Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
"Bóng Quasimodo / Shadow of the Quasimodo" tranh của Võ Công Liêm






THÁNH ĐƯỜNG ĐỨC BÀ CỦA BA LÊ








    Đ ọc ra nghe trơn tru quá không một chút ấn tượng cho nội dung câu truyện nói lên những gì bi thảm giữa trần tục và thiêng liêng trong chuyện kể. Để trọn tình, trọn nghĩa cho một tiêu đề có ý nghĩa đậm đà thế tục:Thằng Gù Đền Đức Bà / Notre Dame de Paris thời may ra hợp ý tác giả Victor Hugo* một đôi điều mà cũng hợp vài điều với thế gian. Rứa thì Notre-Dame nói cái chi trong đó? -Đúng ra; đây là một nghĩa khác coi như một phần cứu rỗi của kiến trúc trong thiên thực giữa trời và trăng –is thus in part as a redemption of an architecture in eclipse. Hugo thực hiện tác phẩm không phải là chuyện giản đơn với những gì để tỏ ra ngợi ca ở chính ông và gây chú ý đến quần chúng. Hugo đã thù tạc ở chính mình như một cái giá phải trả mà ông đã nhận ra được chân giá trị của nó, nhưng; ở đây cũng là một tương thức với trào lưu lãng mạn của một thời đại đang vươn mình trước những biến thiên cuộc đời, với những gì đương đại nhìn tới cho một tác động của tư tưởng. Thành quách cổ đại là văn phong, kiểu cách đối với Hugo là một trong những gì của chủ nghĩa đại chúng, lòng ao ước và sự bất thường tình –The Gothic style; for Hugo, is one of populism, aspiration and caprice. Hugo so sánh sự kiện xã hội hiện thực qua từng cá nhân, bất luận ở tình huống nào có thể thực hiện được; ông hòa điệu trong một ngữ ngôn văn chương đến từ tây-bắc Âu châu, một nhân dáng hoang đường với một thứ văn phong mê hoặc của thời xa xưa cổ La Hy (Romanesque). Cái sự hoang đường, phù phiếm là tất cả những gì được mô tả qua từng nhân vật đều được vây quanh dưới những tháp nhọn, đường cung của một cổ thành, những giáo đường, đền đài dựng lên với hình thù qủi dữ trên đầu ngọn tháp chuông. Ông lên án gắt gao những gì thuộc giáo phẩm; qua hình ảnh nghiêm khắc độc đoán, vị kỷ không chút vị tha và cách thức giáo điều, đặc quyền cố vị cho một phẩm trật tối thượng vào một xã hội bất động, buộc phải tuân theo. Phong cảnh cổ đại (the Gothic) là gắn bó dưới những thành quách như dấu hiệu của thánh linh hoặc uốn nắn vào đó như một hiện tượng để sùng bái, là; trái lại như thử một phong cách của người yêu chuộng tự do (freer), khuyến khích thỏa mãn sự ao ước và qui phục từ thẩm quyền mà có –is; on the contrary , a freer style, encouraging licience and dissent from authority. Tượng trưng qua lối kiến trúc của chiều thẳng đứng hơn là chiều ngang. Những gì mang tính chất huyền ảo ma quái Hugo vồ chụp những đường cong mũi nhọn tinh ma ‘the demon ogee’ đều xuyên qua một ngữ ngôn trong Thánh đường Đức-Bà /Notre-Dame là trọng âm chỉ vào những gì cao vót nguy nga, vào diện mạo kiến trúc cổ quái; là những yêu cầu đòi hỏi cho một kiến trúc ở vào thời đó để tạo một cách riêng giữa con người và giáo hội; một uy nghiêm, khiếp sợ để thờ phượng. Đây là một dự phóng tỏa rộng đặc biệt của ‘Gothic’ hòa nhập một cách hoàn toàn vào trong người viết về triết thuyết nhân văn. Răng lại có thứ triết học nhân văn lọt vô đây? -Có chơ. Bởi; Hugo đã nhận ra được bản chất con người như một cái gì dính dáng tới từ lâu nhưng không thể nào tránh né được cho một thắng thế bừng dậy từ sự ngu ngơ và hài hòa vào đó với một tư thế dịu dàng của thế giới phục lụy. Hugo qúi mến những cái gì vươn cao, chọc trời trong tháp ngà cổ đại đó, bởi nó nói lên sự trải rộng trí tuệ của con người và bên cạnh đó hy vọng chối bỏ những thứ chuyên chế độc tài mà ông đã nhận ra trong những đền đài cổ La Hy, và; ngay cả trong thánh đường Đức-Bà. Tất cả những hình ảnh đó đã bắt đầu trong cái thời Cổ xưa La Mã và cuối cùng trong một thể thức của Nguyên Sơ bộ tộc hoang dã –begun in a Romanesque age and finished in a Goth one. Một trào lưu chuyển động của những thời kỳ quá độ (transition) từ thể thức này đến thể thức nọ và như vậy coi đó là một sự cố quan trọng được chú ý tới thời kỳ đi lên từ những viễn ảnh sẽ xẩy ra cho đến những sự kiện khác biệt trong cuộc đời con người thời ấy. Đó là sự bần cùng hóa của một tiểu thuyết dựng ra bằng nhận xét, so sánh của thời giáo hội cầm quyền; thiết tưởng những gì mà Hugo cho là có lợi trong kiến trúc là chỉ có cho người trí thức nhận biết, cho người có đầu óc khảo cổ mới nhìn thấy qua một công trình vĩ đại; thứ kiến trúc này tiềm ẩn và hàm chứa một cái gì quyền cao chức trọng bên trong mà quên đi nghĩa vụ của chủ soái, của kẻ chăn chiên… Bên cạnh đó đã để lại những kiến trúc cổ đại lồng vào một biểu thị dị thường là một phần được phép tạo nên những nghịch ngợm vừa khôi hài vớ vẫn, vừa gớm ghiếc, vừa chảy dãi, vừa nhớp nhúa trên những ống máng rêu mốc, cổ tích trong thánh đường Đức-Bà. Hugo ngụ ý trên hai phương diện của sự thật cuộc đời: điển hình giữa người lãnh đạo tinh thần và giữa người tàn phế có lương tri. Ông tạo sự xúc động của tình người là một đối chiếu nghịch lý của người đạo đức luân lý. Hugo con người tinh thông ở tuổi hai mươi chín đã thấy trọn vẹn cuộc đời diễn tiến giữa hạnh phúc và bất hạnh để thành hình một tác phẩm lớn như vậy. Rứa thì Quasimodo là trạng huống tâm lý của Victor Hugo? -Hỏi như rứa là chưa thấy mình trong đời. Răng rứa? -Hỏi răng với rứa là tào lao vô cùng, là vòng vo tam quốc, đứng ngoài của một tác phẩm vĩ đại. Một tác phẩm đã trải dài theo thời gian qua mấy kỷ nguyên chưa đủ để nhận thấy mà giờ đây thưa với thốt một cách vô tư ! Không một nhà văn nào mà không gói gém cuộc đời mình vào trong đó; dù ít hay nhiều. Nếu cả tin để phủ nhận? -Thì hỏi thi bá Nguyễn Du thời hãy rõ. Hugo cùng tâm trạng đó. Hugo không đợi tới ba trăm năm sau để khóc nỗi niềm của ông mà thế gian đã khóc ngay từ đó. Hugo cảm thấy một sự tương thân lẫn nhau với đầy đủ thể thức nghệ thuật mà ở đó có một phần hiện thực trong đời của những gì có tính chất vừa ảo mộng, vừa lãng mạn của riêng ông, bởi; qua sự nhận biết, một sự nhận biết hiện thực cho một hợp chất hòa lẫn vào nhau của hai khiá cạnh đẹp và xấu và chính cái xấu xí là dấu tích của cái đẹp; ít nhất cũng là dấu tích hoài niệm đã được diễn tả trong một hòa âm điền dã dịu dàng êm ái. Đối với Hugo là một sáng tỏ để duy trì thế thái nhân tình, là kết cuộc cho một chủ đề đối xử lẫn nhau, là cơn lốc thổi vào một thứ tinh hoa thuộc kiểu cách cổ điển. Từ chỗ đó đưa chúng ta đến gần những gì xẩy ra một cách bi thảm dưới Thánh Đường Đức-Bà của Ba Lê. Song song giữa những gì ngốc nghếch, trống rỗng, vu vơ, thờ ơ và một tâm hồn sống động, nhiệt tình, tha thiết. Hai hoàn cảnh, hai con người khác nhau hoàn toàn nhưng cùng hòa điệu với nhau trong một nghĩa cử cao đẹp hơn: họ biết thế nào là giá trị tình yêu khác với một thứ tình yêu ‘ma giáo’. Răng lại chêm vô đẹp với xấu ở nơi đây? -Hỏi lạ chơ. Vì chẳng ai để ý ngoài cái thứ kiến trúc vĩ đại đó đã làm choáng ngợp mà bên trong nó là những gì biến động, những gì kề cận bên nhau của người đẹp vá ác qủy –Notre-Dame’s parallels between the inanimate and animate, for it is obvious that the architectural juxtaposition of beauty and the beast. Đấy là dữ kiện mà tác giả muốn phơi bày giữa tốt và xấu (good and evil), giữa tội ác và hình phạt (crime and punishement), giữa thánh thiện và gian ác (soul and devil), giữa ánh sáng và bóng tối (enlightenment and darkness).Tất cả trạng huống đó qui tụ trong tác phẩm ‘Thằng Gù Đền Đức-Bà’ là chứng thực cuộc đời. Dưới góc độ đó; đưa chúng ta vào cái nhìn sâu hoáy của tác phẩm: hoa hồng cài áo với hương thơm quyến rũ, với vòi nước tung téo là gợi hình được tác giả nhắc nhở nhiều lần ở cái sự tương giao trong tiểu thuyết, giữa người đẹp vũ nữ La Esmeralda và kẻ trốn mặt kéo chuông nhà thờ Quasimodo. Victor Hugo dựng nhân vật Quasimodo là cả một trí tuệ đồng nhất hóa gắn liền vận mệnh của mình vào nhân vật Quasimodo với những gì dựng nên trong đó, những gì mà ông đã chấp nhận như tìm thấy ở một bản ngã tự tại, một bản ngã nhận ra được chân-như làm người giữa thiện và ác; những dữ kiện xẩy ra trong truyện cũng như ngoài đời là một hòa nhập.Và;chứng tỏ Hugo điều động được tài năng của mình.Truyện sống thực ở chỗ đó. Hugo thành công hai mặt tâm lý và sinh lý kể cả khoa nhân văn. Một cái nhìn xuyên thủng vào con tim qua ngọn bút tài tình vừa đau khổ vừa biếm đàm. Đúng nghĩa‘trọn gói’cho văn nhân.

Bi thảm của Thằng Gù là hắn sống ở cái nơi không một chút thương xót dù đó là một sự hờn tủi của một thân thể tật nguyền, đầu u, lưng gù chậm chạp, gương mặt méo mó với đôi mắt xách ngược, nhưng cũng bởi vì rứa mà có được một chức vụ chuyên nghiệp kéo chuông nhà thờ, và; từ đó tạo cho hắn tác nhân hòa hợp êm ái –Quasimodo has his place there not in spite of his bodily deformity but because of it, and; his professional fuction of ringing the bels makes of him the agent of its harmony. Thành ra nhân vật trong truyện của Hugo có một phần của ông trong đó như trong ‘Những kẻ Khốn cùng / Les Misérables’, ‘Kẻ lao nhọc về Biển cả / The Toiler of the Sea’ hay ‘ Người hay Cười / L’Homme qui Rit’ là một xã hội chối bỏ những gì là đau khổ mà hầu như đó là mẫu mực của những anh hùng lãng mạn. Nhưng; đối với Thằng Gù không tượng trưng cho một anh hùng mà là kẻ đứng ngoài cuộc đời, cuộc đời đã chối bỏ sự hiện diện của một anh hùng chịu đựng đau khổ giữa thế gian. Răng rứa hè? -Hè! là chưa tìm thấy chân lý làm người: còn vô tư, lạc quan yêu đời, còn độc thân vui tính, còn tự nhiên như người Hà Nội, là; còn yếm thế không nhìn thấy nỗi đọan trường nơi con người . Rứa thì răng? -Hỏi hơi nghịch! Rứa là chọc thiên hạ chưởi. Cứ ‘chi mô răng rứa’ là khác chi ‘trên răng dưới bồ hòn’ là hình thức ngồi buồn gải háng, dái lăn tăn…Bởi; Thằng-Gù là hiện thân của chối bỏ, từ khước vì hắn là con người ác cảm đáng kinh tởm để nhìn, hắn chối bỏ những gì là thẩm mỹ, không có dính dáng chính trị, hành chánh hoặc con người thuộc dạng tâm sinh lý. Không ai dại gì mang cái tấm thân tật nguyền, thiệt thòi trong biểu cách đó –without wishing to dematerialize him into a symbol. Người ta có thể nói rằng hắn năn nỉ, vang xin một chút hạnh phúc thừa ở thế gian; mà những thứ đó người ta có thể tìm thấy nơi chỗ của một quái nhân và quá muộn để năn nỉ. Nhưng không một ai biết trong bụng Thằng-Gù nghĩ gì; hắn có một tham vọng chiếm cứ hướng tới cái đẹp thường tình nơi La Esmeralda và nhìn tới giáo đường nơi hắn trú ngụ. Hai cái nhìn biểu tượng rõ rệt của con người cảm nhận được cái tạo hình sắc nước và một tấm thân tật nguyền nhưng vẫn ngước nhìn vào nơi an trú một chút ban ơn; dẫu là tội trọng. Điều mà hắn có thể định lượng qua khả năng bất thường của hắn: cái đẹp lộng lẫy và một xấu xí gớm ghiếc là phản ảnh cả một sự tương nghịch. Hoài vọng của Thằng-Gù là vọng ảo của Hugo (nhưng nhân vật và tác giả có niềm tin hướng tới không bao giờ hướng tới thua cuộc). Nói cho ngay không có một chút gì là hòa giải, điều hợp trong tác phẩm ‘Đền Đức-Bà / Notre-Dame’; có nghĩa rằng Hugo viết không mục đích là hòa giải, tương như cho một lý tưởng xã hội mà hoàn toàn không khai thác tụ điểm đó. Cái phẩm của Hugo là nói lên sự thật tha hóa của con người; một ‘egotism’ quá nặng nề đè bẹp cả tình thương (mercy) con người. Tác giả và nhân vật chỉ là chứng nhân đứng ra vận động cho một xã hội công bằng, chính trực. Đó là sự thật câu truyện muốn nói đến.

Nói như rứa thì trong tác phẩm Thánh Đường Đức-Bà của Ba Lê tác giả chú trọng cái chi? Thờ phượng? -Mô có. Nó nói lên hai bề mặt tôn giáo và xã hội; giáo hội thì có luật điều im lặng và xã hội thì có tầng lớp con người. Hai vị trí này là đại diện bộ mặt của loài người trong mỗi hoàn cảnh, thời kỳ hay cả dặm trường của thời gian. Điều này là một xác nhận ý thức của người viết. Hugo không nặng lòng phân tích hay bày vẻ mà lấy nhân vật để nói lện thực trạng cuộc đời, là; mấu chốt thành hình Thằng Gù Đền Đức-Bà. Nhưng nhớ cho; Hugo giới thiệu Đức-Bà / Motre-Dame là trước đó đã đến trong tư duy những gì thuộc chính trị, hành chánh và lề thói xã hội với mục đích đưa dẫn chúng ta chú ý đến kiến trúc cầu kỳ, cổ xưa trong tiểu thuyết là một giới thiệu gián tiếp của những năm 1832/1838, bày tỏ một cách tình tiết về những biến cố xẩy ra vào thời đó, là những gì Hugo đứng trên lập trường chống hủ hóa làm điêu tàn một nền văn học nghệ thuật cả một thời đương đại. Cái nhìn khác ở Thánh đường Đức-Bà cũng như đền đài khác đều thiết lập trong một kiến trúc của thời cổ; uy nghi đó đánh lừa con mắt thế gian; chỉ có một đấng duy nhất và coi đó như quyền lực để thị uy hay cầm quyền. Hugo tự nhận ở mình như đây là lời tiên tri, dự đoán cho một lý do hợp lý và ông tin rằng điều đó không thể tránh né được và chắc chắn sẽ đưa tới một cuộc cách mạng dân chủ, ngần ấy cũng đủ thâm nhập vào lòng dân và không thể nào ngăn chận một hiện thực cuối cùng. Đối với Hugo cuộc Cách mạng Pháp là trục quay của lịch sử nhân loại. Trong truyện Đức-Bà; tư tưởng đó vốn có cả ba trăm năm trước Cách mạng, ngay cả vua Louis XI cũng đã vồ vảnh bao che trong thái độ lạnh nhạt. Hugo là con người luôn luôn theo đuổi, tiến hóa là viễn ảnh hàng đầu của nhân loại và là bộ phận cấu thành thuộc lịch sử tính trong tác phẩm Thằng Gù Đền Đức-Bà, đã có khuôn mẫu tùy vào đó mà xử lý. –Hugo was always a man for the long, evolutionary view of human affairs and the historical components of Notre-Dame have been shaped accordingly. Cái đó là lý sự để thành hình cho một tác phẩm có chiều sâu cho một phong cảnh của quyền lực; có từ ngoại quan đến nội quan được lồng vào những nhân vật đại diện người và đời. Thằng-Gù là nỗi đau khổ của con người. Vũ nữ là hình ảnh của định mệnh. Frollo là thể xác và tinh thần của con người. Họ là những anh hùng thay mặt chúng ta để đối diện với đời dưới bóng cổ quái vây quanh, dưới sự cuồng si của phó tổng (dement archdeacon).

Victor Hugo đã thêu dệt một dự mưu rất chi khéo léo, thành thạo và rất chi là huyền ảo đầy xúc động; bằng một ngữ ngôn sát thực và rất tượng trưng làm nổi bậc qua những kiến trúc cổ xưa huy hoàng ở Thánh Đường Đức Bà của Ba Lê vào năm 1482. Hình ảnh người và vật là cả đời người trong tiểu thuyết được trình diễn một cách độc đáo và hùng tráng như một đại hợp tấu. Ngần đó đủ cho ta thấy tài hoa của Hugo là một thành quả trọn vẹn, thông đạt và vĩ đại. Rứa thì Thằng Gù Đền Đức Bà chứa cái chất gì mà lớn lao thế? -Chơi chữ ‘thế’ vô đây là hạch hỏi, là buộc phải, là câu thúc, là kẻ cả; kẻ cả không đúng chỗ! Răng lại cho là không đúng chỗ? -Rứa mơi chừ nói cái chi về thằng-gù và nhà-thờ; không nhẽ phải quay lui. Ở đây là một cuộc chiến giữa bóng tối và ánh sáng sau những gì đã xẩy đến; tất cả là hình ảnh, nói lên sắc tố cơ bản của mỗi chân dung, hương sắc màu mè giữa trắng và đen trong đại họa phẩm của Hugo, một bức tranh tả chân và sống thực. Ông đã buông thả xuống đó một tham vọng dục tính của con người. Thằng Gù hay ông Cha đều chứa cái tạp chất đó. Vì; là người…

Thành thử đọc truyện của Victor Hugo là nhìn đời rồi lại nhìn mình, chớ không phải đọc chơi cho vui, đọc qua loa, đọc lấy lệ; đọc như rứa là tạp-pí-lù, ngầu-pín mà phải chiêm nghiệm để thấy chân tướng con người, chân tướng cuộc đời; nó chứa chấp một thế giới ta bà, hỗ mang, thuồng luồng. Đọc để sửa mình. Cứ ví mình là Thằng Gù như Hugo ví mình vậy. Hiểu được, nhận được tức đạt chánh quả để tự mình giải thoát; chớ chẳng phải trông cậy vào ai. Răng rứa? -Có chi mô. Vì; Thượng đế đã chết rồi. Tự thắp đuốc mà đi thì gặp Thượng đế. Rứa răng nghe Thượng đế ở trên trời? -Mô có. Ở nơi ta. Không biết Thằng Gù, vũ nữ hay ông Cha ai được lên trời? Đó là vấn đề đọc tiểu thuyết của Hugo để thấy sự thật. Một sự thật mà đời hay ém nhẹm, che đậy thường nói cái hay của mình nhiều hơn. Hay là hay cho mình chớ đời đâu đã thừa nhận mà rêu rao. Thí dụ; Ông thầy tu không nói ông tu sĩ mà đời gọi ông là nhà sư. Quasimodo không nói mình là thằng-gù rung chuông mà đời gọi hắn là thằng-gù rung chuông nhà thờ. Hugo không nói với thế gian là người viết văn mà đời gọi ông là nhà văn. Chớ xưa nay có ai tự nói tôi là nhà văn, là thi sĩ. Nghe sao vô duyên tệ, bởi; cái danh xưng là quyền quyết định ở thế gian. Tư duy này Hugo đã ám chỉ phó mục vụ Claude Frollo thường lấy áo dòng nói với bần dân thiên hạ ‘tao là linh mục’. Nhớ cho cái này: Hugo viết không phải để lấy tiếng mà mục đích gieo vào người một sự phân biệt giữa tà và chánh, giữa đẹp và xấu, giữa công bằng và bát ái, bởi trước mắt Hugo là con mắt Như-lai. Ông cầu tiến hơn là cầu mong, bởi; không phải xin cho mà được cho, đó là chân lý làm nên một tiểu thuyết lớn để đời; khác với đời nay. Khác cái chi? -Có chi mô mà thắc mắc cho mệt cái cửa lò. Đó là háo danh, là khoe khoang, là bung nỗ. Mấy thứ đó sớm mai một vì có chất ngầu-pín trong đó.Thứ tiểu thuyết chết yểu! Không nói lên triết thuyết cho một chủ đề đưa ra. Văn chương (thơ, văn, họa…) đâu phải là món hàng ‘ế’ mà phải rao báo hay nhờ vả đời rao giúp. Đọc những tác phẩm như của Hugo rồi mới thấy người thấy ta. Những nhà văn, nhà thơ lớn xưa nay thường im lặng hơn nói, ngược lại; ngày nay mượn văn chương để nói cái danh hư hay mượn tay kẻ khác nói cái tài cán của mình. Rặt là phường bát nháo giữa chợ đời chữ nghĩa.Tác hại đến nhân cách của người làm văn nghệ (văn nghệ vị nhân văn hơn là cậy tiếng). Thế nhưng đời không ý thức vai trò làm văn nghệ mà ‘gồng’ đuổi theo hư ảo. Những thứ đó; trong ý văn của Hugo gọi là ‘tệ nạn xã hội’ một ý nghĩa hàm chứa những gì sai trái là hư hại, những gì định nghĩa lệch lạc hay coi trọng cá nhân là đồ thừa, bả xã hội: mục nát, tanh hôi. Văn chương là truyền thông đại chúng cái lý chính đáng về nó.

Bóng đêm đã ụp lên giáo đường với màu mực đen chảy nhễu; nguồn cảm hứng của ẩn trốn và nơi gác chuông của Thằng Gù là đốm lửa hân hoan –the nocturnal attack on the cathedral with its interplay of inky blackness, the truants’ torches and Quasimodo’s lofty bonefire. Đó là tác động tâm lý, một tác động nội thương của những con người bất hạnh, chấp nhận thương đau để có một thứ hạnh phúc riêng mình. Victor Hugo biết trong nội tạng con người đều có một cảm nhận như Quasimodo. Chủ nghĩa tượng trưng là dễ dàng xuyên qua và thấm thấu: những gì đã truyền đạt từ người này sang người khác là món quà cực kỳ trong sáng. Tượng trưng là điềm báo trước trong Thằng Gù Đền Đức Bà với một ngữ ngôn trử tình gán vào cho phó mục Frollo; đưa vào đó một kinh nghiệm với những gì thuộc huyền bí triết học. Hugo tạo cái bóng tối là tội ác đó là sự cớ chống xã hội (anti-social). Đấy là sự thế đưa tới một sự hòa hợp với một xã hội để đạt thành quả dễ dàng mà những thứ đó tạo nên một chập thuận, hội nhập xã hội của ngững kẻ đứng ngoài lề xã hội hôm nay và những thế hệ nối tiếp. Tiểu thuyết của Hugo tràn ngập ngôn từ là một vận dụng ngữ ngôn hòa điệu vào mỗi tình huống, vào mỗi nhân vật khác nhau (Hugo nổi tiếng về cách sử dụng ngôn ngữ) một văn phong mạch lạc và hàm chứa.

Điểm cuối của truyện Đức-Bà / Notre-Dame là mô tả một sự bi thảm và đau buồn và vượt qua cái quyền hạn cấm kỵ; trong chữ của Hy Lạp ‘A NÁTKH’ hoặc là Định-mệnh. Răng lại lọt Hy Lạp vô đây? -Có cái lý của nó chớ đâu có khơi khơi ‘dộng’ vô đây để ‘làm bằng chứng yêu em’; rứa là trật bản lề. Vì; linh mục Claude Frollo là nhân cách của hành động cầm quyền (vì rứa mà Hugo phải chơi chữ Hy cho đúng nghĩa tôn giáo truyền thống. Ông thường đưa cổ ngữ La Hy vào truyện), một hành động tùy thuộc vào bản năng và chiều chuộng cung ứng đòi hỏi nơi sự thèm khác nhục dục của vũ nữ, mọi sự đều êm xuôi mát mái chỉ có bên trong con người phán quyết, không có chi để phải bi quan hay vòng vo tam quốc, cái sự âm thầm ma quái dưới bóng tối phủ lấp cả chóp cao giáo đường, ngọn nến bạch lạp cũng âm thầm cháy để ‘ghi chép’ cái hành trạng trong tinh thần của mỗi con người; đấy là sự bí truyền không phân tích được về những gì tiềm ẩn, bốc hơi trong tiểu thuyết, cho một thiết kế cấu trúc trong văn chương tiểu thuyết. Cái lực tự nhiên nơi Hugo tràn ngập lòng nhân từ, một lực quá mạnh không thể ngăn chận được. Và; ao ước một điều gì bình an dưới thế là tái điều đình cho một hợp đồng giữa xã hội và con người, có nghĩa là bước tiến hóa trong những gì tốt đẹp hơn. Hugo là người giàu trí tưởng và có cái nhìn khác thường và nhiều điều khác hơn nữa, kể cả những gì có tính chất nhạc kịch nói lên nỗi đau qua từng nhân vật. Tất cả mặt trái cuộc đời được Hugo mô tả chi li và tình tiết, không làm cho ta có một chút sóng trong lòng mà là sóng vỗ vào nỗi đau nhân thế, Đưa nhân thế nhập cuộc với đời để thấy đời có những hương vị khác nhau trong từng nhân vật như chính cuộc đời.


Đọc hai truyện lớn của Victo Hugo: Những kẻ Khốn cùng / Les Misérables và Thánh đường Đức Bà của Ba Lê / Notre Dame of Paris là tri nhận của con người dự cuộc giữa hữu thể và tha thể. Hai đối tượng của hai cuộc đời khi nào cũng có nhân ngãi và vô nhân ngãi. Là đưa cái mặt thực trong ngữ cảnh của cuộc đời; có thể đó là cách thức bày vẻ, ngay cả nhà thờ bé nhỏ lấy bệ thờ đá cẩm thạch để nói lên cái quyền năng mà con người phải tuân phục, lấy giáo điều để khuất lấp những gì xẩy ra bên trong. Một tư duy hàm chứa tính chất tượng hình trong truyện; che đậy những gì trá hình mà xã hội và con người phải gánh chịu. Victor Hugo đưa ra những nhân vật là mẫu người của bi thảm như: Phó mục Frollo, Hunchback Quasimodo, một gypsy La Esmeralda là cho chúng ta so sánh và nhận thấy giữa thực và giả (của lương tâm) đối đầu trước xã hội luôn chứa chấp thực trạng bi thảm: tranh giựt, ích kỷ, tha hóa đưa tới một xã hội lầm than mà không tỉnh ngộ. Đây là cảnh báo của Hugo trước một hiện thực xã hội và con người; không những hôm nay và mai sau. Không nhất thiết tư duy của Hugo là cải cách toàn diện; điều mong muốn của tác giả là cải thiện ở chính mình dù đi qua những dậm trường thế kỷ. Hoài vọng của Victor Hugo là một đánh động lương tâm giữa người và đời ngay cả những thế kỷ về sau; tệ nạn xã hội vẫn còn luân lưu khó mà tiêu diệt; ở thời đại văn minh khoa học hiện đại lại càng khó khăn hơn xưa. Duy chỉ còn lại một chút lương tri ở nơi con người. Trong Thánh đường Đức Bà của Ba Lê Hugo đã trút vào đó nỗi đau bất tận với những lời tha thiết, bản án mà con người phải gánh chịu giữa thế gian này bằng một sự mô tả rốt ráo qua mười một (11) tập trong truyện là đưa chúng ta vào nỗi đọan trường. Quasimodo chính là ta. Chí Phèo của Nam Cao chính là ta. Là; những gì chúng ta đang đối diện với bi thảm của cuộc đời từ thượng tầng cho tới hạ tầng cơ sở: ‘Đoạn trường ai có qua cầu mới hay’ chưa phải là thực chứng mà đó là tiếng than thở của loài vô tội dưới hành tinh này. Chúng ta không còn ngạc nhiên những gì diễn tiến trong truyện mà thừa nhận nó là sự thật của con người. Đời nào cũng thế, tham vọng và tệ đoan xã hội không bao giờ cải cách hay thay đổi.


Với hai mươi chín tuổi chưa tới nửa đời người. Victor Hugo đã thấy trọn cả cuộc đời trong tác phẩm ‘Thằng Gù Đền Đức Bà’(1831) là nhân chứng lịch sử qua mọi thời đại. Ông lột trần công khai mặt trái xã hội và nhân tính con người qua từng góc cạnh đặc biệt. Một tác phẩm vĩ đại và một siêu lý để đời ./.


(ca.ab.yyc. 11/ 9/2016).


* Victor Hugo (1802-1885): Nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhà soạn kịch lớn nhất của chủ nghĩa lãng mạn Pháp. Sống và chết tại Pháp.


SÁCH ĐỌC: ‘Notre-Dame of Paris’ by Victor Hugo. Bản tiếng Anh của John Sturrock. Penguin Books Ltd. 1978.

ĐỌC THÊM: Victor Hugo / Chí Phèo / Niềm Tin và Lòng Xót Thương của võcôngliêm hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc liên lạc theo điạ chỉ đã ghi.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Calgary Canada ngày 08.10.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004