Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

cố đô Hoa Lư

Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (36)



Văn Hóa Dân Gian Hoa Lư







K inh đô Hoa Lư đặt tại Ninh Bình. Đất hồng hoang của người Việt cổ sinh sống, đậm đặc Văn hoá dân gian. Thiên nhiên Ninh Bình trầm tích tri thức của người Việt cổ tiến hóa đến ngày nay. Khi được Đinh Tiên Hoàng chọn làm Kinh đô, Ninh Bình trở thành vùng đất lịch sử, văn hoá, chính trị của Quốc gia Độc lập Đại Cồ Việt.

Di vật cuội gia công- Văn hóa Sơn Vi- Hoà Bình

Các nhà nghiên cứu phát hiện. Ở hang Tam Giao (thị xã Tam Điệp) đã tìm thấy những di vật cuội gia công có niên đại Sơn Vi- Hoà Bình. Cách nay 1 đến 2 vạn năm. Cùng với hang Thung Lang- đá cũ, và hang Chợ Ghềnh- đầu đá mới, đến thời đại kim khí, vừa có yếu tố văn hoá sông Hồng, vừa có yếu tố văn hoá sông Mã. Ninh Bình là mảnh đất quý hiếm, để khảo sát tiến trình giao lưu văn hoá thời kỳ tiền Đông Sơn.

Cùng với việc tìm thấy những chiếc Trống Đồng Nho Quan loại 1 Heger (cách ngày nay 2.500 năm), và hàng loạt các phát hiện khác về khảo cổ học gần đây ở Mán Bạc (Yên Mô), hang núi Một, hang Sáo (thị xã Tam Điệp) càng làm sáng tỏ nhận định Ninh Bình là một trong những cái nôi của người Việt cổ.

Văn minh lúa nước hiện hữu nơi đây. Trên những mảnh chạc gốm có chi chít vỏ trấu cùng những công cụ chế tác đồ trang sức mỹ nghệ bằng đá, chứng tỏ từ thời đại các vua Hùng dựng nước, người Việt cổ đã sinh tồn bằng nghề trồng lúa, đúc đồng và chế tác đồ mỹ nghệ, trang sức làm đẹp bản thân mình…

Có con người là có Văn hoá. Con người sống và bảo tồn nòi giống, đã sáng tạo Văn hóa nơi đất họ ở. Di sản văn hoá Dân gian Ninh Bình, hình thành rất sớm, từ thời Đồ đá cũ đến thời Bắc thuộc, tới ngày nay.

Văn học Dân gian- Hồn Tổ Tiên Việt

Những công trình nghiên cứu Văn học dân gian Ninh Bình đa dạng, phong phú về đề tài, thể loại và số lượng. Ca dao, tục ngữ, thành ngữ, truyền thuyết, cổ tích và giai thoại. Đặc biệt là những truyện kể dân gian. Rất nhiều hình tượng cổ mẫu của nền tảng Văn hoá Dân gian như: những hình tượng ông Khổng Lồ, những con rắn, con thuồng luồng, con cú, con giải, con rái thần... Có những huyền tích lý giải sự ra đời của những ngọn núi, dòng sông, tên làng, tên đất của người Việt cổ.

Có những huyền sử, huyền tích về các nhân vật lịch sử vua Đinh, vua Lê. Các hoàng tử, công chúa, quận chúa, tướng lĩnh các thời hay những huyền thoại ly kỳ về kho vàng khổng lồ thời Cảnh Hưng do Thượng thư Ninh Tốn cất giấu ở hang động Tam Điệp hơn 200 năm trước...

Ninh Bình có ngót 92 vạn dân, trong đó có tới hơn 200 ngàn người Mường. Văn hoá Mường là một bộ phận đáng kể trong di sản văn hoá Ninh Bình. Những huyền thoại, huyền tích ở Ninh Bình lý giải sự ra đời của người Mường. Các bản làng. Các tộc Mường, cùng những phong tục tập quán, sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng của họ. Nghiên cứu Văn hoá dân gian- Văn hoá truyền thống Ninh Bình, phải nghiên cứu Văn hoá Mường. Những tộc người đầu tiên khai sơn phá thạch, dựng cơ đồ trên dải đất cổ xưa nhất của Ninh Bình là người Mường.

Ca nhạc cổ truyền thơm Hương đồng gió nội

Ninh Bình là vùng quê có vốn ca nhạc cổ truyền, hòa trong những sinh hoạt ca nhạc cổ của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Những dịp làng quê mở hội truyền thống, cùng với các đám rước, có phường bát âm, tấu những bài lưu thuỷ, bình bán, kim tiền, có múa rồng, múa lân, múa sư tử, kéo chữ, đánh đu, đấu vật chọi gà... Trái đất này, không nơi nào có được cảnh dân làng tưng bừng ca hát cùng hương đồng, gió nội.

Nhiều thể loại ca hát- diễn xướng dân gian cùng với nhiều lễ hội cổ truyền mang đậm sắc thái văn hoá cư dân lúa nước đồng bằng Bắc Bộ. Hát- diễn chèo, tuồng, múa rối, hát ru, cò lả, hát xẩm, hát văn, ca trù, đối đáp giao duyên... Ninh Bình là cái nôi của hát- diễn chèo thời vua Đinh.

Ninh Bình hội tụ rừng, biển, trung du, miền núi và đồng bằng, đủ mọi hình ảnh về một đất nước Việt Nam thu hẹp. "Là nơi chứa những vật báu của trời, nơi nổi tiếng có nhiều thắng cảnh". Đây là vùng đất "đầu gối rừng, lưng áp biển", "Núi không cao mà hiểm, sông không sâu mà nước chảy xiết". "con người, phong tục thuần hậu" (Nguyễn Tử Mẫn).

Đại Nam nhất thống chí gọi Ninh Bình "là cổ họng giữa Bắc, Nam".

Nơi đây vừa là gạch nối, vừa là ngã ba của ba nền Văn hoá lớn sông Hồng- sông Mã- Hoà Bình.

Đất Ninh Bình ken dày lịch sử. Kinh đô Hoa Lư với ngót nửa thế kỷ của hai vương triều Đinh - Lê dựng nền chính thống, độc lập. Đất Hoa Lư khai sinh vương triều Lý với áng văn Chiếu dời đô . Đất này là "địa linh" là nơi "nhân kiệt" tụ hội. Có Đại Hữu sinh Vương, có Điềm Dương sinh Thánh. Thời nào Ninh Bình cũng có nhân tài. Yếu tố "địa linh", "nhân kiệt" là hồn thiêng sông núi Ninh Bình.

Những làng nghề Việt cổ

Văn hóa Hoa Lư- Tràng An- Ninh Bình sáng tạo nhiều nghề truyền thống với những làng nghề nổi tiếng, những sản phẩm độc đáo của trí tuệ, bàn tay Việt.

Làng nghề thêu ren Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư- Ninh Bình. Tương truyền, năm 1258, khi vua Trần Thái Tông tròn 40 tuổi, nhường ngôi cho con, lên làm Thái Thượng Hoàng đã về vùng núi Vũ Lâm (xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư) tu hành và lập căn cứ địa chỉ đạo cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ 2 (1285). Bà Trần Thị Dung là vợ Thái sư Trần Thủ Độ theo triều đình nhà Trần về đây đã truyền dạy nhân dân thôn Văn Lâm nghề thêu ren, từ đó nghề được lưu truyền và ngày càng phát triển.

Du khách tham quan Tam Cốc- Bích Động, cảm nhận người Văn Lâm đã thả hồn vào chỉ, vào vải, dệt nên những sản phẩm tinh tế: tranh phong cảnh, ga trải giường, rèm cửa, gối, khăn trải bàn... Bằng những sợi chỉ mong manh, đủ màu sắc, với đôi bàn tay khéo léo, bộ óc giàu trí tưởng tượng,

Làng nghề Chạm khắc đá Ninh Vân thuộc Xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư- Ninh Bình có từ rất lâu đời.

Xưa kia, nghề đá chủ yếu chế tác ra những sản phẩm thông dụng như: chậu cảnh, cối đá, tảng đá cổ bồng, những con giống làm cảnh. Các nghệ nhân được mời đến chế tác những sản phẩm nghệ thuật cao cấp bằng đá ở những công trình như nhà thờ, đền, chùa…

Ngày nay, nghệ nhân đá Ninh Vân vừa sản xuất tại chỗ, kể cả sản phẩm có quy mô lớn, nặng tới nhiều tấn, vừa có thể chế tác lưu động tại bất kỳ nơi nào trong cả nước, với nhiều loại sản phẩm đá như: tượng thờ, tượng đài, tượng nghệ thuật, bể cảnh, thống đá, các con giống, tứ linh, lư hương, cây đèn, cột trụ... đậm tâm hồn, phong cách bàn tay Việt.

Làng nghề Chiếu cói Kim Sơn thuộc huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Qua hàng trăm năm quai đê lấn biển, Kim Sơn có những bãi sa bồi mênh mông. Là xứ sở của cây cói, để nghề chế tác sản phẩm cói không ngừng phát triển.

Trước đây, sản phẩm bằng cói ở Kim Sơn chủ yếu là Chiếu cói. Chiếu cói Kim Sơn rất bền và đẹp. Ngày nay, các sản phẩm được chế tác từ cói rất phong phú, đa dạng. Ngoài chiếu cói còn có thảm, làn, khay, hộp, đĩa, cốc, tách, mũ, túi xách... đều được làm từ cây cói.

Làng cổ Phúc Am trồng cây trên đá

Làng Phúc Am thuộc tổng Ninh Thành là một làng cổ, còn lưu giữ trong nó nhiều nét văn hóa Việt cổ. Nổi tiếng nhất là nghệ thuật trồng cây trên đá với sản phẩm nổi tiếng cây sanh Phúc Am. Nghệ thuật ký cây trên đá của các nghệ nhân Phúc Am xưa nổi tiếng đến độ người chơi cây phải lấy tên làng gọi tên loài cây: Sanh Phúc Am. Người chơi gọi sanh Phúc Am để phân biệt với loài sanh nổi tiếng khác sanh Nam Điền. Loại sanh của một làng nghề truyền thống đất Nam Định nổi tiếng với nghề trồng cây cảnh.

Thế kỷ XXI. Tổng Ninh Thành từ làng lên phố thị, thú chơi cây cảnh với loài sanh Phúc Am, vẫn nguyên vẹn như một thứ "tộc phả sinh thái" của đất làng. Vườn cảnh mấy trăm cây nhà cụ Đinh Công Ích (phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình) có cây sanh dáng trực, trồng trên hòn non bộ lớn. Thân cây sanh già, dáng xù xì gân guốc. Bộ rễ của nó bện chặt vào hòn non bộ như loài cổ thụ ôm lấy rừng già.

Ninh Bình đất thiêng Văn hóa Tâm Linh

Báo Ninh Bình đưa tin:

Ninh Bình được chọn làm “điểm dừng chân” của Hội nghị quốc tế về du lịch Tâm linh lần đầu tiên được tổ chức ở Việt  Nam và có lẽ cũng là đầu tiên trên thế giới. Đây là cơ hội “Trời cho” để quảng bá du lịch Ninh Bình đến với bạn bè Quốc tế. Trong một lần đến thăm chùa Bái Đính và danh thắng Tràng An, Tổng Thư ký Du lịch thế giới Taleb Rifai đã có ấn tượng sâu sắc và nhận định mảnh đất này rất có tiềm năng phát triển du lịch Tâm linh nên đã đưa ra sáng kiến tổ chức Hội nghị quốc tế về du lịch Tâm linh tại Ninh Bình lần đầu tiên của Thế giới. Ninh Bình hiện có gần 1.500 di tích lịch sử văn hóa, công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng, trong đó có hai di tích cấp quốc gia đặc biệt, 77 di tích quốc gia và 210 di tích cấp tỉnh, nhiều đền, chùa, miếu phủ, nhà thờ xứ, họ ở khắp các địa phương trong tỉnh và gần 100 lễ hội truyền thống. Mỗi một di tích Văn hóa Tâm linh, là dòng Tâm linh Việt, tỏa hào quang, dâng Khí lành.

Kinh đô Hoa Lư- Đất Tổ sân khấu chèo

Nếu sân khấu truyền thống Trung Quốc có đại diện tiêu biểu là Kinh kịch của Bắc Kinh và sân khấu Nhật Bản là Kịch nô thì đại diện tiêu biểu nhất của sân khấu truyền thống Việt Nam là Chèo.

Chèo là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian Việt Nam. Chèo phát triển mạnh ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Loại hình sân khấu này phát triển cao, giàu tính dân tộc. Chèo là một loại hình sân khấu của hội hè với đặc điểm dùng ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa kết hợp với cách nói ví von giàu tính tự sự, trữ tình.

Theo PGS. Hà Văn Cầu. Kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) là đất Tổ của sân khấu chèo, người sáng lập là bà Phạm Thị Trân một vũ ca tài ba trong hoàng cung nhà Đinh vào thế kỷ X. Sau chèo mở rộng ra đồng bằng Bắc bộ, từ Nghệ- Tĩnh trở ra.

Chèo bắt nguồn từ âm nhạc và múa dân gian, nhất là trò nhại từ thế kỷ X. Qua thời gian, người Việt đã phát triển các tích truyện ngắn của chèo dựa trên các trò nhại này thành các vở diễn trọn vẹn, dài hơn.

Thế kỷ XV. Vua Lê Thánh Tông không cho phép biểu diễn chèo trong cung đình, do chịu ảnh hưởng đạo Khổng. Chèo trở về với nông dân, kịch bản lấy từ truyện viết bằng chữ Nôm.

Hát Chèo ấm hơi thở người Nông dân Việt

Thế kỷ XVIII. Chèo đã tưng bừng khắp đồng quê Việt và tiếp tục đạt đến đỉnh cao cuối thế kỷ 19. Những vở nổi tiếng như Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, Kim Nham, Trương Viên xuất hiện trong giai đoạn này. Thêm một số vở mới ra đời dựa theo các tích truyện cổ tích, truyện Nôm: Tô Thị, Nhị Độ Mai…

Trong chèo, cái Thiện luôn thắng cái Ác. Các sĩ tử tốt bụng, hiền lành, luôn đỗ đạt, làm quan. còn người vợ nuôi chồng ăn học, tiết nghĩa, đợi chờ chồng ngày bái tổ vinh quy. Các tích trò lấy từ truyện cổ tích, truyện Nôm; ca vũ nhạc từ dân ca dân vũ; lời thơ chủ yếu là thơ dân gian. Chèo thường diễn những chuyện cười, những thói xấu của người đời như các vai: Thầy mù, Hương câm, Đồ điếc, Quan Âm Thị Kính…

Những nhân vật phụ của chèo có thể đổi đi và lắp lại ở bất cứ vở nào, nên hầu như không có tên riêng. Có thể gọi họ là thầy đồ, phú ông, thừa tướng, thư sinh, hề... Một số nhân vật như Thiệt Thê, Thị Kính, Thị Mầu, Súy Vân đã thoát khỏi tính ước lệ đó và trở thành một nhân vật có cá tính riêng.

Chèo tổng hợp các yếu tố dân ca, dân vũ và các loại hình nghệ thuật dân gian khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Chèo kể chuyện bằng sân khấu, lấy sân khấu và diễn viên giao lưu với công chúng, nhiều khi biểu diễn ngẫu hứng. Chèo sân đình, chiếu chèo là sân khấu chèo dân gian gần gũi người xem.

Những phường chèo xưa, thường được biểu diễn ở các sân đình, sân chùa. Sân khấu chèo sân đình, là một chiếc chiếu trải ngoài sân, đằng sau treo chiếc màn nhỏ, diễn viên và nhạc công ngồi hai bên mép chiếu tạo dàn đế. Chèo diễn theo lối ước lệ, cảnh trí chỉ được thể hiện theo ngôn ngữ, động tác cách điệu của diễn viên. Đạo cụ của người diễn là chiếc quạt.

Thế kỷ XXI. Diễn viên trẻ Huyền Diệu Nhà hát Chèo Ninh Bình giành giải thưởng Quốc gia với vai diễn Thái hậu Dương Vân Nga trong vở Tấm áo bào hoàng đế. Các trích đoạn chèo cổ: Lưu Bình-Dương Lễ, Quan âm Thị Kính, Súy Vân giả dại… của nhà hát, được công chúng yêu thích.

Tiếng Trống Chèo

Nhạc cụ chủ yếu của chèo là trống chèo. Chiếc trống là một phần của Văn hoá Việt cổ. Người nông dân thường đánh trống để cầu mưa và biểu diễn chèo.

Đêm sâu thẳm đồng quê. Tiếng trống chèo rộn rã, tưng bừng, gọi mọi người vào cuộc vui. Chèo dùng tối thiểu là ba loại nhạc cụ dây là đàn nguyệt, đàn nhị và đàn bầu, thêm cả sáo, trống và chũm chọe. Tiếng trống làm nổi đình đám. Bộ gõ có trống cái, trống con, trống cơm, thanh la, mõ. Trống con dùng để giữ nhịp cho hát, cho múa và đệm cho câu hát. Câu nói "phi trống bất thành chèo" khẳng định vị trí của chiếc trống trong đêm diễn chèo.

Ninh Bình cái nôi của hát Xẩm

Hát Xẩm (hay còn gọi là hát rong, hát dạo…) là một loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian cổ truyền của dân Việt, cũng như nhiều loại nghệ thuật truyền thống khác như: Chèo, Tuồng, Ca trù … Hát Xẩm gắn với tâm hồn, khí chất của người Việt cổ.

Ninh Bình là một trong những “cái nôi” của loại hình nghệ thuật hát Xẩm cổ truyền. Nghệ nhân Hà Thị Cầu, là người hát Xẩm cuối cùng của thế kỷ XX.

Hát Xẩm giai điệu chậm rãi, khoan thai, trầm bổng, mang tính kể chuyện… thông qua rất nhiều làn điệu và ca từ của dân gian. Lời Xẩm mộc mạc dễ hiểu, làn điệu nhiều, phong cách chậm rãi, tự do, ngân nga, thích hợp cho tự sự, trữ tình. Nhiều làn điệu Xẩm: Xẩm chợ, Phồn huê, Riềm huê, Hát ai, Chênh bong, Hò bốn mùa, Ba bậc, Xẩm Sênh, Thập ân…

Hà Thị Cầu- Hiện sinh Văn hóa- Con người Việt cổ

Hà Thị Cầu (1928- 2013). Bà là nghệ nhân hát xẩm cuối cùng của thế kỷ XX. Bà được mệnh danh là "báu vật nhân văn sống" của Văn hóa, Con người Hoa Lư mấy ngàn năm.

Bà tên thật Hà Thị Năm (Cầu là cách gọi theo tên con trai cả ở vùng Yên Mô, Ninh Bình). Bà sinh năm 1917. Chị Mận, con gái của bà, bảo sinh năm 1928 tại huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định trong một gia đình ba đời hát xẩm. Cha bà là một người hát xẩm bị khiếm thị. Khoảng tám tuổi, bà đã bê chiếc thau đồng theo bố mẹ lê la khắp các chợ quê để hành nghề hát xẩm kiếm sống. Năm 11 tuổi, cha mất. Bà cùng mẹ rời Nam Định về sinh sống tại thôn Quảng Phúc, xã Yên Phong, huyện Yên Mô- Ninh Bình.

Định cư tại Yên Mô (Ninh Bình), hai mẹ con bà nương nhờ học hát tại nhà ông trùm xẩm Chánh Trương Mậu, là trưởng sáu gánh hát ở Ninh Bình.

Năm 16 tuổi bà trở thành người vợ thứ 18 của ông trùm xẩm Nguyễn Văn Mậu (biệt danh là Chánh Trương Mậu). Năm đó ông Mậu 49 tuổi, từng chung sống với mười bảy người đàn bà, trong đó có tám bà chính thức. Khi bà Hà Thị Cầu 33 tuổi. Ông Mậu qua đời. Để lại cho bà bảy người con. Sau đó bốn người lần lượt qua đời vì bệnh đậu mùa.

Vợ chồng bà Cầu có mảnh đất từ trước 1945. Năm 1954. Khi về định cư thì gia tài chỉ có hai cái niêu, một dùng để rang và một dùng để nấu. Từ nhỏ bà đã hát xẩm, không biết làm nghề gì khác. Nghèo khổ, bà đã mất một người con sơ sinh còn một người nữa thì phải đem cho. Gần đây mẹ con bà mới đoàn tụ.

Cuối những năm 1980 nhà bà mới được Chính phủ Việt Nam cấp ruộng. Năm 1992. Gia đình bà xây một căn nhà nhưng không có công trình phụ.

Bà mất ngày 03 tháng 03 năm 2013 tại nhà riêng ở xã Yên Phong, Yên Mô, Ninh Bình, thọ 86 tuổi.

Bước vào tuổi 80. Bà chấm dứt công việc hát rong của mình. Hoàn cảnh khó khăn của bà đã nhận được nhiều sự ủng hộ tích cực của nhiều người hảo tâm.

Những làn điệu xẩm cùng giọng hát của bà là những di sản quý giá còn lại của nghệ thuật xẩm.

Mặc dù những giải thưởng và danh hiệu, nhưng cuộc sống của bà vẫn vô cùng khổ cực. Đến cuối đời, bà vẫn chưa một ngày thoát khỏi cảnh nghèo khó. Bà Cầu thuộc diện những hộ dân nghèo nhất xã Yên Phong.

Nghệ nhân Hà Thị Cầu là một pho sử sống về nghệ thuật hát xẩm. Cuộc đời bà như một con tằm đã xong kiếp nhả tơ. Không ruộng vườn. Không lương hưu. Không chồng. Một đời, nghìn đởi. Vẫn nghèo khổ. Ôm con đi hát rong khắp mọi miền. Bà sống dựa vào tình thương yêu, sự giúp đỡ của những người yêu mến giọng hát của bà. Hà Thị Cầu là nghệ nhân duy nhất còn lưu giữ được nhiều làn điệu cổ của nghề hát xẩm dân gian Việt.

Ngày 3- 3- 2013. Người hát xẩm cuối cùng của đồng quê Việt đã ra đi.

Người Nấu Sử Sôi Kinh bên Hồ Gươm khóc bà. Nguyện cầu linh hồn nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu bay cùng những bài hát xẩm: Giọt nước cánh bèo, Ngược đời, Huê tình, Trương Chi...

Hát Xẩm

Trăng xanh lấp ló ngõ đường
Lời ca giọt nhạc, mẹ hòa gió sương
Giọng trầm, giọng bổng ngát hương
Thương mình tâm sự, càng thêm thương người
Màn trời chiếu đất mười phương
“Giọt nước cánh bèo”, “Huê tình”, “Trương Chi”
Trăm năm ai có ra gì
Xẩm xoan mù mịt, sa đà gió mưa
“Ngược đời” những chuyện đò đưa
Có còn ai kể lê thê giữa trời
Thế nhân oan khuất đầy vơi
Ai chia, ai sẻ, yêu thương ơi à
À ê bao chuyện “Ngược đời”
Sầu đêm mẹ trải, đất trời âm vang
Mang nhị, sênh xuống Suối Vàng
Nỉ non tiếng khóc, dân làng xót thương
Mẹ ơi! Bao nỗi đoạn trường
Đâu bài hát xẩm, nối tình Âm- Dương.


Ngôi Đền thờ Sống Nguyễn Công Trứ

Chúng tôi có cơ duyên được lễ Đền thờ Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) xã Quang Thiện, huyện Kim Sơn, Ninh Bình. Ngôi đền là ngôi nhà ba gian của Nguyễn Công Trứ làm tại ấp Lạc Thiện. Để ông quan, nhà kinh tế, nhà thơ Nguyễn Công Trứ đi,về cùng dân lấn biển, làm thủy lợi, lập lang mới tại Kim Sơn, Ninh Bình. Năm 1852. Nhân dân Kim Sơn xây lại thành ngôi Sinh Từ (Đền thờ sống). Hàng năm, đến ngày sinh nhật của Nguyễn Công Trứ, dân mở hội mừng thọ ông. Khi ông mất. Năm 1882. Ngôi đền được tu sửa và xây dựng tiền đường 5 gian, đổi tên Sinh Từ thành Truy Tư Từ.

Nhân dân Kim Sơn thờ Sống Nguyễn Công Trứ. Ghi ơn ông mở Đất Kim Sơn. Năm 1829. Đất Kim Sơn ra đời từ cuộc khẩn hoang bãi biển đầy lau sậy và sú vẹt dưới sự tổ chức và điều hành của Doanh Điền sứ Nguyễn Công Trứ. Kim Sơn nằm giữa hai cửa sông Càn và sông Đáy, hàng năm bồi tụ, tiến ra biển 80- 100 m. Gần 200 năm qua, dân Việt đã sáu lần quai đê, lấn biển Kim Sơn.

Kim Sơn có nghĩa là rừng vàng. Phát Diệm nghĩa là nơi sinh ra cái Đẹp. Nhà thờ Phát Diệm là một công trình kiến trúc tôn giáo nổi tiếng ở Việt Nam, với kiến trúc truyền thống Việt kết hợp Văn hóa phương Tây.

Khi Nguyễn Công Trứ về với Cây Thông. Ngày 14 tháng 11 âm lịch, hằng năm, nhân dân huyện Kim Sơn tổ chức lễ tế tại ngôi đền ba ngày. Những nghệ nhân đến đây, hát với cây đàn đáy, cặp phách và hát những bài ca trù do Nguyễn Công Trứ viết.

Vịnh cây thông

Ngồi buồn mà trách ông xanh
Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
Giữa trời vách đá cheo leo
Ai mà chịu rét thời trèo với thông.


(… Còn tiếp ...)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 30.8.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004