Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






ĐỌC LẠI HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG








Lời nói đầu: Đây là một quyển sách nổi tiếng, được rất nhiều người hâm mộ, do một vị Giáo Sư của một Đại Học danh tiếng viết lại về những gì ông và nhiều học giả tên tuổi đã được phái sang Ấn Độ để quan sát, sưu tầm và giải thích những sự kiện huyền bí với một tinh thần khoa học tuyệt đối, với những điều kiện khắt khe, nhằm đạt mức chuẩn xác nhất sau khi đã tận mắt chứng kiến những điều huyền bí do những đạo sĩ của Ấn Độ được một Tiểu Vương đưa sang thăm Anh Quốc biểu diễn. Các Đạo Sĩ đã biểu diễn uống các chất cực độc mà không chết. Nhịn thở hàng giờ dưới đáy hồ. Cho vô quan tài rồi chôn sống trong 48 ngày mà không sao.

Lúc ra đi thì các nhà khoa học không mấy tin tưởng, nhưng khi về đã đổi khác. Gs. Spalding với tư cách là Trưởng Phái Đoàn cho biết: “Phương Đông có những chân lý quan trọng để cho người Tây Phương nghiên cứu học hỏi. Đã đến lúc người Tây Phương phải quay về với Đông Phương để trở về quê hương tinh thần”.

Điều đáng tiếc là phái đoàn gặp nhiều chống đối mãnh liệt từ dư luận quần chúng đầy thành kiến hẹp hòi. Họ đã bị bắt buộc phải từ chức, không được tuyên bố thêm những gì đã chứng kiến. Sau đó ít lâu, Gs. Spalding cho xuất bản bộ sách “Journey to the East” và nó gây ngay một dư luận hết sức sôi nổi. Nhiều người tìm đến những người trong phái đoàn thì được biết họ đã rời bỏ Âu Châu để sang Ấn Độ sống đời tu sĩ trên dãy Tuyết Sơn. Nhưng quyển sách đã tạo hứng khởi cho nhiều người khác qua Ấn Độ để kiểm chứng. Thiên ký sự của Sir Walter Blaker đã đăng trên tờ London Scientific cũng như loạt điều tra của ký giả Paul Brenton, Max Muller đã vén lên tấm màn huyền bí Đông Phương và xác nhận giá trị cuộc nghiên cứu này.

Cuối cùng là nhận xét của người đọc về tất cả những gì được đề cập trong quyển Hành trình về Phương Đông đối chiếu với Đạo Phật theo Đại Thừa, vì những gì được viết trong đây, kể cả những gì các vị Chân Sư và các Đạo Sư đang tu hành. Bởi mọi hoạt động của họ đều được cho là nhằm phục vụ cho Đạo Phật vì đều mong chờ Đức Di Lặc tái sinh theo tài liệu cổ ghi lại.



T óm lược quyển Hành trình về Phuơng Đông như sau: Sau hai năm du hành khắp Ấn Độ, viếng hàng trăm đền đài, tiếp xúc với hàng ngàn giáo sĩ, đạo sĩ nổi tiếng, phái đoàn cũng không học hỏi được điều gì mới lạ, vì phần lớn giáo sĩ chỉ lập đi lập lại những điều đã ghi chép trong kinh điển, thêm vào đó mê tín, dị đoan, thần thánh hóa vài huyền thoại để đề cao xứ sở của họ. Không có một tiêu chuẩn nào để xác định các đạo quả, ai cũng có thể tự xưng là Hiền Triết (Rishi), Sư Tổ (Guru) hay Đại Đức (Swami), thậm chí là xưng Thánh Nhân giáng thế…

Thất vọng về cuộc du khảo không mang lại kết quả, Giáo Sư Spalding một mình lang thang đi dạo trong thành Benares, nơi có một đạo sĩ đang trổ tài thổi kèn gọi rắn thì có một người Ấn to lớn, phong độ khác thường nhìn ông và mỉm cười, rồi lễ phép chào ông bằng một tiếng Anh hết sức đúng giọng. Ông cũng đáp lễ lại. Gs. Spalding bắt đầu hỏi người bạn mới quen nghĩ sao về những trò bịp bợm, thì người Ấn nói rằng: “Phải chăng phái đoàn đã thất vọng vì những đạo sĩ đã gặp, và bàn với nhau là cuối tháng này nếu không thu thập được gì thêm sẽ trở về Châu Âu và kết luận rằng Á Châu chả có điều gì đáng để học hỏi. Giai thoại về các bậc hiền triết, thánh nhân chỉ là huyền thoại để tô điểm cho vẻ huyền bí Á Châu?”.

Giáo Sư Spalding rất ngạc nhiên, bởi vì điều đó họ mới vừa bàn với nhau, thậm chí nhiều người trong phải đoàn còn chưa biết. Nhưng người Ấn cho biết là ông tới đây để chuyển giao một thông điệp ngắn ngủi thuộc Thánh Kinh của một vị Chân Sư: “Hãy gõ cửa rồi cửa sẽ mở. Hãy tìm rồi ngươi sẽ gặp”. Gs. Spalding ngạc nhiên hỏi làm sao biết các ngài ở đâu mà tìm - chúng tôi đã bỏ ra cả 2 năm trời đi gần hết các đô thị - thì được hướng dẫn hãy đến Rishikesh.

Giáo sư Spalding được giải thích về các từ Chân Sư và Đạo Sĩ. Chân Sư là người đã tiến rất xa trên mức thang tiến hóa, trong khi Đạo Sĩ mới bắt đầu, cũng như giải thích: “Phép thuật, thần thông không phải là mục đích tối hậu của con đường đạo mà chỉ là kết quả tự nhiên do sự tập trung tư tưởng và ý chí, mục đích con đường Đạo là Giải thoát, trở nên toàn thiện như Đấng cao cả mà Chúa Jesus là một”. Gs. Spalding lại thêm ngạc nhiên về người Ấn lại nói về một đấng Giáo Chủ mà mọi người Tây Phương đều biết đến, và hỏi sao các Đấng Chân Sư không xuất hiện để dạy dỗ quần chúng thì được trả lời rằng: Nếu Đấng Christ hay Đức Phật hiện ra tuyên bố các giáo điều ông có chịu tin không hay phải biểu diễn thần thông như đi trên mặt nước hoặc làm ra hàng ngàn ổ bánh mì cho dân chúng thì mới tin? Người Ấn cho rằng các Chân Sư vẫn âm thầm lặng lẽ phóng ra các tư tưởng yêu thương, bác ái tốt lành, là sức mạnh có thể vượt thời gian và không gian, tuy mắt ta không thấy, nhưng hiệu lực vô cùng mạnh mẽ. Giáo Sư hỏi xin địa chỉ của vị Chân Sư nhưng người Ấn cho biết khi đủ duyên sẽ gặp, rồi cúi chào và biến mất trong đám đông.

Thế rồi khi đoàn đang quay phim thì Gs. Spalding thong thả dạo ngoài bờ sông, thấy một vị đạo sĩ lực lưỡng đang đi gần đó nên ông muốn nhìn cho rõ không ngờ bị một con rắn hổ mang chặn lối. Bất ngờ đạo sĩ bước tới giữa con rắn và Gs. Spalding. Tự nhiên con rắn hung dữ bỗng nằm yên không nhúc nhích. Vị đạo sư dơ tay vuốt nhẹ, con rắn từ từ bò vào bụi rậm rồi mất hút. Đạo Sư giải thích rằng đó là cái Ngã thâm diệu, cái mà ta gọi là Thượng Đế ngự trong ông đã khiến cho con rắn bỏ đi. Theo ông, khi ta hoàn toàn gạt bỏ cái phàm ngã bên ngoài để cho cái Chân Ngã tự biểu lộ thì không có chuyện gì có thể xảy ra. Bằng cách phát triển toàn vẹn tình thương qua mình và ban rải cho muôn loài ta sẽ cảm hóa được thú dữ. Ông cũng hỏi là hình như Giáo Sư có ý muốn gặp ông? Rồi ông cho biết là trong cơn Thiền Định sáng nay ông đã nhận được thông điệp về phái đoàn nên mới rời am thất và hỏi phải chăng Giáo Sư muốn hiểu về phép tu Yoga?

Chỉ qua hai cuộc tiếp xúc với những Đạo Sư được sắp xếp, Gs. Spalding thấy dần dần hé lộ những gì phái đoàn cần biết đang tiềm ẩn đâu đó khi được nghe giải thích về những điều được cho là huyền bí, văn minh cổ của Ấn Độ, biết rằng chúng vẫn được lưu giữ do những bậc Chân Sư, minh triết đúng như lời đồn đãi. Thí dụ như lời giải thích về YOGA của Đạo Sư Yoga: “Yoga là một khoa học bao gồm nhiều thứ, từ Thiên Văn, Địa Lý, Triết Học, Toán Học v.v... Do nhân loại sa vào hố thẳm của sa đọa, vật chất, bị lôi cuốn vào các cám dỗ của xác thịt. Để chống lại sự phá sản tâm linh, các hiền triết đã hội thảo tìm một giải pháp cho giai đoạn lúc đó. Phần được truyền dạy trích ở chương Yuj (cái ách) là các phương pháp trói buộc tinh thần lẫn thể xác nhằm mục đích tập trung Thân và Tâm làm một với bản thể của trời đất. Vì trích ở chương Yuj nên được gọi là Yoga. Đây chỉ là phần nhỏ của Yoga nguyên thủy mà rất ít người hiểu cho đúng đắn. Đa số hiểu sai nên mới có lối luyện tập kỳ dị, các lối tu hành khổ hạnh điên rồ, các tư thế lố bịch như các đạo sĩ nằm bàn đinh, dơ cánh tay lên trời cho đến khi nó khô liệt. Sự luyện tập như thế chả mang lại lợi ích gì. Đó là những kẻ làm hoen ố danh dự một khoa học như Yoga. Đối với đa số, Yoga đã bị hạ thấp xuống thành một môn thể dục để thân thể khỏe mạnh, cường tráng. Tuy nhiên, nếu luyện đúng cách nó vẫn mang lại kết quả tốt cho thể xác. Các đạo sĩ Yoga lại khác, họ luyện tập để khám phá các năng lục tiềm tàng, mầu nhiệm, đạt tới phép thần thông biến hóa…

Đạo sư Yoga cho biết có bốn cách thức căn bản: “Nghỉ Ngơi làm xoa dịu thần kinh. Tĩnh Tọa để tập trung ý chí. Điều Tức để tẩy uế thân thể, khu trục các chất cặn bã và Khí Công để kiểm soát hơi thở. Ông hướng dẫn 2 phương pháp Ngồi, hoặc Nằm để giúp luồng chân khí được lưu thông khắp cơ thể, từ đó điều chỉnh những chỗ bế tắc, ứ đọng trong châu thân, không phải là những tư thế vặn vẹo. Đạo Sư Yoga cũng cho rằng mục đích của Yoga không phải là để sống lâu, vì sống khổ hạnh mà không ý nghĩa thì để làm gì? Vì thế, chinh phục thể xác chỉ là bước đầu để đưa con người đến việc chinh phục tinh thần, vì giữ cho tâm không nghĩ xấu đòi hỏi nỗ lực phi thường hơn là giữ cho Thân không hành động xấu. Ông cho là người tìm đạo phải biết kiểm soát tư tưởng và sử dụng chúng một cách hợp lý, và kiểm soát tư tưởng là mục đích của môn Raja Yoga. Nhưng Haitha Yoga hay Raja Yoga hay bất cứ con đường nào, không tôn giáo nào có thể là duy nhất dẫn đến kết quả tiên thánh. Thay vì tìm một chân lý tuyệt đối hãy tìm sự tuyệt đối nơi mình để sống chớ không phải để dạy”. Đạo Sư nhận xét về những người tu hành chân chính “Không một vị thánh nào nỗ lực xưng danh, mà chỉ có kẻ còn u mê trong bản ngã mới tha thiết đến danh vọng, địa vị”. “Thầy nào, trò nấy, một tu sĩ chân chính không có đệ tử bất hảo và một đệ tử thông minh không tìm thầy bất lương”. “Một tu sĩ hiểu biết phải lo làm chủ chính mình để cầu giải thoát chứ đâu phải lôi kéo đệ tử cho đông, xây cất các đền đài cho đẹp để tự hào về các thành quả này. Như thế là phô trương bản ngã, kiêu căng, ngã mạn, làm sao giải thoát được?”.

Lần khác, một thành viên trong phải đoàn, Gs. Olivers được một chiêm tinh gia nổi tiếng Ấn Độ lấy số Tử Vi cho. Ban đầu thì các Giáo Sư cho rằng họ muốn nghiên cứu về văn minh Ấn chớ không muốn xem vận mạng hên xui, tốt xấu, nhưng chỉ qua vài câu hỏi về ngày sinh, ông được chiêm tinh gia nói cả một quá khứ từ chuyện cha mẹ ép học rồi bị phản đối nên không giúp đỡ, cho đến lúc ông trở thành nhà khoa học thì bắt ông đi vào con đường chính trị và làm áp lực để ông cưới một người vợ theo ý gia đình. Nhưng cuộc hôn nhân bất hạnh làm cho ông thất vọng, chính người cha cũng buồn phiền rồi qua đời, và ông gia nhập phái đoàn nhằm mục đích xa rời Luân Đôn để thỏa mãn giấc mộng hải hồ…

Chiêm tinh gia nói rằng tinh tú không ăn nhập gì đến chúng ta, mà chính là dĩ vãng ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại. Tinh tú chỉ phản chiếu cái ảnh hưởng đó mà thôi. Con người chết và tái sinh trở lại trong nhiều kiếp. Định mệnh mỗi người theo dõi họ theo Luật Nhân Quả. Khi qua đời, thể xác hư thối, nhưng dục vọng và ý chí vẫn còn nguyên, cho đến khi đầu thai thì nó sẽ trở thành cá tính của kiếp sau. Nhà chiêm tinh cho biết cuộc đời của Giáo Sư đang bước vào một khúc quanh quan trọng, đã đến bên thềm đạo và sẽ được dìu dắt bởi một hiền giả. Ông đưa Phái đoàn đi xem những căn phòng chứa sách với những chiếc tủ lớn chứa hàng ngàn cuốn sách cổ mà Gs. Mortimer, một nhà Khảo Cổ Học của trường Harvard cũng phải kinh ngạc trước kho tàng sách vở vô giá này. Có những sách viết trên lá Buông (Papyrus) cả ngàn năm trước xen lẫn tài liệu khắc trên gỗ thế kỷ thứ sáu. Toàn thể phái đoàn có cảm tưởng kho Minh Triết Ấn Độ phần lớn tập trung ở đây.

Chỉ cần một Chiêm Tinh Gia đã có thể thao thao nói với các nhà Khoa Học hàng đầu của nước Anh về trục của trái đất, mặt trời, mặt trăng, những hiện tượng thiên nhiên dưới cái nhìn của khoa Sinh Vật học, về yếu tố di truyền… với một kiến thức uyên bác mà theo ông là đã nghiên cứu trong các sách vở bí truyền và trong Thiền. Theo chiêm tinh gia, quan niệm Thượng Đế là một ông già ngồi trên cao, nắm toàn quyền sinh sát, định đoạt số phần cho con người là ấu trĩ, vì Thượng Đế sáng tạo và đặt tất cả vào trật tự vũ trụ, làm gì có việc định đoạt số phận cho từng con người, mà tất cả diễn tiến theo luật vũ trụ. Nhân nào, Quả nấy. Lực nào cũng có một phản lực đi kèm. Đó là Khoa Học Vật Lý chớ đâu có gì lạ! Ông giải thích rằng con người có thể cải số nếu làm các việc tốt đẹp. Ông còn lưu giữ một quyển sách cổ của Hiền Triết Bhrigu và cho rằng mất 20 năm nghiên cứu nhưng chỉ hiểu chút ít mà thôi.

Nhà Chiêm Tinh dùng cả danh từ Thiên Chúa Giáo để giải thích về tiến hóa của con người và cho rằng không thấy có sự khác biệt giữa các giáo lý của các tôn giáo. Ông dẫn chứng cả những phong trào phục hưng văn hóa ở Âu Châu, đến việc phát minh máy in kỹ thuật ấn loát, cả cuộc Cách Mạng Pháp thay đổi Lịch Sử Âu Châu vào 25 năm cuối của thế kỷ 17 và 18. Càng đi sâu vào các cuộc tiếp xúc, Gs. Spalding càng thấy rằng sự hiểu biết về các mặt của Đạo Sư chân chính quả là khoa học với đầy đủ tính thuyết phục. Ông ta kể về lịch sử Châu Âu đã thiêu sống những người thông minh do có cái hiểu khác họ, và cho rằng đó cũng là lý do để các bậc danh sư không xuất hiện và các phương pháp tu hành được giữ gìn cẩn thận, bí mật, chỉ người thành tâm mới được dạy bảo.

Kiến thức của chiêm tinh gia không những đã chinh phục tất cả mọi người trong phái đoàn, mà còn làm mọi người bắt đầu cởi bỏ thành kiến dị biệt, các quan niệm bảo thủ và lòng tự hào của người Âu để bắt đầu quan sát, học hỏi.

Phái đoàn đến Rishikesh, một thành phố của các vị thánh mà tất cả những ai cầu đạo đều phải đến để đắm mình trong bầu không khí thiêng liêng. Nhưng nơi đây giờ không còn là thành phố của các bậc chân tu đạo hạnh như xưa, mà quy tụ nhiều thành phần hỗn tạp, vì ở một quốc gia chậm tiến như Ấn Độ thì chỉ cần mặc áo tu, thuộc vài câu Kinh là có thể xưng là Đạo sĩ, thánh nhân được rồi. Giai cấp tu sĩ ở Ấn Độ không phải làm gì, chỉ hưởng thụ và các giai cấp khác có bổn phận phải chu cấp mọi đòi hỏi cho các tu sĩ. Cũng vì xã hội nghèo đói, rối ren, tinh thần lại bị điên đảo bởi các tà thuyết nên Ấn Độ không sao trở thành quốc gia hùng cường thịnh vượng như các xứ khác được. Nhưng ẩn sâu trong đó, vẫn tồn tại những bậc chân tu, đạo hạnh, lưu giữ gia tài minh triết, giữ ngọn lửa tâm linh luôn cháy sáng, và vẫn có người chấp nhận từ bỏ tất cả để đi tìm chân lý là điều người Âu Châu khó chấp nhận được. Nhưng đến khi người Âu Châu đặt câu hỏi về cuộc sống, cái chết mà không tìm được câu trả lời thì thấy rằng người Á Châu đã có câu trả lời về vấn đề này từ nhiều ngàn năm rồi. Chính Đại Đế Alexande của xứ Hy Lạp, bách chiến bách thắng, dẹp tan Ai Cập, quét sạch Ba Tư, mở rộng bờ cõi đến tận Ấn Độ, nhưng khi trở về nước lại trở thành một triết gia khiêm tốn, nhã nhặn. Đó là nhờ học hỏi, đàm luận với các nhà hiền triết Ấn Độ.

Phái đoàn đến viếng Đức Mahasaya là đệ tử của Đức Ramakrisna, người được coi như một vị Thánh của Ấn Giáo, danh tiếng truyền đến Âu Châu. Vị này không để lại sách vở, chỉ dạy đạo qua cử chỉ yên lặng và vài câu nói giản dị như: “Muốn có hạnh phúc thật sự phải vượt lên sợ hãi và ham muốn”. “Phát giác và trừ diệt cái sai lầm căn bản là phương thuốc chánh, tất cả phương tiện khác đều chỉ là tạm bợ”. Tóm lại, theo Ramakrisna thì “nguyên nhân của sợ hãi, dục vọng, ham muốn do sai lầm đầu tiên, tự cho mình là xác thân này, vì sợ hãi hay ham muốn đều bắt đầu từ thể xác này”.

Phái đoàn được đưa đến một Đạo Sư có khả năng làm một số phép thuật. Họ được chứng kiến việc dùng một chiếc kính lúp và một chiếc khăn tay để thu hút các mùi hương trong không khí theo yêu cầu của các nhà khoa học, từ mùi hoa Lài cho tới mùi hoa Tullip, kể cả mùi thuốc hóa học, mùi Acid trong phòng thí nghiệm… Làm cho bông hoa đang khô héo tươi lại, làm xuất hiện một chùm nho ở rất xa. Họ có thể cho vô miệng để thưởng thức để thấy đó là trái nho thật. Ông ta còn làm xuất hiện một ổ bánh mì rồi làm biến mất và cho rằng không được lạm dụng quyền năng.

Họ được gặp một Đạo Sư về âm nhạc có tên là Harish Chandra để được nghe thuyết trình về nghệ thuật sáng tác, thưởng thức khi cái bản ngã vắng lặng và được thưởng thức âm thanh của sự bình an…

Phái đoàn cũng được tiếp xúc với Bác sĩ Bandyo, trước kia là Giám Đốc của một Bệnh Viện, đã từng điều trị hàng trăm bệnh khó mà các Bs. khác bó tay. Ông cũng từng được đề cử giải Nobel. Nhưng theo Bs. này, thì bệnh án được đề cử giải Nobel không phải do ông tìm ra, mà do Đức Mẹ làm phép, nên sau đó ông bị thất sủng và rời bệnh viện. Ông có thần nhãn, nhìn thấy thế giới bên kia. Thấy được các sinh vật vô hình, các Thiên Thần chăm lo sức khỏe cho con người. Ông cũng cho rằng một đứa trẻ con không chỉ được chăm lo về mặt vật chất, mà mặt tinh thần cũng rất là quan trọng, chính tình thương là yếu tố dinh dưỡng cần thiết để đứa bé lớn lên có cuộc sống khỏe mạnh, bình thường. Ông cũng cho rằng chết không phải là hết, chỉ là sự rời bỏ thể xác mà thôi. Ông dành cả đời còn lại để hoàn toàn phụng sự cho Đức Mẹ và chuyên điều trị cho các bệnh nhân nghèo.

Ấn Độ còn có Đạo Sư Ram Gobla có thể chữa những bệnh nan y mà không cần dùng thuốc. Cách chữa cũng giản dị. Việc đầu tiên phải làm là quyết định có theo phương pháp này được không? Nếu nhất quyết thì phải từ bỏ tất cả sự nghiệp, gia đình để gia nhập Đạo Viện cho đến khi hết bệnh. Cách điều trị chỉ là ăn rất ít, thời gian đầu chỉ là uống nước suối và ăn cơm nhạt thôi. Hoàn toàn không nêm muối hay đường gì hết. Mỗi ngày ăn 1 buổi trước trưa và uống ít nước. Cứ thế trong khoảng 2 tuần là đa số độc tố sẽ bị khu trục cả. Chỉ cần ăn thử 1 tuần là cơ thể đổi khác ngay.


(Tháng 11/2015)

(Còn tiếp)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 06.10.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004