Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Lễ tiến Vua ở Khu Tưởng Niệm Vương triều Mạc




Về Việc Cải Danh Đổi Tính của Họ Mạc






S au cái mốc thời gian năm 1592, Trịnh Tùng chiếm được Thăng Long thì một chiến dịch truy sát họ Mạc đã diễn ra. Trong ĐVTS Lê Quý Đôn ghi: “Bình An Dương (Trịnh Tùng) giết hết bọn ngụy đảng đem quân phá hết cung điện ở Cổ Trai, hủy bia ở mộ, chặt hết cây trồng trong lăng. Đó là tỏ sự truy phạt vậy”. Họ Trịnh đã hành hình Mạc Hồng Ninh rất tàn nhẫn đưa ra phía nam cửa doanh xử lăng trì (dùng voi xé xác), đóng đinh vào mắt, chặt và bêu đầu rồi còn đem thủ cấp hiến hoàng đế ở hành tại Vạn Lại xứ Thanh Hóa. Uy hiếp con cháu nhà Mạc để làm tiêu tan ý chí phục thù rửa hận, để tránh cái hậu họa… Chúa Trịnh đã thẳng tay tàn sát, có lúc hơn sáu chục người họ Mạc, thây chết đầy bờ cát… tạo ra bầu không khí nặng nề ghê sợ, khiến có những thân vương nhà Mạc tin rằng cục diện không cứu vãn được đã tự sát. Sự trấn áp truy bức của họ Trịnh đã dẫn tới kết cục: chỗ này xưng vương, chỗ khác khởi sự như Mạc Kính Chỉ ở Đông Triều, Mạc Kính Cung ở Văn Chấn, Mạc Kính Chương ở An Quảng, Mạc Kính Khoan ở Cao Bằng…(Kính Chỉ, Kính Cung là con Mạc Kính Điển, Kính Khoan là cháu nội Kính Điển…)

Di tản đến nhiều vùng, nhiều miền đất lạ, mai danh ẩn tích, chờ thời. Mạc Ngọc Liễn trước khi chết (7/1594) có thư cho Kính Cung có đoạn viết: “Nay nhà Mạc khí vận đã hết, họ Lê phục hưng đó là số trời vậy. Dân ta vô tội mà khiến phải chịu binh đao, ai nỡ lòng nào. Chúng ta nên lánh ra nước khác, nuôi dưỡng uy lực, chịu khuất đợi thời, chờ khi nào mệnh trời trở lại mới làm được, chứ không thể lấy lực chọi với lực. Khi hai con hổ đấu cùng nhau, tất nhiên có một con bị thương, không có ích gì cho công việc. Nếu thấy quân đối phương tới đây, chúng ta nên tránh đi, cẩn thận chớ có đánh nhau với họ, cốt phải phòng thủ cẩn thận làm chính, lại chớ nên mời người Minh vào nước ta để cho dân phải lầm than, đó là cái tội không gì lớn hơn”.

Biết mình, biết người là thế. thương dân như thế. Ngọc Liễn đã mách bảo cho con cháu con đường nên đi, và dặn dò chớ mời người Minh vào, bài học lịch sử vô cùng quan trọng.

Nghe theo ông, Kính Cung lên Lạng Sơn, Cao Bằng… Kính Khoan lên Thái Nguyên rồi Cao Bằng và sang Trung Quốc. Mạc Phúc Đăng (con của Hiến Tông Mạc Phúc Hải và bà Bùi Thị Ban) đã chạy về Quất Động, Thượng Phúc (nay là làng Quất Động , Thường Tín – Hà Tây) là quê mẹ, đổi sang họ mẹ là họ Bùi.

Mạc Phúc Trì về Nhị Khê, Thượng Phúc (nay là Thường Tín, Hà Tây) đổi là họ Lều. Phả ghi trước họ Mạc đến khi nhà Lê trung hưng đổi là Lều giữ lại bộ thảo đầu (++). Ở Kiến Xương, Thái Bình cũng có chi họ Lều và văn tế có nói đến mối quan hệ anh em với chi họ Lều ở Nhị Khê:

… “Nhị Khê chim nhạn, Kiến Xương chim hồng”.

Mạc Phúc Thái về Tạ Xá, Thanh Lâm, Hải Dương đổi sang họ Trần.

Mạc Phúc Chính về Thanh Liêm, xã Cộng Hòa, huyện Kinh Thành, Hải Dương đến thời thứ 3 (Phúc Khánh) đổi sang họ Bùi là họ bà nội, đến đời Nguyễn – Minh Mệnh thứ 2 (1821) lại đổi sang họ Nguyễn.

Mạc Phúc Thọ ở Đồng Cống, Đông Hưng, Thái Bình đổi là họ Bùi theo họ mẹ và họ vợ.

Ở Trực Nội, Thanh Quan, Thái Bình nguyên xưa ở Thanh Hà, Hải Dương đã đổi sang họ Ngô, đời Lê Trung Hưng lại đổi sang họ Bùi, đến đời Lê niên hiệu Đức Long (1632) mới về Trực Nội và cụ Chân Tính đã đổi sang họ Vũ.

Ở huyện Thái Thụy, Thái Bình có họ Mạc vốn dòng ở Nghi Dương tránh truy bức của họ Trịnh, 4 anh em người chạy lên Cao Bằng, người về Trực Nội, Đông Quan, Thái Bình ngươi sang Phú Nhai, Nam Định. Còn cụ Thông Đạo là thứ 2 thì ở Nha Xuyên, Phúc Khê (nay thuộc Thái Thụy, Thái Bình) đổi sang họ Vũ.

Mạc Phúc Sinh về Đô Hoàng, Ý Yên, Nam Định đổi ra họ Hoàng.

Mạc Đăng Khuê vào Văn Xá, Nông Cống, Thanh Hóa đổi là Hoàng giữ bộ thảo đầu và lót là Đăng, là Phúc… Mạc Đăng Lượng vào Nghệ An đổi là Hoàng Đăng Quang về sau là các chi Hoàng Trần, Hoàng Bá, Hoàng Sĩ, Hoàng Văn, Lê Đăng. Huyền tôn của Mạc Đôn Nhượng là Mạc Nhữ Đỉa và 2 em từ Cao Bằng đến định cư ở Phú Phong, Tây Phúc, Tây Sơn, Bình Định.

Ở Trà Câu, Đức Phổ, Quảng Ngãi có Khang vương Mạc Nhân Phủ và Quảng vương Mạc Quang Khải trấn nhậm, sau phải phân tán đổi ra họ Huỳnh đăng (vẫn viết là Hoàng đọc trệch âm). Ở Trà Kiệu, Duy Xuyên, Quảng Nam có phái hệ Mạc Cảnh Huống (còn gọi là Mạc Cảnh Lịch) là em của Khiêm vương Mạc Kính Điển, sau đổi ra họ Nguyễn Trường do được ban quốc tính.

Ở Thọ Lão, Đan Phượng, Hà Tây có chi họ Mạc đổi ra Hoàng. Mạc Đăng Đạo ở Tiên Cường, Tiên Lãng, Hải Phòng đến hậu duệ đời thứ 7 đổi ra họ Phạm.

Mạc Thiện Đạo ở Thanh Đặng, Văn Giang, Hưng Yên đổi là Phạm. Mạc Đăng Uyên – thế tử của Mạc Đăng Dung đem bảo vật (thanh long đao và hài cốt các vua) chạy về Thiên Trường, Sơn Nam (nay là Kiên Lao, Ngọc Tỉnh, Hoành Tứ ở Xuân Trường, Giao Thủy tỉnh Nam Định) đến đời thứ 3 là Mạc Đăng Thận đổi là Phạm Đình Trú.

Mạc Đăng Quế về Kiến Xương, Thái Bình đổi ra họ Phạm, về sau là các chi: Phạm Ngọc, Phạm Xuân, Phạm Chí…

Mạc Đăng Cầu ở Cổ Lũy, Cẩm Thủy, Thanh Hóa đổi ra họ Phạm.

Mạc Mậu Giang vào Nghệ An đổi ra Nguyễn, ra Phạm, ra Phan, ra Hoàng.

Mạc Đăng Bình vào Nghệ An đổi ra họ Thái.

Ở Đằng Lâm, An Hải, Hải Phòng đổi từ Mạc sang Hoa và sau là Khoa.

Ở Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội đổi là họ Thạch.

Ở Xuân La, Từ Liêm đổi là họ Phương.

Ở Gia Bằng, Nguyên Bình, Cao Bằng đổi họ Dương theo họ vợ.

Ở Nà Lữ, Hòa An, Cao Bằng đổi họ Bế, họ Ma. Họ Ma sau lại có nhánh đổi thành họ Mai.

Còn một số họ khác nữa cũng gốc họ Mạc đổi ra như họ Chu ở Phú Sơn, Ba Vì, Hà Tây theo họ bố nuôi và một số họ được nhắc đến trong phả họ Mạc là họ Đào, họ Tô, họ Khương, họ Liêu… gần đây biết họ Tô ở Quảng Xương, Thanh Hóa.

Ngoài ra, vẫn giữ nguyên họ Mạc có ở Hải Dương, Hải Phòng, Bình Định.

Có thể khái quát mấy điểm như sau:

1. Muốn duy trì dòng họ, tránh được nạn truy diệt một thời buộc họ Mạc phải phân tán và thay đổi họ.

2. Phân tán trên nhiều địa bàn từ bắc tới nam như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Quảng Ninh, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hà Tây, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, TPHCM, Kiên Giang… Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc…

Song tập trung cao nhất là Cao Bằng, Thái Bình và Nghệ An.

3. Đổi sang các họ: Cát, Chu, Bùi, Bế, Dương, Đào, Đoàn, Hoa, Hoàng, Huỳnh, Khoa, Khổng, Khương, Lều, Liêu, Ma, Mai, Phạm, Phan, Phùng, Phương (?), Tô, Thái, Thạch, Nguyễn, Vũ.

+ Hoặc theo họ mẹ, họ bà, họ vợ (Bùi, Vũ, Dương)

+ Hoặc theo họ bố nuôi (Chu),…

+ Hoặc theo vùng đất cư trú có họ gì hay tên đất.

4. Mật mã hay tín hiệu qui ước của dòng họ được ghi rõ trong gia phả, trong câu đối thờ, trong các giai thoại, qua việc truyền khẩu v.v…

Đó là:

+ Phải giữ bộ thảo trên đầu chữ tên họ

+ Phải dùng tên đệm là Đăng, là Phúc, là Đình; câu đối thờ gia tiên thì nhiều, nhiều lắm, được khắc trên gỗ, được đắp trên tường, được viết trên giấy… Tôi chỉ xin dẫn ít câu để minh chứng vấn đề đã nêu:

* Tại từ đường họ Vũ Tiến ở Đông Hưng – Thái Bình:

Phiệt duyệt gia thanh, Trần triều Mạc trạng nguyên chi hậu.

Nguyên lưu thế phả, Thanh Hà Đông Hải quận dĩ lai.

Nghĩa là:

Dòng dõi tiếng tăm, Trạng Mạc triều Trần[1] nối tiếp sau

Ngọn nguồn thế phả Thanh Hà Đông Hải lại từ đây[2]

* Tại từ đường họ Bùi Trần ở Quất Động, Thường Tín, Hà Tây:

Miêu duệ ức niên Linh Động hậu

Văn Chương quán thế Lý Trần lai.

Nghĩa là:

                    Con cháu ngàn năm về sau từ Chí Linh, Lũng Động,

Văn Chương trùm đời từ triều đại Lý – Trần đến nay.

* Tại Từ đường họ Thạch ở Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội:

                    Thiên Thủy [3] dòng phân nguồn phúc rộng

                    Lan Khê[4] chi tỏa mạch văn dài

* Tại từ đường họ Phạm ở Xuân Thủy – Nam Định có câu:

                    Đức chỉ thiên tài lan quế mậu

                    Mạc triều hệ xuất đế vương cơ

Nghĩa là:

                    Lấy đức làm nền thì ngàn năm lan quế um tùm

                    Cơ nghiệp đế xuất hiện từ triều Mạc

*Ở từ đường họ Nguyễn ở Đại Đông, Thanh Chương, Nghệ An:

Phúc Khánh Đại Đồng Thực lại nhất thành Chân Cảm.

Gia đình Yên Lạc toàn bằng tiên tổ Chí Linh.

Trong câu đối trên cho ta biết chi họ này đã dừng chân ở Đại Đồng, Chân Cảm, Yên Lạc tất cả đều chung một tổ tiên ở Chí Linh là quê hương đầu tiên của họ Mạc.

*Văn tế của họ Lều ở Nhị Khê, Thường Tín, Hà Tây dài 103 câu, viết theo thể song thất lục bát có câu:

Khảo thế hệ kỳ tiên Mạc thị

Lịch kỷ truyền cơ chỉ tăng quang

Nguyên lai Lũng Động cố hương

Chí Linh cố huyện, Hải Dương cố thành

Lý, học sĩ khoa danh cử tuyển

Trần, trạng nguyên bút nghiễn minh danh …

Tạm dịch:

Khảo thế hệ vốn dòng họ Mạc

Trải bao đời nền nếp phong quang

Quê gốc ở Lũng Động hương

Chí Linh là huyện, Hải Dương tỉnh nhà

Lý học sĩ khoa danh lừng lẫy[5]

Trạng đời Trần vang dậy tài danh[6]

Chỉ thế thôi, ta cũng khẳng định được các họ Vũ Tiến, Bùi Trần, Thạch Văn, Phạm Đình, Nguyễn Đăng, Lều…  ở các địa phương đã dẫn đều từ gốc họ Mạc mà ra và cũng từ Hải Dương hay Hải Phòng dời đi. Dẫn liệu trên là căn cứ chắc chắn để ta bác bỏ ai đó nói “Thấy sang bắt quàng làm họ”

Về việc cải đổi tính danh của họ Mạc, tôi đã từng báo cáo ở Hội thảo khoa học ở Kiến Thụy, Hải Phòng do Viện Sử học, Hội khoa học lịch sử TP Hải Phòng tổ chức năm 1994, sau đó được in trong cuốn “Nhà Mạc và dòng họ Mạc trong lịch sử” (1996). Trong tập “Cội nguồn” (tập LHN 1996) của Hiệp hội UNESCO Việt Nam, tôi có đăng bài “Sự thăng trầm của một dòng họ”. Cũng trong năm 1996, trong “Thông báo Hán – Nôm học” của Viện nghiên cứu Hán – Nôm, tôi có công bố bài “Câu đối thờ gia tiên, bức thông điệp dòng họ”. Ai muốn tìm hiểu kỹ hơn xin mời tim đọc.

Còn biết bao giai thoại ở các chi họ gốc Mạc mà tôi và chắc không ít người đã được nghe kể. Tôi chỉ xin ghi vài câu chuyện.

* Có 5 anh em họ Mạc ngồi đánh cờ tướng, nửa chừng có lính của chúa Trịnh truy đuổi bắt. Mỗi người cầm 1 quân cờ, là xe, là pháo, là mã, là tốt đỏ, tốt đen… nhanh chóng chia tay nhau rồi sau đó là mai danh ẩn tích vẫn dặn dò con cháu sau này có dịp tìm nhau mà nhận họ nhận hàng. 400 năm đã qua, đến mãi mùa xuân Ất Hợi (1995) trên đất Thái Bình mấy họ Vũ, Phạm và Lều đã gặp lại nhau (họ Lều giữ quân tốt) [7] .

* Một nhà họ Mạc có 3 anh em giai, khi chạy loạn đi vào rừng. Bố không may bị hổ ăn thịt, từ đấy các người con vẫn nhớ và bảo nhau phải kiêng tránh ngày Dần, giờ Dần (Dần: Hổ)../.


[1] Chỉ Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi

[2] Thanh Hà, Đông Hải: tên địa danh cũ thuộc Hải Dương

[3] Thiên Thủy là sông Thiên Đức tức sông Đuống ngày nay

[4] Lan Khê là tên một làng của huyện Nam Sách nơi họ Mạc di cư đến

[5] Chỉ Tiến sĩ Mạc Hiển Tích

[6] Chỉ Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi

[7] Cũng có tích ba anh em đang chơi cờ thị bị quân lính nhà Lê – Trịnh đến truy diệt nên mỗi người chạy một hướng cầm theo quân xe, pháo, mã mà các chi họ anh em tìm được nhau đó là chi họ Hoàng ở Đông Sơn, Đô Lương, Nghệ An; chi họ Nguyễn Công ở Đông Thọ, Đông Hưng, Thái Bình; chi họ Nguyễn Doãn ở Vũ Trung, Kiến Xương, Thái Bình.

Nguồn: Kỷ yếu “Ban liên lạc họ Mạc Hà Nội – 20 năm một chặng đường”


Tác giả: Tiến sĩ Hoàng Lê là nghiên cứu viên cao cấp của Viện nghiên cứu Hán – Nôm. Ông thuộc chi họ Hoàng gốc Mạc ở Hoàng Giang, Nông Cống, Thanh Hóa. Ông là Phó Ban liên lạc họ Mạc Hà Nội từ 1994 – 2000, Trưởng Ban liên lạc họ Mạc Hà Nội từ 2000 – 2006



. @ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ HàNội ngày 30.8.2015.