Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



LÀNG TRONG PHỐ

VỚI KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ BẮC NINH

VÀ BÀI TOÁN 2 TRONG 1




B ắc Ninh là nơi có nhiều làng cổ, làng nghề truyền thống, cũng là nơi có tốc độ phát triển đô thị nhanh nên mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển càng trở nên gay gắt hơn. Làm thế nào để bảo tồn và phát huy giá trị các làng truyền thống ở đô thị Bắc Ninh trong sự phát triển kinh tế xã hội đương đại một cách cân bằng và hiệu quả là vấn đề thực sự cần thiết, cấp bách và rất cần có những định hướng, giải pháp phù hợp. 


Trải qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc, văn hóa làng Bắc Ninh đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt của mình. Sau lũy tre làng, bên giếng làng, dưới mái đình làng, trong bầu khí thân thương của những ngày hội làng, mọi người sống với nhau nặng tình nặng nghĩa, giúp đỡ nhau lúc tắt lửa tối đèn. Tình làng nghĩa xóm, quan hệ láng giềng ràng buộc con người trong nếp sống làng, xã có kỷ cương, trong sáng và thanh cao, mà đặc trưng nổi bật nhất của văn hóa người dân Bắc Ninh là luôn có chữ “tình” trong quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên, với xã hội.

Văn hoá làng được thể hiện thông qua các biểu trưng văn hoá mang giá trị truyền thống: cây đa, bến nước, mái đình…đến các bản gia phả, hương ước, hội hè, đình đám…Văn hóa làng như một mạch nước ngầm không nhìn thấy nhưng lại có sức mạnh chi phối, điều khiển mỗi người trong cộng đồng làng:

“…Làng quê tre cũng nở hoa

Cổng làng có cánh, cây đa có thần

(Nhà quê- thơ HP)

Lịch sử đô thị Bắc Ninh là lịch sử phát triển từ làng lên phố, làng trong phố. Năm 2007 thành phố Bắc Ninh sáp nhập thêm 9 xã; hiện nay TP.Bắc Ninh có 16 phường, 3 xã, trong đó có một số làng nghề truyền thống và có tới 31/49 làng quan họ gốc. Đô thị trung tâm Bắc Ninh sau này sẽ lớn hơn rất nhiều, có nhiều làng nghề truyền thống, nhiều làng với nhiều di tích lịch sử cấp tỉnh, cấp quốc gia và cấp đặc biệt; nhiều làng còn giữ nguyên vẹn được kiến trúc cảnh quan của làng Việt cổ truyền.

Công cuộc đô thị hóa là tất yếu khách quan. Đô thị không đối lập, không phủ định làng quê, mà ngược lại là sự kế thừa và phát triển làng quê dựa trên cái nền văn hóa của làng. Do đó, bảo tồn làng không có nghĩa là né tránh, hạn chế sự phát triển, mà là bảo vệ sự sống của nó, không để nó mất đi. Rất nhiều làng ven đô nay trở thành một phường thuộc thành phố Bắc Ninh. Thực tế nếu không quan tâm thích đáng, sẽ làm giảm đi cảnh quan thiên nhiên cổ xưa của làng. Dân cư vẫn sống theo lối thôn xóm xưa, nhưng nhà cửa được xây theo phố xá, sinh hoạt theo tổ dân phố. Đặc biệt hơn, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, có chỗ, có nơi lại tự phát, nên không có quy hoạch cụ thể dẫn đến thực trạng phố không ra phố, làng không ra làng. Đường làng được đặt tên phố (gồm tên làng có đánh số thứ tự) nhưng vẫn là đường làng cũ, ngoằn ngoèo, bé nhỏ nay trở nên chật chội, lộn xộn. Vì thế không lạ lùng gì khi không gian thành phố luôn có sự đan xen giữa đô thị và nông thôn kiểu “xôi đỗ”, lối sống nông thôn còn ngập tràn trong đô thị. Đã đành đi đôi với quá trình phát triển là sự xuất hiện của những cái mới, thay thế cái cũ. Nhưng để những cái mới dần phá vỡ không gian truyền thống quý giá của xóm làng thì thật là đáng buồn.

Trong gần một thế kỷ rưỡi, vẫn còn đó bài học ở Hà Nội, đô thị hóa theo mô hình hiện đại- theo đánh giá của các nhà văn hoá- con người đã và đang ứng xử với làng xóm theo hai hướng trái ngược: Hoặc "can thiệp sâu và quyết liệt làm thay đổi cấu trúc làng xóm" hoặc "để làng xóm phát triển tự phát phá vỡ cấu trúc truyền thống". Và vẫn còn đó câu chuyện người dân Đường Lâm xin trả lại danh hiệu di sản để mong có điều kiện sống tốt hơn. Lời giải nào cho bài toán bảo tồn trong dòng chảy của thời đại thật không dễ. Ai cũng sẽ thích thú khi thấy những công trình mới có quy mô vừa phải, hài hòa... thấp thoáng bên xóm làng truyền thống. Chỉ một lũy tre, gốc cây, bờ ao…của làng quê trong đô thị được bảo vệ vẹn toàn đã là điều quý giá lắm lắm. Đô thị không tránh khỏi sự ồn ã, nhưng nếu như trong lòng thành phố có những nơi thanh bình và êm ả như một làng quê, cách xa sự xô bồ của phố xá sẽ là niềm mơ ước của bao người! Biết rằng là việc rất khó, nhưng đã đến lúc cần đầu tư nhiều hơn cả về trí và lực cho bảo tồn, cải tạo và phát triển bản sắc của đô thị Bắc Ninh trong thời đại mới.


Giếng quê - nơi tích tụ hồn làng

(Giếng Ngọc làng Diềm, có từ thời Vua Lý năm 1006, thuộc xã Hòa Long, tỉnh Bắc Ninh.Dân làng Viêm Xá có được giọng hát “vang, rền, nền, nảy” với độ tinh xảo bậc nhất xứ Kinh Bắc chính là nhờ được dung dưỡng từ nguồn nước trong lành, tươi mát của giếng Ngọc này)


Để nét văn hóa độc đáo có từ hàng ngàn năm không bị phai nhạt lãng quên, chúng ta hãy dành cho làng trong phố sự quan tâm thích đáng - bởi đó chính là những tế bào, nơi lưu giữ cội rễ, hồn người, hồn dân tộc.

  Đô thị là phát triển, là động; làng xóm là tĩnh tại xét một cách tương đối. Đô thị phát triển, không gian kiến trúc làng là có giới hạn trong khi đó đời sống hiện đại đòi hỏi nhiều nội dung mới, yêu cầu mới. Đây là yếu tố động bắt buộc phải có sự chuyển hoá cả về lượng và về chất. Khi một trong các thành phần không gian trong cấu trúc này đáp ứng thiên lệch cho một nhu cầu mới nào đó sẽ làm ảnh hưởng lấn át các thành phần không gian khác... Để cho các làng trong quá trình đô thị hoá ở Bắc Ninh đến năm 2030 trở thành một cộng đồng dân cư truyền thống đổi mới hiện đại  rất cần phải nghiên cứu về chúng như một thực thể có ảnh hưởng quan trọng tới chất lượng quy hoạch Đô thị của Bắc Ninh . 

Kết quả tác động của đô thị phát triển dẫn đến sự va chạm giữa yêu cầu hiện đại, văn minh của cuộc sống đô thị và tính truyền thống, văn hoá của không gian làng xã. Trong khi đó, để làng trở thành làng thực sự đúng nghĩa của nó phải mất hàng ngàn năm mới thành một cơ thể sống, một quần cư mẫu mực. Bấy lâu nay, ở ta thường hành chính hóa trong việc phát triển đô thị. Nếu cứ theo cách “phong” cho xã thành phường, huyện thành quận, thì có nghĩa là kéo làng ra phố, khoác áo thị dân cho nông dân; như thế cũng đồng nghĩa với việc làm mất đi giá trị đích thực của đô thị hóa.

Khi nghiên cứu quy hoạch chung đô thị Bắc Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, quy hoạch trung tâm đô thị có ảnh hưởng trực tiếp đến các trung tâm thị trấn, trung tâm quận, huyện thông qua các hành lang kinh tế - xã hội, giao thông, kỹ thuật...dần tạo thành ba hành lang: hành lang đô thị; hành lang sáng tạo và hành lang sinh thái.Và xen kẽ giữa không gian đô thị ấy là không gian các làng quê Bắc Ninh truyền thống đang rất cần được bảo tồn, gìn giữ, là các làng quê sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, cùng các khu dân cư, với chất lượng sống tương đương đô thị. Đó là các làng đô thị, với xu hướng phát triển theo tiêu chí xanh, bền vững.

Trong tổng thể quy hoạch đô thị, cần quan tâm tổ chức thành hệ thống các làng truyền thống, chúng sẽ sâu chuỗi với nhau và phát huy hết các giá trị phi vật chất của nhiều làng quê khác nhau. Các làng liên hệ tiếp nối với nhau qua hệ thống không gian cảnh quan môi trường mặt nước, cây xanh. Hệ thống này thiên về đặc trưng của địa lý, văn hoá - môi trường thực vật và sông nước của nền kinh tế nông nghiệp, chứa đựng rất nhiều những giá trị văn hoá truyền thống vật chất và tinh thần. Bởi vậy việc tổ chức này cần phải thực hiện theo một thiết chế hết sức thận trọng, chặt chẽ, phù hợp vị trí vai trò giá trị cụ thể của mỗi làng nhằm tạo ra đặc trưng cho đô thị Bắc Ninh mà còn giải quyết các yêu cầu về kinh tế du lịch, khai thác bảo vệ các giá trị: văn hoá truyền thống, hệ thống môi trường cảnh quan của thành phố và của tỉnh. Đây chính là giải pháp tạo ra sự phát triển bền vững của đô thị, tạo ra sự cân bằng trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường thiên nhiên của miền đất cổ Bắc Ninh.

Tiếp đó, là việc tổ chức không gian từng làng đơn lẻ, căn cứ vào đặc điểm riêng và thế mạnh của từng làng, và đặc biệt không được lẫn lộn giữa quy hoạch làng trong phố với quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Phần lớn không gian kiến trúc làng truyền thống trước đây với chức năng chính là ở và kết hợp kinh tế tự cung tự cấp. Do yêu cầu hiện đại hoá, với ý nghĩa là không gian chuyển tiếp giữa văn minh đô thị và văn hoá truyền thống sẽ cần có thêm một số chức năng mới  bên cạnh các chức năng cũ như sau: Chức năng ở, Chức năng kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục, hành chính, thông tin liên lạc…Các công trình lịch sử, tôn giáo tín ngưỡng gồm đình, chùa, đền, nhà thờ phục vụ cho các sinh hoạt công cộng, văn hoá, truyền thống. Bên cạnh đó đường làng, ngõ xóm, ao, hồ, đầm, vườn cây, cây đa, giếng nước, cảnh quan môi trường là nơi sinh hoạt giao tiếp truyền thống.

Do yêu cầu mới của đời sống hiện đại chức năng ở mới của dân làng luôn luôn tăng lên do phát triển dân số và hình thành gia đình hạt nhân. Hạn chế nâng tầng cao nhà, biến chợ thành siêu thị và mua bán chia nhỏ đất làm tăng mật độ xây dựng trong không gian làng. Các công trình theo chức năng mới phục vụ nhu cầu đời sống của đô thị hoá, cần có diện tích và tiêu chuẩn đất đai xây dựng phù hợp. Cần bố trí linh hoạt trong cơ cấu quy hoạch làng có thể là cây xanh, vườn hoa, sân chơi, hoặc công viên nhỏ phục vụ nghỉ ngơi giải trí, đây là thành phần chức năng mới so với cấu trúc làng truyền thống. Việc quy hoạch đồng bộ về hạ tầng giao thông, kỹ thuật, dịch vụ là một nhiệm vụ quan trọng. Ðiều đáng lưu ý là cần cải tạo chất lượng hạ tầng kỹ thuật và xã hội theo chất lượng đô thị; khơi thông ao tù, bảo đảm nguồn nước, tạo cảnh quan làng xóm hoặc bảo tồn không gian đình, chùa, làng kết hợp với thiết chế văn hóa mới phục vụ sinh hoạt cộng đồng. Thực hiện đồng bộ quy hoạch cảnh quan song song với áp dụng các chế tài quản lý không gian kiến trúc. Riêng cây xanh và mặt nước trong không gian làng phải được đặc biệt ưu tiên thích đáng. Như vậy cả chức năng cũ và mới đều cùng nằm trong không gian có giới hạn của làng, mang tính chất giải quyết nhu cầu cần nhưng chưa đủ điều kiện thoả mãn cho đời sống hiện đại trong đô thị.

Cùng với việc quy hoạch tổ chức không gian kiến trúc, cách ứng xử hài hoà giữa đô thị hiện đại với làng quê truyền thống, trong công cuộc đô thị hoá, hiện đại hoá, có 2 cục diện rất bản chất, diễn ra xuyên suốt và song song, nhưng cũng hàm chứa mâu thuẫn và thách thức, đó là : đô thị hoá đất đai và thành thị hoá dân cư, xây dựng công dân của làng thành những chủ nhân của đô thị văn minh hiện đại. Bởi do ảnh hưởng của đô thị hoá, cấu trúc làng truyền thống trong đô thị sẽ biến đổi từ văn minh nông nghiệp (nông thôn) sang văn minh công nghiệp (đô thị), người dân chưa thể nào có ngay nếp nghĩ đô thị, nếp sống đô thị để tạo nên bản sắc văn hoá đô thị. Đô thị hóa theo kiểu “ôm” thêm nông dân, nông nghiệp và nông thôn, chỉ làm tăng số lượng chứ không làm tăng chất lượng dân số! Mọi cấu trúc quần cư chỉ trở thành thành phố đích thực, có sức hút và lan toả, tính tiêu biểu, sức cạnh tranh và có thương hiệu, khi dân cư đã thành thị hoá và tạo lập cho thành phố mình những giá trị và đặc trưng văn hoá.

Chỉ với 2 khái niệm gốc: Làng và Phố, nếu khéo kết hợp với nhau sẽ tạo nên được tính đa dạng trong sự phát triển của văn hóa kiến trúc. Làng trong phố, phố trong làng…Nếu không có ranh giới rõ ràng, không phân biệt khái niệm, chúng ta sẽ làm mờ dần những khoảng cách phát triển và chậm phát triển. Người Phương Tây mang đến ảnh hưởng của văn hóa phố, ở Phương Đông chúng ta có văn minh lúa nước. Sự phát triển tổng hợp đã cho chúng ta văn hóa hai trong một, trong thời điểm hiện nay thật khó để phát hiện chúng ta đang phát triển đô thị theo hướng nào. Ta đang phố hóa làng mạc nhưng cũng chưa thoát làng mạc hóa phố. Mặc dù các nhà quản lý, các nhà quy hoạch vẫn đang cố gắng đẩy mạnh hơn sự văn minh của đô thị hóa, sự tồn tại của không gian làng, nhưng thực tiễn cuộc sống dân dã vẫn diễn ra sự chấp chới giữa làng và phố.

Đô thị hóa là xu hướng tất yếu của một xã hội phát triển. Việc giữ gìn, phát huy các giá trị của không gian văn hoá làng trong trong đô thị ở thời điểm này là một khó khăn lớn. Nhưng làm sao để các làng cổ trụ vững, rất cần sự đồng thuận của cả chính quyền và nhân dân. Bảo tồn nhưng phải để văn hoá làng phát triển và những giá trị đã được khẳng định sẽ còn mãi. Điều này rất cần sự quan tâm xây dựng cơ chế chính sách của các nhà quản lý bởi muốn bảo tồn khả thi phải đảm bảo bằng các chính sách Nhà nước .

Cuối cùng xin dẫn lời của Tiến sĩ Stephanie (tổ chức HealthBridge – Canada) đã từng cảnh báo:

-“Văn minh, hiện đại có thể đang được dùng như một cái cớ để người ta từ bỏ các không gian truyền thống quen thuộc vốn tạo nên bản sắc và linh hồn thành phố Thực tế đã cho thấy, những gì mất đi sẽ khó có thể lấy lại được, hoặc sẽ chỉ có thể lấy lại được với một cái giá rất đắt./.


Bắc Ninh tháng 6-2016



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ BắcNinh ngày 31.7.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004