Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




VIỆT NAM PHONG TỤC LUẬN









I. NGUỒN GỐC DÂN VIỆT


1- Dân Việt thời lập quấc:


Trước khi bàn về Phong tục Việt Nam, tôi cho rằng cần khẳng định dân tộc Việt Nam là ai trước đã. Dân Việt Nam qua các thời đại có tên là Văn Lang, Âu Lạc, Giao Chỉ, Giao Châu, Lạc Việt… Để thông suốt toàn bài, tôi cứ gọi là dân Việt hay Việt Nam.

Chuyện Lộc Tục là tổ ba đời của vua Hùng (bắt đầu của họ Hồng Bàng) và nước Văn Lang xảy ra năm 2879 trước Tây lịch, trước vua đầu tiên của Trung Hoa là Hoàng Đế hai trăm năm (xảy ra năm 2697 trước Tây lịch), kế đến là Chuyên Húc, Cốc, Nghiêu, Nghiêu truyền cho Thuấn (thời Ngũ Đế), Thuấn truyền cho Vũ, Vũ truyền cho Ích nhưng bị dân không theo nên giao quyền lại cho con vua Vũ là Khởi. Các giáo sư trước 1975 nói về sử cổ Trung Hoa, mỗi người nói một cách, không thấy nói nhà Hạ. Sách “Việt Nam Sử lược” của Trần Trọng Kim có nói vua Vũ thời nhà Hạ rồi vua Vũ thời nhà Chu, thời nầy có tám trăm nước. Thời Hạ Vũ, vùng sông Hoàng Hà có hàng vạn nước. Như vậy mỗi nước có lẽ là một bộ tộc nhỏ thôi. Thời nầy Hán tộc tức là dân du mục phương Bắc mới vượt được sông Hoàng Hà ở vùng sông Vị để xuống phương Nam. Ở đây, họ được trời ban cho Lạc Thư tức là sách kinh điển của Lạc Việt. Đây là thời sau Ngũ Đế hàng trăm năm mà Văn Lang lập quấc trước thời Ngũ Đế hai trăm năm. Do đó nói Hán tộc đuổi giống Tam Miêu ở vùng sông Hoàng Hà lập ra nước Trung Hoa. Người Tam Miêu xuống vùng sông Hồng Hà lập ra nước Việt là hoang đường vì từ vùng Hoàng Hà xuống tới Bách Việt vừa xa, vừa phải vượt sông Dương Tử lớn lắm và coi chừng phải đánh nhau nữa đấy. Vả lại vùng sông Hồng Hà còn xa Bách Việt và dân Việt đã có nước Văn Lang có kỷ cương và mạnh nữa.

Dân Hán tộc có đủ đông để tràn xuống đồng hóa hàng vạn nước vùng sông Hoàng Hà không? Tôi cho là không. Họ chỉ bắt thần phục họ và đồng hóa trong quá trình hàng ngàn năm. Khi Hán tộc hợp nhứt nước Trung Hoa, họ xóa nước nào thì họ chọn quan nước đó cai trị lại. Nước nào còn cứng cỏi chống lại, họ đặt quan cai trị và để một số quân đóng lại để trấn áp. Đọc truyện Trung Hoa, tôi không thấy việc thắng một nước là họ cho dân họ tới đuổi hay đồng hóa dân bản địa. Cụ thể trong thời Tam quấc, khi Khổng Minh bình Nam Man Mạnh Hoạch ở vùng sông Lư, nhìn bản đồ thì thấy còn xa Bắc Việt ta xa lắm mà ở đó còn rất lạc hậu. Khi Mạnh Hoạch cầu cứu nước Ô Qua, dân ở đó không có nhà, họ ở trong các khe núi. Chúa động là Ngột Đột Cốt đem quân giúp và bị Khổng Minh tiêu diệt. Sau đó, Khổng Minh trả đất, cho Mạnh Hoạch làm chúa như cũ và rút toàn quân về.


2- Dân Việt thời Bắc thuộc:


1. Bắc thuộc lần thứ nhứt (111 trước Tây lịch tới 39 sau Tây lịch):


Năm 111 trước Tây lịch, nhà Tây Hán chiếm Nam Việt, chia làm chín quận, đặt quan cai trị. Nhưng Giao Chỉ thì các Lạc hầu, Lạc tướng vẫn cai trị. Tôi cho rằng nhà Tây Hán nắm kinh đô Phiên Ngung là chính. Đó là vùng Bách Việt do nhà Tần chiếm và lập ra. Do đó, Giao Chỉ, Uất Lâm, Hợp Phố có lẽ nằm sâu vào phía Nam của nước Âu Lạc cũ, đã có kỷ cương nên họ tìm người địa phương tốt cho cai trị để họ thâu tóm và đồng hóa lần. Suốt từ 111 trước Tây lịch đến 24 Tây lịch, nhà Đông Hán vững ngôi thì không thấy sử nói gì về Giao Chỉ. Năm 01 và 02 Tây lịch có Tích Quang và Nhâm Diên sang cai trị Giao Chỉ và Cửu Chân, có lẽ họ làm quan nhà Tây Hán nên sau khi Đông Hán vững ngôi năm năm (năm 29) họ mới sang triều cống. Đọc truyện Đông Hán, tôi chỉ thấy đánh lớn ở Thục, Thành Đô rất xa Bắc Việt của ta. Thành Đô hàng Lưu Tú là hết. Tôi cho rằng nhóm quan chống nhà Hán thì huy động lính để chống Hán. Nhóm không chống Hán thì giữ yên để coi. Do đó yếu tố người phương Bắc xuống Giao Chỉ cải biến dân Giao Chỉ là không có. Khi Tích Quang thần phục rồi, năm năm sau nhà Đông Hán mới sai Tô Định sang cai trị Giao Chỉ. Và sáu năm sau Hai Bà Trưng khởi nghĩa. Quân Hợp Phố ở Quảng Đông cũng ứng nghĩa. Có lẽ Uất Lâm, Hợp Phố là địa phận của Âu Lạc cũ. Tôi cho rằng hơn một trăm năm Bắc thuộc nầy, dân Âu Lạc không chịu ảnh hưởng mấy về sự đồng hóa của Trung Hoa. Quan Trung Hoa chỉ bắt theo phong tục Trung Hoa thôi chớ không đủ người tới từng địa phương cưỡng chế. Vả lại các Lạc hầu, Lạc tướng còn cai trị và lại là nơi xa xôi hẻo lánh, thủy thổ không hợp với người phương Bắc. Chỉ có việc cấm học và cấm viết chữ Việt nên chữ viết bị mất và văn chương bác học không có, chỉ thế thôi.


2- Bắc thuộc lần thứ hai từ năm 43 tới nhà Tiền Lý (544):


Đây là thời Đông Hán, quan Trung Hoa cai trị khắc nghiệt, oan ức không kêu được vào đâu nên loạn lạc khắp nơi, dân tình khổ sở. Cuối đời Đông Hán, người Giao Chỉ học rộng cũng được làm quan như người Trung Hoa. Đến thời Tam Quấc, Giao Chỉ thuộc về Đông Ngô, vì quan nhà Ngô tàn ác nên bà Triệu Thị Chinh (248) nổi lên chống lại. Giao Châu loạn lạc mãi, lại có người Lâm Ấp (Chiêm Thành) ở phía Nam lên đánh phá, quan Đông Tấn phải đem quân đánh đuổi. Kế đó Trung Hoa chia thành Nam Bắc triều. Người Lâm Ấp lại lên đánh giành quyền cai trị Giao Châu nhưng thua quân Tống. Khi Giao Châu thuộc nhà Lương, Thứ sử Tiêu Tư tàn ác nên ông Lý Bôn nổi lên đánh đuổi và lập ra nhà Tiền Lý (năm 544). Trong giai đoạn nầy, Việt Nam cũng như các bộ tộc Nam Trung Hoa đều bị triều đình Trung Hoa cai trị như nhau.


3- Bắc thuộc lần thứ ba từ năm 602 tới họ Khúc dấy nghiệp năm 906:


Thời kỳ nầy nhà Đường cai trị khắc nghiệt, năm 722 Mai Hắc Đế nổi lên ít lâu thì mất. Sau đó giặc biển vô cướp phá Giao Châu, quan nhà Đường đắp thành Đại La để giữ phủ trị. Năm 791, Phùng Hưng nổi lên mấy năm rồi cũng thua. Quân Lâm Ấp lại lên đánh phá. Cuối đời nhà Đường, quan nhà Đường cai trị tàn ác nên người Mường dụ người Nam Chiếu ở phía Tây tỉnh Vân Nam sang đánh. Quan Nhà Đường là Vương Thức dẹp yên được các nơi (năm 858). Trong mười năm quân Nam Chiếu đánh phá, họ giết hơn mười lăm vạn người Giao Châu. Năm 907 nhà Đường mất ngôi, Trung Hoa vào thời Ngũ Quý, các nhà Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu tranh nhau làm vua, mỗi nhà được mấy năm nên Khúc Thừa Dụ vùng lên dựng nền độc lập cho Giao Châu.


Tóm lại, thời Bắc thuộc ở nước Văn Lang và Âu Lạc thì dân Việt ở bản địa cố định. Suốt hơn một ngàn năm Bắc thuộc từ 111 trước Tây lịch đến 907 sau Tây lịch, từ vùng Hoàng Hà tới Giao Châu đều bị Trung Hoa cai trị như nhau. Giao Châu lại loạn lạc liên miên thì không thể có bộ tộc nào ở Nam Trung Hoa sang lập nước được. Nếu có sang như người Nam Chiếu hay Lâm Ấp thì cũng bị đuổi đi. Do đó, tôi khẳng định dân Việt Nam không phải người từ Tây Tạng xuống hay người Tam Miêu hay Mông-gôn-lịch ở Nam Trung Hoa xuống đây lập nước được. Như vậy, đâu là nguồn gốc dân Việt?


3- Nguồn gốc dân Việt:


Trong giảng khóa về Khảo cổ học, dựa trên các hình chạm trổ trên trống đồng Đông Sơn (Thanh Hóa), giáo sư Vũ Khắc Khoan (trường Đại học Văn khoa Saigòn) có nói tới học giả Goloubew (Pháp) nghiên cứu giống người Dayak ở đảo Bornéo và người Mường ở thượng du Bắc Việt của Việt Nam. Cả hai cùng gốc giống Lạc Việt là Anh-đô-nê-giêng. Tới nay cảnh sanh hoạt tang lễ của người Dayak và người Mường vẫn còn giống như cảnh điêu khắc trên trống đồng. Người Dayak tới Bornéo bằng đường thủy. Giáo sư Văn chương và Ngữ học Lê Ngọc Trụ (trường Đại học Văn khoa Saigòn) thì cho rằng người Mường là người Việt. Chữ Mường là chữ Việt. Tiếng Mường và tiếng Việt giống nhau nhưng âm nặng nhẹ khác nhau. Ta nói “Gạo”, người Mường nói “Gậu” vì vùng núi âm nặng hơn ở đồng bằng. Người Mường là một bộ phận người Việt trốn sự đô hộ của Trung Hoa cả ngàn năm và mất liên lạc với người Việt ở đồng bằng. Không biết có phải khi nói về khảo cứu qua hình khắc trên trống đồng Đông Sơn mà giáo sư Khoan nói luôn đến dân Lạc Việt tới định cư ở lục địa Châu Á từ phía Nam sông Hoàng Hà trở xuống hay giáo sư giảng về Phong tục Việt Nam mà tôi không nhớ rõ tên gì. Hiện nay vết tích dân Việt trên nước Trung Hoa còn, đó là vùng Bách Việt ở Nam Trung Hoa. Hình như ông Kim Định và nhà sử học Nguyễn Phương đều cho rằng người Anh-đô-nê-giêng tới lục địa Châu Á sớm nhứt. Họ định cư vùng phía Nam sông Hoàng Hà chạy dài tới hạ lưu sông Hồng Hà mà ông Kim Định gọi là dân Viêm Việt. Tại sao gọi là dân Việt? Thành ngữ có câu:


Ngựa Hồ chim Việt nhiều điều nhớ nhau


Phải chăng có một giống chim gọi là chim Việt? Người ta thường nói đất lành chim đậu. Phải chăng người Anh-đô-nê-giêng theo hướng, theo chưn chim Việt mà tìm nơi định cư để sống no ấm nên gọi là dân Việt. Nước Việt và Bách Việt ở Trung Hoa có lẽ là nơi các bộ tộc Việt tập trung đông nhứt, sống có tổ chức và thành lập nước.

Nhưng do đâu mà có giống Anh-đô-nê-giêng để đi tới nơi nầy nơi nọ? Theo tôi thì bổn thân vùng đất đang ở, với những biến động đặc biệt của vũ trụ, bụi vô hình như ô xy, hy drô, ni trô… và bụi hữu hình như bụi, cát, nước… tự kết hợp với nhau sanh ra cây cỏ, con vật nầy, con vật kia… trong đó có con người. Người Anh-đô-nê-giêng cũng sanh ra như vậy. Trên đất nước Việt Nam nầy, xưa kia khi dân cư còn rất thưa thớt thì nơi nào cũng có người bổn địa sanh ra như vậy nên tuy là một nước nhỏ, ta cũng có trên năm mươi dân tộc thiểu số. Con người thì tiến hóa và văn minh lần. Và cũng vì biến đổi của vũ trụ, người Anh-đô-nê-giêng đã đạt đến một trình độ văn minh kha khá ở đâu đó, vì điều kiện sống trở nên quá khó khăn nên họ phải đi tìm nơi dễ sống để định cư. Họ tới lục địa Châu Á và đồng hóa với dân bổn địa mà tổ chức thành nước như Ngô Việt, Mân Việt, Bách Việt, Âu Việt, Lạc Việt…

Từ đó tôi cho rằng Việt Nam và Trung Hoa là hai dân tộc khác nhau. Người Trung Hoa là giống Hán tộc từ Tây Bắc xuống, với bản sắc du mục, họ đồng hóa các bộ tộc vùng Hoàng Hà, người Anh-đô-nê-giêng và tiến lần xuống phía Nam. Vô nhà người Trung Hoa tôi thấy họ thờ nhiều lắm: thờ ông Thần Tài, ông Địa, ông Táo, ông Quan Công… nên tôi cho rằng họ là giống đa thần, họ thờ thần sông, thần núi, thần gió, thần mưa…khác với người Việt là giống độc thần. Nhà người Trung Hoa có bàn thờ tổ tiên hay không? Có lẽ phải vô nhà người Trung Hoa ở cận sông Hoàng Hà mới nói được. Vào vùng sông Dương Tử là vào địa phận người Việt: Ngô Việt, Mân Việt, Bách Việt… nếu họ có bàn thờ tổ tiên là họ bắt chước người Việt đấy.

Người Việt Nam là giống dân Anh-đô-nê-giêng đồng hóa với các bộ tộc vùng sông Hồng Hà, vùng Bắc Việt mà thành. Đương nhiên họ cũng đồng hóa với thương nhơn các nơi ghé vô buôn bán, làm ăn sanh sống và cả người Trung Hoa sang đây đô hộ ta nữa.


II. PHONG TỤC VIỆT NAM


Bàn về Phong tục Việt Nam, có lẽ trước hết phải định nghĩa Phong tục là gì? Theo Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức thì:


. Phong là ban cho, là bờ cõi, là gió, thói, nếp

. Tục là lề thói đã lâu đời

. Phong tục là thói lề, tục lệ

. Tập quán là thói quen

. Tập tục là tục người ta quen theo


Đứng về mặt định nghĩa, Phong tục, Tập quán và Tập tục có vẻ gần giống nhau, ý nghĩa cũng là thói quen lâu đời của một dân tộc, một xã hội. Nhưng khi nói Phong tục, tôi nghe dường như nó lớn lao hơn, quan trọng hơn. Còn nói Tập tục hay Tập quán dường như nó chỉ là thói quen của một nhóm nhỏ nào đó thôi.

Nói về Phong tục của một dân tộc thì nó bao gồm những gì? Theo tôi, đó là cách ăn mặc, cách trang điểm bản thân, nhà cửa, cách cúng bái… Còn cách giao tiếp giữa người nầy với người nọ, theo tôi, vẫn là Phong tục. Những lễ lộc, cưới hỏi… nó cũng có những qui định phải theo. Đó cũng là Phong tục. Ngày nay, muốn tìm hiểu Phong tục của một dân tộc, ta tìm hiểu ở đâu? Có lẽ ta tìm hiểu trong ca dao, tục ngữ, văn học, lịch sử… Trong lịch sử, luật lệ do triều đình đặt ra bắt dân phải theo. Lâu dần, người dân không cần biết đó là luật mà thấy xưa nay ứng xử như vậy thì họ bắt chước mà thôi. Từ luật pháp nó trở thành Phong tục. Có bài ca dao:


Tháng giêng là tháng ăn chơi

Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà…


Đó là cách sống của dân ta ngày xưa. Thu hoạch vụ mùa xong là tới Tết. Mọi người vui vẻ nghỉ ngơi, trà rượu một thời gian rồi mới bắt đầu lao động tiếp. Đó cũng là Phong tục.

Nhà sử học Nguyễn Phương nói về Phong tục Việt Nam, ông nói dân Lạc Việt thuộc giống Anh-đô-nê-giêng tới định cư ở Việt Nam và Nam Trung Hoa trước nhứt, bằng cớ là cổ vật đào được ở Trường Sa (Nam Động Đình hồ) và Đông Sơn (Thanh Hóa) giống nhau nên họ cùng một giống dân. Họ có Phong tục thờ mặt trời và vật tổ là chim Lạc còn dân Việt Nam thì không có. Theo tôi thì không đúng như vậy. Dấu vết thờ vật tổ chim thì ở các đình thờ Thần Hoàng Bổn Cảnh có thờ một cặp Hạc. Hình như dáng chim Hạc tôi thấy cũng hao hao giống với chim Việt khắc trên mặt trống đồng. Không biết con chim Việt ra sao thì người ta thờ con chim hơi giống là chim Hạc. Vả lại chim Hạc có tiếng là sống lâu nên thờ chim Hạc cũng tốt.

Sách “Thời Đại Hùng Vương” xuất bản năm 1976, trang 256 ghi: “Một đặc trưng của văn hóa Lạc Việt trong thời đại Hùng Vương là tục thờ cúng tổ tiên và sùng bái anh hùng cứu quốc”. Và, sách hay báo Bách Khoa số 376 tháng 9-12, tôi không ghi năm nào, chỉ còn lại câu trích: “Đâu đâu cũng có ghi dấu tín ngưỡng: ‘Ngoài sân thờ ông Thiên, trong nhà thờ ông Địa’. ”

Theo giáo sư Vũ Khắc Khoan, thông qua nghiên cứu của học giả Goloubew, Lạc Việt là giống dân Anh-đô-nê-giêng, cảnh sanh hoạt trên mặt trống đồng Đông Sơn là tang lễ, hình thuyền trên thân trống có người mang gươm, búa, đánh trống, bắn cung… có ý nghĩa đám tang chở linh hồn người Việt cổ về nơi cực lạc.

Phong tục Việt Nam ta ngày nay còn dáng dấp Anh-đô-nê-giêng cổ là chiếc thuyền vàng chở linh hồn người qua cố về đảo cực lạc, nó biến thành chiếc xe nhà vàng đưa người quá cố về nơi an nghỉ cuối cùng. Chiếc thuyền vàng khắc trên trống đồng, đầu và đuôi thuyền có trang trí hình chim. Với sự tích Lạc Long Quân, hình chim biến thành đầu rồng cũng dễ thôi.

Sau khi Triệu Đà là người Trung Hoa, làm quan nhà Tần, giết hết các quan Tần để chiếm Quế Lâm, Tượng Quận hợp với Nam Hải lập ra nước Nam Việt. Triệu Đà độc lập với Trung Hoa, ông tự ý đem cái mà ông cho là hay, là văn minh của Trung Hoa sang dạy dân Việt; trong khi đó, nhà Tần ở Trung Hoa cấm Nho học, đốt sách, sửa đổi phong tục… Như vậy, dân Triệu Đà cai quản là ai? Dùng ai để phụ trợ? Phải nói là dân Nam Hải, sau đó là Quế Lâm và Tượng Quận. Như vậy, ông dùng người cai trị là người Bách Việt chớ không phải Trung Hoa. Do đó tôi cho là ông đem văn minh Trung Hoa sang dạy chớ không bắt dân Bách Việt đồng hóa theo Trung Hoa. Ảnh hưởng của Trung Hoa có lẽ chỉ ở vùng kinh đô Phiên Ngung (gần thành Quảng Châu) là chính, chưa chắc nó lan tới Tượng Quận chớ đừng nói tới Văn Lang. Thời nầy, Lạc Thư ở Việt Nam có lẽ chưa mất. Văn minh Việt tộc còn đó thì dễ gì nhiễm văn hóa Trung Hoa.

Nước Văn Lang lập quấc trước thời Ngũ Đế của Trung Hoa hai trăm năm nên thời Âu Lạc là một nước văn minh có kỷ cương rồi. Sau nầy, hơn một ngàn năm Bắc thuộc, việc bị Trung Hoa đồng hóa cũng hạn chế vì họ chỉ cho quan Trung Hoa sang cai trị và một số lính bảo vệ thôi. Việc dạy học họ cũng không quan tâm lắm vì ngu dân dễ trị. Học, có lẽ chỉ con quan và một số người muốn làm quan nên học thôi. Dân thường, thường là họ chống đối nên không học đâu. Có một điều chắc chắn là họ dạy học và bắt ghi chép bằng chữ Hán nên chữ Việt bị mất. Sau nầy dân ta phải mượn chữ Hán chế thành chữ Nôm để ghi âm VIệt. Nếu nhìn thời nhà Minh đô hộ, họ bắt ăn mặc theo Trung Hoa, thờ cúng, học sách Trung Hoa còn sách vở Việt chúng thâu hết về Trung Hoa. Làm căng như vậy nên chỉ hai mươi năm là dân ta đuổi chúng về nước mà thôi. Nói rằng thời Tây Hán cai trị, Tích Quang dạy lễ nghĩa. Lễ nghĩa thì thời Văn Lang, Âu Lạc đã có rồi. Chẳng qua ông là ông quan tốt, muốn đem sự bình yên cho dân tộc, ông đem lễ nghĩa ra dạy để vỗ yên dân. Dân chỉ nghe những gì dung hòa được với Việt tộc mà thôi. Còn Nhâm Diên thì dạy dân cày cấy, làm ruộng. Sách “Thời Đại Hùng Vương” xuất bản năm 1976, trang 239 ghi: “Các vua đầu tiên của nước Việt cổ đại đó đã hướng dẫn nhân dân khai phá cánh đồng Bắc Bộ và cánh đồng miền Bắc Trung Bộ, biến hai miền đó thành những vựa lúa của nước Văn Lang”. Chẳng qua vì chiến tranh, vì chống ngoại xâm, dân bỏ bê, nay các quan Trung Hoa củng cố lại thôi.

Tóm lại, người Việt Nam, Phong tục Việt Nam, Văn minh Việt Nam là của Việt Nam. Đó là văn minh Anh-đô-nê-giêng hòa đồng với những nét văn minh của các sắc dân bản địa và cả các dân tộc phương xa ghé làm ăn sanh sống. Nó cũng giống như người Trung Hoa là Hán tộc đồng hóa với các bộ tộc bản địa ở lục địa Trung Hoa và cả dân Việt gốc Anh-đô-nê-giêng mà thành vậy. Nói văn minh Anh-đô-nê-giêng, Lạc Việt là Việt Nho nhưng Trung Hoa đã nhận là của họ rồi. Chứng cớ ở đâu? Lạc Thư có còn dấu tích gì không? Vả lại người Trung Hoa tự cao tự đại, họ học xong cái hay của các dân tộc khác thì họ xóa hết vết tích để cái gì họ cũng nói là của họ. Cụ thể là Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn học trò, sử sách còn ghi. Thời Minh thuộc, họ thâu hết sách Việt Nam đem về Trung Hoa nghiên cứu. Cái nào hay thì học, sau đó đốt bỏ để nói là của họ. Trong khi ta chưa chứng minh được Việt Nho là của ta thì ta hào phóng cho Trung Hoa vậy. Với nhận định như vậy, tôi khẳng định rằng Văn minh Việt Nam, Phong tục Việt Nam là của Việt Nam với các nét chánh là:


1. Ngoài nhà thờ Trời (bàn Thiên), trong nhà thờ Đất (ông Địa)

2. Có bàn thờ ông bà tổ tiên. Ngoài ra còn có đền thờ kính anh hùng dân tộc.

3. Mỗi làng có một đình thờ thần và vật tổ là chim Hạc. Có nhiều vùng có vuông tre bao quanh.

4. Nước có biến thì vua cầu hiền trong dân để giúp nước, thể hiện tinh thần dân chủ (Thánh Gióng).

5. Trong gia đình có tôn ti trật tự. Em phải nhường cho anh. Anh em, vợ chồng thương và giúp đỡ nhau (Sự tích trầu cau).

6. Trai gái lấy nhau thì phải cưới hỏi đàng hoàng (chuyện Sơn Tinh - Thủy Tinh)

7. Chào thì nghiêng mình thi lễ.

8. Có tục nhuộm răng ăn trầu, tiếp khách thì mời trầu (miếng trầu là đầu câu chuyện). Tục nầy đã bỏ nhưng vết tích còn lại là mâm trầu cau trong lễ cưới.

9.Trong đám tang có kèn trống. Nay trong thành phố, nhà cửa ken nhau, lao động kiếm sống cũng vất vả hơn nên mọi người cần nghỉ ngơi, đã bỏ dần.

10. Có xe nhà vàng đưa người chết đến nơi an nghỉ cuối cùng.


Tài liệu tham khảo:

1 Sách “Việt Nam Sử lược” của Trần Trọng Kim - tái bản năm 2012

2 Sách “Thời Đại Hùng Vương” của Văn Tân - Nguyễn Linh - Lê Văn Lan - Nguyễn Đổng Chi - Hoàng Hưng do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội ấn hành năm 1976

3 Giảng khóa Kịch nghệ, Khảo cổ học: giáo sư Vũ Khắc Khoan

4 Giảng khóa Văn minh Việt Nam: giáo sư Thanh Lãng

5 Giảng khóa Văn chương Việt Nam và Ngữ học Việt Nam: giáo sư Lê Ngọc Trụ

6 Giảng khóa Phong tục Việt Nam: không nhớ tên giáo sư.

Khánh Hội - Quận 4 Saigòn ngày 15-6-2016



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 30.8.2016.


trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn