ngài giỗ hằng năm (20).

Sống với những lo sợ nầy, người dân dễ thành người máy. Họ e dè sợ sệt, sống gần như không biết mình sống vì luôn luôn bị ám ảnh bởi những nguy hiểm, tai nạn trước mặt. Điển hình cho tình trạng đó ta có thể nhắc tới lời mô tả sau đây của Việt Tha trong quyển Tôi bị đày Bà Rá: Những chiếc xe bít bùng của sở mật thám...ngừng ở đâu thì thiên hạ tránh hết. Thậm chí, một hôm tài xế và thám tử ngồi trên chiếc xe ấy ngừng lại ở một tiệm cà phê để vào ăn uống mà bao nhiêu người đương ngồi trong tiệm đều xám mặt (21), hay của Hoài Tân trong truyện dài Về thành: Có tấm truyền đơn nằm trước sân, anh lấm la, lấm lét... Không dám đọc những tấm giấy tương tợ... dán ở mấy thân cây, rơi rắc dọc đường (22).


c/ Con người xa lạ với nhau, và lạc lõng ngay trên quê hương mình.

Sợ những tai ương dễ đến, con người sống co rút lại, ai lo phận nấy, không dám nhìn một người bạn lâu ngày không gặp, không dám chứa chấp những kẻ lỡ độ đường: vì sợ an ninh của chính mình, có người làm mặt lạ với nhau. Việt Tha (trongTôi bị đày Bà Rá) ghi lại nỗi chán chường của một người bị án biệt xứ, đến tỉnh xa Saigon để sống, gặp một người quen, anh nầy bỏ vào nhà để khỏi chào hỏi (23) . Hoài Tân (trong Về thành) ghi lại sự thất vọng của một người tình cờ gặp bạn cũ đang đứng trước nhà, người bạn nầy lãnh đạm như đối với một người chưa từng gặp (24) .

Người tù trở về còn gặp cảnh bẽ bàng hơn, họ trở thành người xa lạ, người mang những không may cho ai chứa chấp. Cuối cùng họ phải sống lén lút, trốn tránh trong niềm hận tủi vì sự xa lánh, ghẻ lạnh của người đồng chủng. Họ lạc lõng như vậy trên quê hương mình đến ngày bị bắt hoặc đến ngày bóng dáng bọn thực dân mất đi trên đất nước.

Sự lãnh đạm nầy bộc lộ ở mấy dòng sau của Lý Văn Sâm trong truyện ngắn Ngoài mưa lạnh : Hồi ấy, ba tôi không làm kiếm ra tiền. Sở nhà nước không nhận một kẻ có tiền án. Sở tư càng không nhận một kẻ mới ra tù. Láng giềng sợ ba tôi như người hủi (23) .


d/ Tuyệt vọng đến cùng cực.


Nếu vì sợ tai ương, con người thành xa lạ, khép kín với tha nhân, thì chính vì bị nghèo khổ, bị áp bức con người đã tuyệt vọng đến cùng cực, đời họ như một ngõ cụt. Không thể cựa quậy gì được, họ không thể sống vì không tìm ra một chút ánh sáng trong đời. Với họ, đời sống như một chuỗi dài khổ hình, sống chỉ để chịu đựng những đày đoạ. Họ chán nản muốn chết và muốn giải thoát luôn những người thân.

Bùi Nam Tử trong truyện Lỡ một kiếp người đã diễn tả hành động vô cùng tuyệt vọng đó: Một người lao động sau những khổ đau vì bị ức hiếp hành hạ đã giết vợ con rồi tự tử. Anh cho rằng anh hành động đúng: tự tay mình giết con cái còn hơn là để chúng nó bị xã hội lột từ ngày, từ giờ những miếng thịt, những hơi thở, những giọt máu. (24) .


Tiết 2: Những đau đớn thân xác của người dân dưới chế độ.


Chế độ thực dân xây dựng trên một căn bản tương phản với quyền lợi của đại chúng Vệt Nam (25) nên dân Việt thời Pháp thuộc phải gánh chịu những cực khổ vô bờ. Ngoài bọn thực dân chính quốc sang đây mong làm chủ nhân ông đất nước này, bọn tay sai bản xứ cũng góp phần đắc lực trong việc tạo nên những nỗi thống khổ đó.

Bị đè nén dưới hai từng, dân chúng Việt Nam đại đa số vô cùng khổ sở. Ở thành thị, đi làm phu, họ bị cặp rằng, cai thầu làm khó dễ, đi buôn bán, bị lính tráng đuổi xô, lên rừng cao su cạo mủ, bị chủ đồn điền vắt đến những giọt mồ hôi cuối cùng. Ở thôn quê, họ bị chủ ruộng xiềng xích bằng những tờ giấy nợ năm này sang năm khác, bị chức dịch làng xã ức hiếp, đánh đập, vu oan...

Màn âm u bao phủ họ và gia đình suốt cuộc đời.

Những nỗi khổ về phương diện vật chất của dân chúng, tác phẩm của văn chương Nam Bộ đề cặp đến ba khía cạnh:


1/- Lý Văn Sâm với truyện ngắn Thêm một ngọn đèn; Ngàn lau sông Dịch (26) và truyện dài Sau dẫy Trường Sơn,


- Quốc Ấn với các truyện Mưa và Những kẻ nghèo (27),

- Hồ Hữu Tường với tác phẩm Chị Tập (28),

- Sơn Khanh với truyện Loan (29),

- Liên Chớp với truyện dài Nguồn lửa hận (30),

- Bùi Nam Tử với truyện ngắn Lỡ một kiếp người,


cho người đọc thấy sự thật bi đát về tình cảnh của thợ thuyền Việt Nam như nghèo khó, bị ức hiếp, bị vu oan, làm việc gần kề với cái chết nhưng vẫn không đủ nuôi gia đình...


2/ - Lý Văn Sâm với truyện dài Sau dẫy Trường Sơn (31).

- Bùi Nam Tử với truyện ngắn Dưới gốc cao su (32),

- Sơn Khanh với truyện dài Nước độc (33).

trình bày cảnh địa ngục trần gian của những người phu cạo mủ trên các đồn điền cao su nủa người Pháp.


3/ - Bùi Nam Tử với tác phẩm Lỡ một kiếp người và Trốn tù (34),

- Sơn Khanh với truyện dài Loạn.

- Dương Tử Giang với truyện dài Tranh đấu (35),

- Phi Vân với các truyện dài Dân quê và Tình quê (36),đặt chúng ta trước nỗi đau lòng khi nhận chân được sự ức hiếp, bóc lột, đánh đập, vu oan... của bọn chủ điền tàn ác, bọn chức dịch làng xã vô nhân đối với những người dân quê nghèo khổ.

Nhìn chung, các nhà văn Nam Bộ đã mô tả đầy đủ các khía cạnh về nỗi thống khổ- liên quan đến những khía cạnh thân xác, vật chất - của người dân Việt Nam từ thiểu số sống ở thành thị, đồn điền đến số đông sống nơi ruộng vườn, làng mạc.

Ở đây, người đọc có thể không bằng lòng vì các tác giả chỉ mô tả, trình bày một cách trung thực và gần như không kết tội người Pháp đã tạo nên những cảnh khổ đó. Tuy nhiên, nguyên sự trình bày, chúng tôi nghĩ, tự nó đã có nghĩa như một lời tố cáo chánh sách cai trị của người Pháp, một chánh sách không đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân Việt Nam.




Người dân thành thị, công nhân sống trên đồn điền cũng như người dân quê nơi làng xã có những nỗi khổ riêng, tuỳ theo hoàn cảnh của mình.


1/ Ở thành thị thợ thuyền sống không ra con người.


Lý Văn Sâm, Quốc Ấn, Hồ Hữu Tường, Sơn Khanh, Liên Chớp bổ túc nhau mô tả đời sống thợ thuyền dưới thời Pháp thuộc, một đời sống chúng ta có thể nói một cách vắn tắt: Bao gồm hai tiếng cơ cực.

Trong truyện Thêm một ngọn đèn, Lý Văn Sâm đã cho thấy tình trạng của một người nghèo, mỗi ngày, khi chiều đến, cố lục lọi trong trí để tìm một người bạn nào đó có thể chứa chấp mình qua đêm: Có một buổi chiều mưa gió, Huyền nhìn mặt trời chìm lần xuống, lòng bối rối như một gã học trò chưa giải xong một bài toán khó...

- Về đâu?

Huyền cố moi óc để tìm một mái nhà tri kỷ (37).

Tình cảnh của nhân vật nầy gần như tình trạng chung của một số đông những kẻ không nhà, đêm đến gối mình trong chiếc chiếu mỏng trên các hè phố (38).


Trong truyện Ngàn lau sông Dịch tác giả phơi bày tất cả nỗi khốn khổ của một gia đình lao động: nhà cửa chật chội, thiếu thốn một cách thảm bại: Nhà chỉ có một bộ ván vợ chồng con cái chen chúc nhau nằm lục đục như heo trong chuồng (39). Nhà lại không phải lành lặn mà trống trước hụt sau, mái lá lổ chổ, mưa đến ướt át, dột ngay chỗ ngủ, mọi người đều phải thức tránh mưa chờ sáng.

Tình cảnh khổ sở này, theo Lý Văn Sâm, chung cho mọi người. Trong chuyện Thêm một ngọn đèn ông mô tả một xóm lao động: Nhà lá mọc xan xát. Cái nầy chồm lên cái kia. Cái kia chồm lên cái nọ (40).

Trong truyện dài Sau dẫy Trường Sơn, ông cũng nhắc lại điểm đó: những mái tranh thấp lè tè đứng yên phận bên ao bèo nước đọng (41).


Quốc Ấn qua truyện Mưa theo chân Lý Văn Sâm mô tả về người nghèo: bọn nghèo...ở chui rút trong những túp chòi, bên những đống rác rến, bùn lầy, thiếu vệ sinh (42).

Thật ra, nhà văn mô tả về cuộc sống nghèo nàn còn nhiều hơn nữa. Nhưng vấn đề không nằm trong chỗ mô tả vì những cây bút trước chiến tranh đã mô tả nhiều rồi. Vấn đề nằm ở chỗ làm sao cho người đọc nhận chân được sự bóc lột, bất công. Bởi vì nghèo khổ chỉ là hậu quả, sự bất công mới là nguyên nhân. Văn chương Nam Bộ ích lợi cho công cuộc kháng chiến vì trình bày được nguyên nhân tạo nên những nỗi khổ đó.

Các nhà văn Hồ Hữu Tường, Sơn Khanh, Liên Chớp mô tả sự bất công thể hiện bằng những hành vi bóc lột của bọn cai thầu, bọn cặp rằng đối với hạng người lao động, vô sản.

Trong các chuyện dài Lỡ một kiếp người, Chị Tập, các tác giả đã nhắc đến những thủ đoạn vặt của bọn cặp rằng như: ăn chặn tiền lương thợ, bắt buộc nhân công trước khi vào làm phải lo lót, tìm cách đuổi ngang nhân công để thâu dụng người mới, v.v...

Người thợ ngoài việc bị bọn trung gian bóc lột còn bị bọn chủ nhân tư bản khai thác: họ phải làm việc vất vả mỗi ngày 9 tiếng đồng hồ: từ bảy giờ sáng đến một giờ trưa rồi chiều hai giờ đến năm giờ rưởi (43).

Sức lao động của họ bị bắt buộc đến tận cùng để cho bọn có thân thế càng ngày càng giàu hơn trong khi họ càng lúc càng kiệt quệ, nghèo khổ hơn.

Nhà văn Liên Chớp nhắc đến một sự kiện não lòng khi mô tả tình trạng hiểm nguy đến tánh mạng của thợ thuyền trong lúc làm việc. Trong quyển Nguồn lửa hận, ông cho chúng ta biết có những người phu phải cong lưng vác những bao hàng nặng trĩu đi trên một tấm ván nhỏ để chuyển hàng từ ghe lên kho. Mệt nhọc, trơn trợt vì họ có thể té xuống sông và cái chết dễ dàng đến với họ.


Điều đáng buồn cho số phận người phu khi tai nạn xảy ra đã đành, điều đáng buồn hơn là bọn cai thầu, bọn chủ kho hàng đã không coi sự kiện trên như một việc quan trọng để sửa đổi điều kiện làm việc (như thay tấm ván chẳng hạn).

Nếu phu phen, thợ thuyền ý thức quyền lợi của mình hợp nhau lại, đoàn kết tranh đấu với chủ nhân để đòi hỏi sự công bằng tối thiểu, họ sẽ bị đàn áp, bị vu oan, bị bắt bớ, đánh đập. Quốc Ấn đã nhắc điều này trong truyện ngắn Những kẻ nghèo của ông.

Quốc Ấn đã cho chúng ta thấy nỗi khổ của thợ thuyền khi phải đối đầu với bọn chủ nhân giàu có nhưng lúc nào cũng khư khư bảo vệ túi tiền của mình và cố tìm cách làm giàu thêm: Ông chủ tiếp phái đoàn đại biểu, quả quyết không tăng một xu lương, thách thợ cứ nghỉ, và còn mắng thậm tệ. Bất bình, Bình cự lại. Rốt cuộc ông ta tỏ vẻ đấu dịu, khuyên anh em cứ đi làm đi, rồi chiều lại ông sẽ trả lời.

Sau đó ông ra xe hơi đi mất.

. . . Có lẽ ông ta thưa với nhà chức trách rằng thợ âm mưu phá hoại xưởng ông... (44).


Trong tình trạng sống như vậy, phu phen, thợ thuyền dễ dàng đánh mất nhân tính của mình vì miếng cơm manh áo. Họ trở nên dữ tợn, ác độc. Lý Văn Sâm trong truyện ngắn Rửa hờn (45) mô tả sự mất nhân tính đó: Hai người phu xích lô giành mối lôi kéo chị đàn bà đang có mang; một người ngoại cuộc đến khuyên giải đã bị họ xúm lại đánh đập, chửi bới...

Tóm lại, bị ức hiếp, thợ thuyền sống không ra con người về điều kiện vật chất, tình trạng làm việc... nhưng cũng chính những thiếu thốn đó khiến họ trở nên bất thường, ác độc, mất nhân tính.


2/ Nơi đồn điền người phu cạo mủ biến thành người máy.


Văn chương Nam Bộ sẽ thiếu sót nếu chỉ nhìn con người quần quật ở kho xưởng, những kẻ đứng bên tử thần ở kho hàng... Còn hạng người khác cũng khổ sở không kém, hạng người, nói theo Lý Văn Sâm bị đày lên rừng ma thiêng nước độc, miền sơn khê, lam chướng (46) .Bị đày không phải do nhà cầm quyền nhưng chánh phủ phần nào đã nhúng tay vào bằng cách tạo nên tình trạng nghèo đói, thất nghiệp, bất an cho hạng người này.

Bùi Nam Tử trong truyện ngắn Dưới gốc cao su (47) và Sơn Khanh qua truyện dài Nước độc nhắc đến bọn chủ nhân đồn điền lợi dụng tình trạng nghèo khổ, đói kém của người dân tuyên truyền cuộc sống thiên đường nơi rừng cao su rồi để lôi kéo một số người nhẹ dạ, cuối cùng những người đáng thương này phải kéo lê một kiếp sống như những kẻ tù đày trên vùng đất đỏ.


Thật vậy, cuộc đời họ và cuộc đời tù nhân không khác mấy:

- Cũng phải sống ở rừng hết hạn mới mong trở về.

- Cũng bị đánh đập ức hiếp.

- Cũng bị xa cách với cuộc đời bên ngoài.


* Bị giam hãm trên vùng cao su nước độc một thời gían dài:


Theo giao kèo, người phu cạo mủ phải làm việc đến khi hết hạn. Thời gian hai năm, có khi năm năm. Nhưng thực tế rất ít người thoát được bởi vì trong khoảng thời gian làm việc họ bị thiếu thốn, nợ nần; khi mãn hạn họ phải thêm giao kèo mới để lãnh một số tiền vừa đủ trang trải. Từ giao kèo nầy đến giao kèo khác họ gần như phải sống hết đời trên rừng cao su. Hy vọng ngày về của họ tuy có nhưng rất mong manh, theo Bùi Nam Tử: họ phải làm việc đến ngày quỵ bên gốc cao su hay chết bẹp dưới hai thúng mủ (48) .


* Bị đánh đập ức hiếp:


Trên lý thuyết, phu cạo mủ phụ trách công việc một người thợ chuyên môn của đồn điền, nhưng trên thực tế, họ như những người nô lệ của công ty. Công ty gần như toàn quyền sanh sát đối với họ.

Cảnh những người cai đánh đập bọn phu một cách dã man xảy ra gần như hằng bữa. Người thợ mủ làm việc dưới lằn roi, không được nghỉ ngơi, không nói chuyện khi làm việc, phải đem hết sức bình sanh ra châu toàn nhiệm vụ quá sức họ: cạo hai trăm tám mươi gốc cao su mỗi ngày (49). Cảnh bọn cai dựa thế sếp lớn, sếp nhỏ ức hiếp những người phu đơn độc xẩy ra như Cơm bữa.


* Bị xa cách với cuộc đời bên ngoài:


Người thợ mủ lên đến đồn điền rồi như bị nhốt riêng vào một thế giới riêng biệt, gần như không còn giao tiếp được với bên ngoài. Chỗ ở của họ được ngăn chặn một cách khoa học: trước mặt có đồn bót, đi ra khỏi trại, thế nào cũng bị bắt lại, không là nhà binh, thì cũng ông Chánh (50), sau lưng có rừng rậm, khu rừng với những cây chưa hề biết những nhát búa của gã tiều phu (51).

Nếu một tên phu nào muốn bỏ sở trốn ra ngoài sẽ bị săn đuổi, và nếu bị bắt lại, chắc chắn anh sẽ bị hành hạ dã man hơn trước nhiều.

Sơn Khanh trong quyển Nước độc đã tả hình dáng một người bị bắt lại, sau những trận đòn trừng phạt: Chiếc môi dưới...sưng to lên và bầm như một quả ổi héo...bắp tay có những quầng tím, những vết đen và những đốm hồng hồng...Mạn sườn có những lõm xanh đậm màu chàm...những khuỷnh màu hường tươi chạy qua màu đục...những vùng thâm thâm màu huyết gà đặc (52).


3/ Ở thôn quê người dân bị chủ điền và chức dich bóc lột, ức hiếp.


Người sống miền quê cũng ở trong một nước bị trị nên tình trạng không khác gì dân thị thành hay dân đồn điền: cũng khổ sở, nghèo đói... Tuy nhiên, người dân quê ngoài nạn bóc lột của chủ điền còn phải gánh chịu những ức hiếp từ bọn chức dịch làng xã.


a/ Người dân quê: tôi mọi của chủ điền:


Dân quê hầu hết theo nghề nông, bám víu vào miếng ruộng, mảnh vườn chủ điền để sống. Sự lệ thuộc này biến họ thành một thứ nông nô cho bọn địa chủ tuy rằng không một văn kiện nào xác định điều đó. Nông nô vì mỗi khi chủ điền có việc nặng nhọc họ phải làm việc không công, nông nô vì họ phải cày bừa, bón phân, gieo mạ để rồi bao nhiêu công trình làm ra đều biến thành những hột lúa vàng tươi nặng trĩu mà người hưởng phần lớn là bọn chủ ruộng (53) .


b/ Người dân quê: nạn nhân của chức dịch làng xã:


Ngoài gông cùm tạo nên bằng những tờ giấy nợ, người dân quê còn gánh chịu cái ách nặng nề do người Pháp đặt ra: những viên chức làng xã. Bọn nầy bất tài vô tướng, không biết làm việc, chỉ biết quyền lợi mình nên trở thành một tai hoạ lớn lao cho những nông dân quê mùa, chất phác.


* Phi Vân trong quyển Dân quê, Tình quê, cho ta thấy những hành vi bỉ ổi của chúng. Chẳng hạn:

- Bắt người tình nghi về nhà việc làng đánh đập, tra khảo để đòi hối lộ.

- Cho tổ chức cờ bạc công khai để dân chúng say mê rồi thừa dịp vào nhà cưỡng hiếp vợ con của những người này.

- Phục rượu cho chồng say để qua lại với vợ.

- Lừa dịp để thủ lợi (trongTình quê, tên Hương Kiểm Sơn hứa gả con gái cho ai ở rể không công, nhưng cuối cùng tên này kiếm cớ tống khư chàng rể hờ đi).

- Ăn hối lộ chủ điền để bỏ qua những việc phi pháp của bọn nầy.

- Ém nhẹm những điều dân chúng thưa gởi liên quan đến những hành vi va chạm đến dân chúng do chúng thực hiện.


KẾT LUẬN


Qua những tác phẩm của Nam Bộ, các khía cạnh đau khổ của người dân dưới thời Pháp thuộc đều được trình bày một cách tỉ mỉ. Nhà văn mô tả với đầy đủ chi tiết cụ thể những gì dân chúng phải gánh chịu.

Từ những điều trình bày đó, ta có thể kết luận:

- Đời sống của dân thị thành như đời sống người tù, hay nói theo Lý Văn Sâm: Cảnh sống giam hãm...và (cảnh sống) của đám dân nghèo chen chúc dưới mái lá trong xóm ngoại ô nầy, không khác nhau mấy (54).

- Đời sống của dân quê chẳng khác nào đời của một con vật, hay nói theo Bùi Nam Tử: thê thảm hơn con trâu (55).


Nhưng đây là tình trạng của những người còn tự do, chưa mắc vào cảnh tội tù; bị lâm vào cảnh tội tù, con người còn gánh chịu những cực hình đớn đau hơn...


Ghi Chú


(1) Tân Việt - Saigon - 1949.

(2) Trong tập Trái lựu đạn không kịp nổ - Nam Việt -Saigon-1949.

(3) Trong tập Giờ chót một tội ác - Bảo Tồn- Saigon-1950.

(4) Đều do Sống Chung xuất bản - Saigon-1949.

(5) Tiếng kêu cứu - Saigon-1949.

(6) Tân Việt - Saigon-1947.

(7) Việt Báo số 19 ngày 24-10-1949.

(8) Trong tập Khúc nhạc thành - Dân Tộc - Saigon-1949.

(9) Nam Việt - Saigon-1949.

(10) Nhà in Đặng Văn Công - Saigon-1949.

(11) Tân Việt - Saigon - 1949

(12) Việt Báo số 21 ngày 30-7-1949.

(13) Đại Chúng - Saigon-1949.

(14) Việt Báo số 19 ngày 24-10-1949.

(15) Thiết Can - Sđd, trang 36.

(16) Ngươn Long - Ngậm hờn - Tiếng kêu cứu - Saigon-1947, trang 3.

(16) Bùi Nam Tử - Giờ chót một tội ác - (truyện Đoàn quân đi) - Sđd, trang 53-54.

(2) Vũ Anh Khanh - Cây ná trắc - Sđd, trang 8.

(18) Lý Văn Sâm - Ngoài mưa lạnh - Sđd, trang 13.

(19) Hồ Thị - Khúc nhạc thành - Dân Tộc - Saigon, 1949, trang 31.

(20) Xem Hoàng Tấn - Cứu lấy quê hương - Sđd,

(21) Việt Tha - Tôi bị đày Bà Rá - Sđd, trang 16.

(22) Hoài Tân - Về thành - Sđd, trang 33.

(23) Lý Văn Sâm - Nắng bên kia làng - Sđd, trang 13.

(24) Bùi Nam Tử - Lỡ một kiếp người - Sđd, trang 85.

(25) Thiên Giang - Vần đề nông dân Việt Nam - Nam Việt - Saigon-1947, trang 3. Thay lời tựa (người viết: Trần Chính Văn).

(26) Trong tập Ngoài mưa lạnh - Sống Chung - Saigon -1949.

(27) Trong tập Vĩ tuyến XI - Nam Việt - Saigon-1949.

(28) Sống Chung - Saigon-1949.

(29) Sống Chung - Saigon-1949.

(30) Bốn Phương - Saigon-1949.

(31) Nam Việt - Saigon-1949.

(32) Trong tập truyện Giờ chót một tội ác - Sđd.

(33) Hiện tác giả đã cho nhà Nam Cường xb.

(34) Bảo Tồn - Saigon-1949.

(35) Nam Việt - Saigon-1949.

(36) Đều do Tân Việt xb - Nam Việt - Saigon-1949.

(37) Lý Văn Sâm - Ngoài mưa lạnh (truyện Thêm một ngọn đèn), Sđd, trang 89-90.

(38) Lý Văn Sâm - Sđd, trang 90.

(39) Lý Văn Sâm - Sđd trang 48.

(40) Lý Văn Sâm - Sđd trang 88

(41) Lý Văn Sâm - Sau dẫy Trường Sơn - Sđd trang 20.

(42) Quốc Ấn - Vĩ tuyến XI (truyện Mưa) Sđd trang 29.

(43) Bùi Nam Tử - Lỡ một kiếp người - Sđd trang 412.

(44) Quốc Ấn- Vĩ tuyến XI (truyện Những kẻ nghèo) -Sđd, trang30.

(45) Trong truyện ngắn Nắng bên kia làng - Sống Chung- Saigon-1949.

(46) Lý Văn Sâm - Sau dẫy Trường Sơn - Sđd, trang 22.

(47) Trong tập truyện Giờ chót một tội ác - Bảo Tồn - Saigon-1949.

(48) Bùi Nam Tử - Giờ chót một tội ác - (truyện Dưới gốc cao su - Sđd, trang 133

(49) Theo Sơn Khanh - Nước độc - Nam Cường- Saigon, trang 127.

(50) Bùi Nam Tử - Giờ chót một tội ác - (truyện Dưới gốc cao su - Sđd, trang 134.

(51) Sơn Khanh - Nước độc- Sđd, trang 90.

(52) Sơn Khanh - Nước độc- Sđd, trang 121-123.

(53) Bùi Nam Tử - Lỡ một kiếp người - Sđd, trang 43. Về vấn đề nầy ta có thể thấy được một cách rõ ràng trong tác phẩm Tranh đấu (Dương Tử Giang) và Loạn (Sơn Khanh).

* Dương Tử Giang trong truyện dài Tranh đấu nói đến những việc như:

- Vu oan chồng để cưỡng bức vợ.

- Che chở cho nhau để trút lỗi lên đầu những người dân cô thế.

- Dùng thủ đoạn bất chính để cướp ruộng đất của những người dân dốt nát, cô thế.


* Bùi Nam Tử trong truyện dài Trốn tù đã ghi lại những sự kiện:

- Thừa việc công để doạ nạt, ve vản, cưỡng bức vợ người có tội.

- Huy động tất cả lực lượng để bắt những người chúng tình nghi có dính dáng đến việc chống đối chế độ.

(54) Lý Văn Sâm - Ngoài mưa lạnh - (truyện Mưa Saigon) - Sđd, trang 108.

(55) Bùi Nam Tử - Lỡ một kiếp người - Sđd, trang 79.




... CÒN TIẾP



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HoaKỳ ngày 08.10.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004