Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Nữ thần Shiva




Sắc Thái Đa Thần của Ấn Độ

Trong Tín Ngưỡng Dân Gian Việt Nam










1-Chương dẫn nhập


Người ta thường nói văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ bên cạnh văn hóa Trung Hoa. Sử sách, tư liệu cổ đều kể lại văn hóa hay tư tưởng, triết học Ấn Độ ảnh hưởng tới văn hóa, tư tưởng, triết học Việt Nam là Phật giáo và xác nhận đạo Phật du nhập vào nước ta từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên. Như vậy, văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng Ấn Độ từ khi có đạo Phật bên cạnh Trung Hoa từ khi bị Bắc thuộc.

Sự thật, không hẳn là chỉ có đạo Phật, đạo Khổng hay Nho giáo ảnh hưởng tới nếp sống văn hóa – xã hội được gắn kết chặt chẽ với đời sống tâm linh vào đầu công nguyên. Bởi vì trước Phật giáo còn có một luồng văn hóa tôn giáo – tín ngưỡng khác có sự tác động sâu rộng tới tín ngưỡng dân gian nước ta mà ít ai ngờ. Tín ngưỡng dân gian là luồng tư tưởng tâm linh nằm ngoài lĩnh vực tôn giáo, trong đó có Phật giáo, nếu nói ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ. Thế nhưng có những tôn giáo được quen gọi trong lịch sử văn hóa tâm linh lại chưa phải là một tôn giáo đúng theo danh xưng này. Cụ thể như Bà La Môn giáo - Ấn Độ giáo là tín ngưỡng tâm linh, sự thờ cúng các vị thần trong thiên nhiên vốn là các vật thể hay phi vật thể trong tự nhiên do tín ngưỡng tâm linh nâng lên thành “thần” như thần mưa, thần sấm, thần lửa…còn trong thế giới loài người là “thánh” như Thánh Gandhi, Thánh Gióng..

Trong bài viết này, chúng tôi muốn xác định Ấn Độ giáo hay Bà La môn giáo chỉ là tín ngưỡng dân gian và chính hai loại hình văn hóa tâm linh này du nhập vào nước ta đã làm nên tín ngưỡng dân gian hơn là một tôn giáo chính danh và chính thống của nước ta. Nhưng nó lại là một đạo Ấn Độ lớn nhất từ xưa cho tới nay đối với người Ấn Độ ở trong nước và nước ngoài trên khắp thế giới.

Nhiều người vẫn cho rằng hoặc chỉ biết rằng Ấn Độ giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 19 sau khi có mặt chế độ thuộc địa của thực dân Pháp. Đó là sự có mặt của các ngôi đền Ấn Độ giáo tại quận 1 thành phố Hồ Chí Minh ngày nay, trong đó có đền thờ Bà Mariamman ở số 45 Trương Định phường Bến Thành Q.1.

Như vậy, nhóm đền tháp Ấn Độ giáo, trong đó có đền Bà Mariamman ở quận 1- đại diện cho văn hóa Ấn Độ, cho tín ngưỡng phồn thực liên quan tới thần Siva (một trong ba thần Brahman, Vishnu, Siva) và Mẹ xứ sở Mariamman mang tính địa phương vùng Nam Ấn Độ, không phải chỉ được du nhập từ cuối thế kỷ XIX thông qua thực dân Pháp vào lúc đã hoàn thành bộ máy cai trị toàn lãnh thổ Việt Nam (sau năm 1859) mà từ đầu công nguyên tới thế kỷ thứ X, hơn nữa có thể nói từ trước đầu công nguyên, trước cả các triều đại phong kiến phương Bắc khi đô hộ Giao Chỉ trên 1.000 năm (từ đầu công nguyên đến thế kỷ thứ X và được chấm dứt vào thời kỳ anh hùng Ngô Quyền dựng nên nền độc lập tự chủ cho dân tộc Việt Nam).

Lịch sử Việt Nam tập 1, năm 1983 (từ thời kỳ nguyên thủy đến thế kỷ thứ X) chép về sự xuất hiện của người Ấn Độ, phương Tây và người thuộc các đế chế phong kiến phương Bắc ở Việt Nam rất sớm của thời kỳ dựng nước, như sau :

Bành trướng về chính trị và quân sự lại thúc đẩy thêm tầm quan trọng của thương mại. Với việc chiếm Nam Việt (của Triệu Đà Việt Vương), với Âu Lạc (của Thục Phán An Dương Vương), đế chế Hán mở cửa xuống Đông Nam Á và qua đây tới miền Ấn Độ Dương. Từ đầu công nguyên, nó sẽ bắt gặp sự phát triển hàng hải của những cư dân Ấn Độ - Ba Tư. Khảo cổ học đã tìm thấy trong những mộ Hán cổ ở Lưỡng Quảng, Hồ Nam, Việt Nam những sản phẩm du nhập từ hải ngoại như các loại ngọc, đồ thủy tinh (lưu ly), cây nhài (moli) từ đất Ấn, được đem trồng ở Giao Châu từ đầu công nuyên. Sử giả Ấn Độ sang triều đình Hán giữa các năm 89 và 105. Sử giả Gia-va qua Giao Châu tới triều đình Hán vào năm 132.” (trang 254).

Ở đây, vật chứng liên quan tới tín ngưỡng Ấn Độ xuất hiện ở nước ta vào trước công nguyên là “hoa nhài” trong đoạn sử nói trên. Hoa “lài” (tiếng nói Nam bộ) hay hoa “nhài” (tiếng nói Bắc bộ) chắc chắn được trồng đầu tiên ở Luy Lâu – trị sở của nền đô hộ phương Bắc - vì nơi đây đã sớm xuất hiện người Ấn Độ (giáo sĩ và thương nhân) rồi được trồng nhiều ở Hoa Lư, theo dấu chân của đạo Phật và đạo Ấn thời Đinh Bộ Lĩnh với bóng cờ lau tập trận giả của trẻ con chăn trâu. Hoa Lư còn có tên Trường Yên hay Trường An (thuộc Ninh Bình) là kinh đô của Đại Việt từ nhà Đinh tới nhà Lý trước thế ký thứ 9-10 nổi tiếng với câu ca dao đầy tự hào sau đây có liên quan tới hoa nhài (lài) như dân gian đã ghi nhận :


Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

Dẫu không thanh lịch cũng người Trường Yên.


Như vậy, hoa lài gốc Ấn Độ đã có mặt tại nước ta vào trước đầu công nguyên, được trồng nhiều ở cố đô Hoa Lư từ thời đầu triều nhà Lý có thể do vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) là con nhà Phật từ nhỏ ở Từ Sơn (Bắc Ninh) gần kề với Luy Lâu – Thuận Thành sớm hôm đều tiếp cận với hoa lài trong nhà chùa và được coi trọng hơn cả hoa sen, thường được sử dụng trong việc cúng lễ về tôn giáo, tín ngưỡng dân gian ở đình, đền, chùa. Đặc biệt, trong nghi thức cúng lễ Ấn Độ giáo, hoa lài được sử dụng nhiều nhất dùng làm các tràng hoa kiểu cách với nhiều dạng để trang sức cho các tượng thần và dâng tặng các thần rồi sau đó làm “lộc” tặng lại cho người tới cầu nguyện để lấy phúc. Tập quán và nghi thức sử dụng hoa lài rất phổ biến ở các đền thờ thần Ấn Độ giáo từ xưa tới nay. Do đó, có thể nói, hoa lài được trồng ờ nước ta cùng lúc với sự có mặt của người Ấn Độ thờ cúng các thần và việc thờ cúng hoa lài gắn liền với đa thần của Ấn giáo, còn hoa sen thì gắn với lễ Phật theo hình tượng Phật tổ tọa thiền trên đài hoa sen hoặc mỗi bước đi của Phật hài nhi đều nở hoa sen. Vật phẩm cúng lễ còn có chuối “Chà” cũng có nguồn gốc Ấn Độ. Về sau, khi lập quốc ở dải đất duyên hải miền Trung, dân tộc Cau và Dừa của nền văn hóa Sa Quỳnh đã lấy tên loài hoa “cham-pa” ở miền Bắc Ấn Độ đặt tên vương quốc Cham-pa (một loài hoa sứ trắng), do ảnh hưởng của đạo Bà La môn hay Ấn độ giáo.

Hoa lài có mùi thơm ngan ngát làm cho con người dễ chịu nên được ướp với trà khi được pha nước sôi tỏa ra mùi thơm sảng khoái, nhẹ nhàng ai cũng thích thú. Kỹ thuật ướp hoa lài vào trà đã có lâu đời ở nước ta. Tới nay, trà ướp hoa lài vẫn còn rất phổ biến trong dân gian và các danh trà đều mang tên trà hoa lài.

Đó là hoa lài gắn với hai tín ngưỡng trên. Một vật thể khác xuất hiện ở cố đô Hoa Lư thời đại Phật giáo mới du nhập lại làm lẫn lộn của Phật giáo với Ấn giáo. Đó là “Cột kinh” hay “Cột kinh đá” hiện đang tồn tại ở ngôi chùa Nhất trụ tại Hoa Lư. Cột đá này được công nhận là di tích cấp quốc gia gắn với chùa Phật giáo ở đây. Nhưng thật sự cột đá này được chế tác theo kiểu dáng chiếc “Linga” khổng lồ biểu tượng của Thần Siva thuộc Ấn Độ giáo. Đó là cột đá nằm trên chiếc đế hình vuông được gọi tên chung là Mukhalinga (Bộ hay cặp Linga và Yoni).

Mặt khác, người ta cho rằng chính Đạo Phật đã đại diện cho sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với đời sống văn hóa – xã hội hay tâm linh của con người Việt Nam. Nhưng văn hóa Ấn Độ không chỉ có đạo Phật được thể hiện mà còn một tín ngưỡng khác không kém phần quan trọng, đó là Ấn Độ giáo và trước hơn là Bà La Môn giáo. Theo lịch sử Phật giáo Việt Nam, sự bắt đầu du nhập của đạo Phật vào Việt Nam xảy ra ở thế kỷ thứ II sau công nguyên mà vị trí, địa lý của sự xuất hiện và hình thành này là Luy Lâu, thủ phủ cai trị của các triều đại phong kiến phương Bắc trong 1.000 năm Bắc thuộc như nói ở trên, nay là Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh. Đồng thời, nhiều người cũng bàn cãi về con đường du nhập của đạo Phật, một là ở phương Bắc từ Trung Hoa tới, hai là theo đường biển ở phương Nam tới nhưng rốt cuộc đã thông nhất cho rằng bằng cả hai con đường do căn cứ theo sự có mặt của phái Bắc tông (Tiểu thừa) và phái Nam tông (Đại thừa). Nếu nói về lịch sử giao thương thời cổ giữa phương Tây với phương Đông, nhất là theo đường biển từ Ấn Độ sang các nước Nam Á thì phải kể tới các thương thuyền của người Ấn, theo biển Đông tới bán đảo Đông Dương có ba nước Việt Nam, Lào, Cam pu chia mà xưa là Đại Việt, Champa và Chân Lạp – Phù Nam.

Nếu xác định Luy Lâu là điểm đến của đạo Bà La Môn, Ấn độ giáo thì dĩ nhiên theo sau là Phật giáo. Từ điểm xuất phát là đất nước Ấn Độ theo lịch sử triết học của Ấn Độ, đạo Bà La Môn xuất hiện sớm nhất (1.500 năm trước công nguyên, chuyển thành Ấn Độ giáo và sau cùng là Phật giáo. Khi truyền ra nước ngoài, đặc biệt miền viễn đông Nam Á thi vẫn theo tuần tự thời gian ra đời của các đạo mà tới Đông Dương và Luy Lâu là điểm đến cuối cùng của ba đạo này bằng cách theo các nhà truyền đạo (tăng lữ) người Ấn Độ, thương buôn đi bằng thuyền từ phương Nam tới phương Bắc nước ta. Đây là điều chắc chắn. Hiện nay, ở Thuận Thành – Bắc Ninh (Luy Lâu cổ) còn tồn tại nhiều di tích lẫn lộn giữa Ấn Độ giáo và Phật giáo. Chùa Tứ pháp và chùa Tổ là một chứng cớ. Nhưng theo sự tích của nó thì “đền” có trước “chùa” và “tứ thần” trước “tứ pháp”.

Có thể nói, điều rõ nhất thuộc về Ấn độ giáo chính là các tín ngưỡng dân gian của người Việt liên quan tới việc thờ cúng thần thánh có dính líu tới các hiện tượng tự nhiên trong thiên nhiên, hầu hết đều mang tính nữ hay mẫu hay cả hai như bộ linga-yoni (một là biểu tượng của bộ phân sinh dục nam, một của sinh dục nữ), còn gọi là “tín ngưỡng phồn thực”.

Và còn chắc chắn hơn là họ có mặt nhiều thế kỷ trước Công nguyên, chính xác là từ hơn nhiều thế kỷ trước Công nguyên rất lâu, vào cuối thời vua Hùng Vương thông qua câu chuyện cổ tích về Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung, hiện nay có đền thờ ở Dạ Trạch tỉnh Hưng Yên. Theo chuyện này, vợ chồng Chữ Đồng Tử - Tiên Dung sau khi tự kết hôn trong một tình cảnh hết sức hi hữu đầy tâm linh, đã không trở về triều của vua cha Hùng Vương mà trú ngụ lại ở khu vực Dạ Trạch (vợ theo chồng) để hành nghề kinh doanh. Thời kỳ này, việc giao thương của các nước phương Tây, phương Nam đã bắt đầu xuất hiện ở khu vực chung quanh Cổ Loa, Luy Lâu, Long Biên hay Hưng Yên mà sau này thời Hậu Lê hình thành nên Phố Hiến cũng như ở phố cổ Hội An – Đà Nẵng (Quảng Nam).

Vợ chồng này gặp nhà sư Ấn Độ truyền đạo, tặng cho phép thuật chiếc gậy và nón lá thần. Đây là đầu mối và dấu tích của Bà La môn giáo - Ấn Độ giáo truyền vào phía Bắc nước ta trước Công nguyên. Lịch sử Việt Nam tập I (Từ nguyên thủy tới thế kỷ 10) còn ghi nhận rằng thời Hùng Vương ở vào giai đoạn cuối (408-258 tr. CN) của 18 đời, xã hội tồn tại ba tầng lớp : quý tộc, nô tỳ và dân tự do của công xã nông thôn (trang 127). Điều này làm cho ta liên tưởng tới ba tầng lớp này chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ cùng thời liên quan bốn đẳng cấp : Tăng lữ, vương công, thương nhân, tiện dân - nô lệ.

Lịch sử triết học Ấn Độ cho thấy Bà La Môn giáo ra đời trên 1.500 năm trước Công nguyên thờ một thần Brahma (gọi Phạm Thiên) và tiếp theo đó trở thành Ấn Độ Giáo thờ ba thần, sau nữa là Phật giáo ra đời với vị giáo chủ là Thích ca Mâu Ni – Si Đạt Ta. Cả Bà La Môn giáo và Ấn Độ giáo đều không có giáo chủ mà chỉ thờ các vị thần, trong đó ba vị thần chủ, đó là Brahma, Shiva và Vishnu, mà với Bà La Môn giáo chỉ thờ một thần Brahma. Sau đó, tôn giáo của Phật Thích Ca đã lấn áp cả tín ngưỡng Bà La Môn và tín ngưỡng Ấn Độ thờ ba thần và đa thần. Nhưng về lâu dài, tới thời nay, đa số người Ấn Độ đều tôn sùng Ấn Độ giáo, nhất là người Ấn Độ sinh sống ờ nước ngoài.

Đền thờ Chử Đồng Tử và Công chúa Tiên Dung ở Dạ Trạch (Hưng Yên), trên bàn thờ còn có một phụ nữ nữa ngồi bên cạnh, coi như trên bàn thờ có tượng của ba vị : Chử Đổng Tử và nhị vị phu nhân. Trong tín ngưỡng dân gian, sự tích cho biết vị phu nhân thứ hai là Tây cung ở Thiên đình được phái xuống làm vợ hai của Chử Đồng Tử. Đây là chuyện tin ngưỡng dân gian thời ấy nhưng cho thấy thực tế có ba vị thần được thờ chung trên một bàn thờ ở đền này. Đây chính là thờ biểu tượng ba thần của Ấn Độ giáo lúc mới khai sinh : Brahman, Wishnu, Siva. Ấn Độ giáo thể hiện rất rõ ở đây, từ thời trước công nguyên, phù hợp với lịch sử triết học Ấn Độ cho biết đạo Bà La Môn rồi Ấn Độ giáo sau khi ra đời đã truyền đi khắp Đông Nam châu Á, trong đó có Việt Nam thời đại Hùng Vương. Theo chuyện cổ tích này, Tây cung đã cùng Chử Đồng Tử đi chữa bệnh cho nhân dân trong vùng. Bà đã dùng tờ giấy trắng viết chữ đỏ vào rồi đốt lấy tro cho bệnh nhân uống chữa khỏi bệnh. Như vậy, tục đốt bùa chữa bệnh theo dân gian nước ta có từ đây. Còn viết chữ đỏ tức nghi thức chấm son đỏ hay vôi trắng trên trán các tín hữu tới cầu nguyện các thần để thể hiện phép thần đem lại may mắn cho người nhận, còn có ý nghĩa chính là “con mắt giữa” của thần Siva. Phép này vẫn còn phổ biến ở các đền thờ Ấn Đô Giáo do người cúng lễ hay giáo sĩ thực hiện.

Tiếng hô đếm trong dân gian từ “1, 2 tởi 3” cho mỗi lần bắt đầu một hành động tập thể thống nhất nào đều theo thứ tự của ba ngôi. Con số 3 ở nước ta được phổ biến nhất trong các sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội có thể đều bắt nguồn từ đó. Tam cấp, bậc ba, ngạn ngữ “Một cây làm chẳng nên non, ba câu dụm lại nên hòn núi cao”, “Nhất hóa tam” là tin ngưỡng tâm linh có từ đó. Ngay như khi xây dựng đền Hùng từ thế kỷ XIV-XV hay một số đền, đình khác người xưa đều phân chia ba bậc : Hạ, Trung, Thượng. Sự tích “bánh dày, bách chưng” có lẽ xuất hiện cũng dựa vào linga, yoni. Sự tích ông Táo – cái bếp lò có ba chóp hay ba ngôi với ba cục gạch, đá : một ông hai bà, giống như sự tích Chử Đồng Tử với hai bà.

Thêm một bằng chứng sau đây càng khẳng định Ấn Độ giáo hay Bà La môn giáo tới nước ta từ trước công nguyên lâu lắm. Theo một tư liệu cổ, “Đầu thế kỷ 20, các nhà thám hiểm hang động và học giả Anh, Pháp đã đến Phong Nha và họ đã phát hiện ở đây một số di tích  Chăm   và Việt cổ như bàn thờ Chăm, chữ Chăm khắc trên vách đá, gạch, tượng đá, tượng Phật (thần), mảnh gốm và nhiều bài vị v.v. Chữ Chăm chính là chữ Sanscrit (Phạn) là chữ cổ Ấn Độ.

Năm 1995,  Viện Khảo cổ học Việt Nam  nhận định động Phong Nha có dấu hiệu là một di tích khảo cổ học vô cùng quan trọng. Viện này cho rằng có khả năng dấu tích ở hang Bi Ký trong động là một thánh đường Chăm Pa từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 11. Trong động Phong Nha, người ta đã phát hiện nhiều mảnh thân và miệng các bình gốm có tráng men của Chăm với các mảnh gốm thô sơ có lõi đen, có vòng miệng loe rộng so với thân, tạo một góc gần vuông. Ngoài ra, người ta còn phát hiện ra các mảnh gốm hoa văn miệng hình cánh sen, màu xanh ngọc, màu lông thỏ hồng nhạt”.

Vách đá nơi có di tích chữ Chăm hay chữ Phạn (Sanscrit) như tài liệu trên nói nằm trong “Động ướt” bởi vì nơi đây còn tồn đọng nhiều vũng nước mà ban bảo quản động Phong Nha hạn chế sự đi lại của du khách để tránh xảy ra tai nạn vì lối đi ẩm ướt, trơn trợt sợ gây nguy hiểm cho du khách. Thời Chử Đồng Tử - Tiên Dung, động Phong Nha và sông Son ăn thông tràn lan rộng lớn tới sông Gianh và cửa biển Đông thuộc phía nam của vịnh Bắc Bộ, phía dưới đèo Ngang tỉnh Quảng Bình, có cửa Sót và núi Quỳnh Viên. Đèo Ngang là ranh giới ngăn cách đất nước Văn Lang của vua Hùng với dân tộc Cau - Dừa (tiền thân của Cham pa). Các giáo sĩ Bà La môn - Ấn Độ giáo có thể đã vào cư trú trong động Phong Nha và có liên hệ tới Luy Lâu thông qua Dạ Trạch – Hưng Yên. Chử Đồng Tử đi buôn có thể đã tới sông Gianh và gặp giáo sĩ để học đạo. Núi Quỳnh Viên trong sự tích Chử Đồng Tử - Tiên Dung là có thật, hiện nay là nơi có khu du lịch nổi tiếng của Hà Tĩnh.

Theo nhà nghiên cứu Bình Nguyên Lộc viết trong Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam cho biết vua Hùng đã đánh trống đồng trên đường mở rộng vùng đất phía Nam xuống tới Thanh Hóa, Nghệ An và dừng lại ở đèo Ngang vì phía dưới là vùng đất của dân tộc Cau – Dừa. Champa mở nước cũng lấy đèo Ngang làm biên giới phía Bắc từ thời Khu Liên vào năm 190 sau công nguyên. Giáo sĩ và thương nhân Ấn Độ giao dịch với Champa thời kỳ đầu có thể đã ở đây để liên lạc, giao dịch tiếp xúc với con dân Hùng Vương và gặp Chử Đồng Tử.

Thời đại Hùng Vương có nhà nước Văn Lang nhưng thuộc xã hội chiếm hữu nô lệ, hình thành gia đình, làng nước (xã) nhưng còn ở trình độ thấp của nền văn minh lúa nước giai đoạn Đông Sơn, tồn tại trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ VII trước công nguyên đến thế kỷ thứ I sau công nguyên (Sổ tay Báo cáo viên năm 2005 của Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương Đảng – nay là Ban Tuyên giáo trung ương, trang 130). Về tín ngưỡng, chỉ có lễ nghi thờ cha kính mẹ, nhớ ơn ông bà, tổ tiên thể hiện qua sự tích Bánh chưng, Bánh dày, sự tích Trầu cau…Sự tích Trầu – Cau phải chăng cũng có ảnh hưởng từ Ấn Độ giáo. Ngày nay, vật phẩm cúng lễ bà Mariamman ở đền cổ Hindu số 45 Trương Định phường Bến Thành Quận 1 có “trầu và cau” và dừa, chắc phải có mối liên hệ lâu đời từ đó.

Năm 218 tr. CN, Tần Thủy Hoàng nhà Tần mới vừa hoàn thành công cuộc thống nhất Trung hoa rộng lớn sau thời gian dài loạn ly các cứ của thời Đông Châu liệt quốc và Xuân Thu chiến quốc, đã sai Đồ Thư đưa quân xuống phía Nam và tới năm 214 tr.CN quân xâm lược Tần đã tiến vào xâm chiếm nước Văn Lang, thời kỳ không còn vua Hùng. Hai bộ tộc Tây Âu và Lạc Việt phải tự đoàn kết lại để chống ngoại xâm do Thục Phán lãnh đạo. Thắng Tần, Thục Phán lập ra nước Âu Lạc. Nhưng tới năm 179 tr. CN Âu Lạc lại rơi vào nhà xâm lược mới Triệu Đà của nước Nam Việt. Tới năm 111, nhà Hán tiêu diệt Nam Việt, đặt nước ta là bộ Giao Chỉ (sau là Giao Châu) bắt đầu cai trị thời kỳ Bắc thuộc đầu tiên, đồng thời thực hiện chính sách “khẩn thực” đưa nông dân nghèo khổ, tội nhân, chiến binh lập mô hình trang trại, đẩy mạnh thương mại. Văn hóa Trung Hoa bắt đầu vào nước ta thời kỳ này.

Từ thời kỳ đó, nhiều thương nhân nước ngoài tới Giao Châu (tập trung ở trị sở Luy Lâu – coi như đầu mối giao lưu của triều đại phong kiến phương Bắc – cửa ngõ để tới các triều đình Trung Hoa) thời gian trước và sau công nguyên, chủ yếu đi đường biển từ phía Nam tới, gồm có các vương quốc cổ ở Nam Á. Các nhà truyền giáo (tăng lữ) thuôc các tín ngưỡng, tôn giáo mới phát triển ở Ấn Độ, Cận Đông, Đông Âu theo thương thuyền tới phương Đông. Ấn Độ giáo, Phật Giáo, Hồi Giáo trước sau lần lượt đi theo tới Chân Lạp, Phù Nam, Malaysia, Indonesia, Champa, Giao Châu, Trung Quốc…Đây là thời kỳ hình thành các con đường tơ lụa (đường bộ phía Bắc Á), đường Hồ tiêu và đường Đồng cỏ (đường biển và đường sông phía Nam Á).

Ông Phan Lạc Tuyên, tác giả sách “Lịch sử bang giao Việt Nam – Đông Nam Á (trước công nguyên tới thế kỷ XIX) có viết :”Sự có mặt của đạo Phật vào Việt Nam và Đông Nam Á chắc chắn từ trước công nguyên hàng thế kỷ. Sự có mặt của những tăng lữ của Ấn Độ đã tới Việt Nam và Đông Nam Á bằng con đường Hồ tiêu và con đường Đồng cỏ. Trước khi tới Việt Nam họ đã đi qua nhiều nước ở ngoại vi. Tư liệu trong sách cổ nước ta “Lĩnh Nam trích quái” cho biết một sự kiện chứng tỏ sự có mặt của Phật giáo vào đời Hùng Vương thứ 3 (Triều đại 18 vua Hùng kể từ TCN 2879-258). Đó là câu chuyện công chúa Tiên Dung con gái vua Hùng thứ 3 lấy Chử Đồng Tử…” (trang 23). Cả ông và tác giả “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” đều lầm lẫn Phật giáo với Ấn Độ giáo vào lúc mới du nhập vào nước ta ở phía Bắc. Chuyện Tiên Dung và Chử Đồng Tử như đã giải thích ở trên thuộc Ấn Độ giáo chớ không phải Phật Giáo và không thể thời Hùng Vương thứ 3 mà có thể thứ 13 hay 18. Theo ông, người ta còn tìm thấy nhiều đồng tiền bằng đồng, bạc thời đại Maximin le Goth (235-237) ở Mỹ Tho, Alexandre le Grand hoặc thời đại Antomin de Pieux (138) ở Ba Vì, Thừa Thiên – Huế…

Bà La Môn giáo sau trở thành Ấn Độ giáo (sự thờ cúng các vị thần linh) đã được các tăng lữ đi theo các thương thuyền từ Ấn Độ tới các vương quốc Đông Nam Á từ thời ấy và lần lượt về sau, nhất là ở Chân Lạp (di tích đền tháp Angkor, Bayon), Phù Nam (di tích đền cổ, linga khảo cổ ở Nam Cát Tiên, Hàng Gòn – Đồng Nai), Champa (đền tháp miền Trung và Tây Nguyên). Cả ba nơi này đều có nghi thức thờ cúng các vị thần thuộc Ấn Đô giáo từ thế kỷ thứ II – VIII sau CN.

Ở Việt Nam, Bà La Môn giáo du nhập vào Champa miền Trung và miền Bắc từ trước Công nguyên, sau đó mới có Ấn Độ giáo và các đền tháp lần lượt ra đời.

Đền tháp hay tháp thờ thần của dân tộc Chăm, Khmer (Chân Lạp) và tháp của Phật giáo ở Việt Nam đều có dạng biểu tượng núi Meru – có nguồn gốc từ dãy núi Himalaya – núi tuyết, được tin là nơi ngự trị của các linh thần theo Bà La môn giáo hay Ấn Độ giáo. Tháp ở các dạng đều giống biểu tượng của Linga – Siva).

Hòn non bộ - giả sơn – đều được mô phỏng theo hình dạng núi “Meru” luôn được kiến tạo có ít nhất ba ngọn cao thấp chen nhau và được trang trí cây, cảnh, người, vật tạo nên phong cảnh thơ mộng, hữu tình theo tín ngưỡng đó, kể cả bể nước hay hồ nước bao quanh chân của cụm giả sơn đều theo thần thoại Ấn Độ thời Tiền Veda : ba vị thần lần lượt xuất hiện trên biển nguyên thủy và cùng nhau sáng tạo ra vũ trụ hữu hình.



. @ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 06.9.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004