Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

cố đô Hoa Lư

Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (35)



Văn Hóa Hoa Lư

Văn Học & Tôn Giáo







T hế kỷ X. Nước Ðại Cồ Việt của các vua Ðinh- Tiền Lê bước vào kỷ nguyên Độc lập- Tự chủ lâu dài. Đã nảy sinh những mầm xanh của một nền Văn học dân tộc, mượn chữ Hán và ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo.

Khởi nguồn từ Thiền uyển tập anh (Tập hợp Tinh hoa vườn Thiền), ghi lại các tông phái Thiền Việt Nam. Có 68 truyện, kể về các Thiền sư nổi tiếng, cuối thời Bắc thuộc đến đầu thời Trần.

Thiền sư Pháp Thuận và Văn học Sấm ngữ Việt

Ðỗ Pháp Thuận (915- 990) là Thiền sư và nhà thơ. Cùng với Thiền sư Khuông Việt và Vạn Hạnh, đã cố vấn cho triều Tiền Lê về chính trị và ngoại giao.

Tác giả Thích Giác Tâm (Wesite Đạo Phật Ngày Nay) viết:

Thiền sư là người ra đi không để lại dấu vết, chính điều đó nói lên tinh thần Thiền tông (bất lập văn tự), khiêm hạ, ẩn danh, vô ngã. Thiền uyển tập anh ghi Pháp Thuận Thiền sư họ Đỗ, không rõ tên thật và quê quán, thuộc thế hệ thứ mười dòng Thiền Nam phương. Xuất gia từ nhỏ, thờ Thiền sư Phù Trì chùa Long Thọ làm thầy. Pháp Thuận đắc pháp, nói ra lời nào cũng hợp với sấm ngữ.

Sư học rộng có tài, hiểu rõ việc nước, đang lúc nhà Tiền Lê mới dựng nghiệp, giúp vua trù kế hoạch, định sách lược. Khi thiên hạ thái bình, sư không nhận phong thưởng. Cùng với Sư Khuông Việt, Pháp Thuận là cố vấn của triều đình. Có lần cùng với Sư Khuông Việt, được cử tiếp đón sứ thần nhà Tống là Lý Giác. Tài ứng đối bằng thơ ca, làm Lý Giác ngạc nhiên kính phục. Vua Lê Đại Hành thường đem vận mệnh nước nhà hỏi sư .

Các triều đại Đinh, Lê , Lý, Trần hết sức nhân bản, khoan dung và tôn trọng hiền tài. Vua nắm sinh mạng quốc gia và sinh mạng thần dân trăm họ trong tay. Quyền sinh sát. Vậy mà vì sự tồn tại của vận nước, vẫn khiêm hạ mời các vị Sư tài đức về triều đình tham vấn chính sự quốc gia. Vua đến Am Viện của các Thiền sư tham vấn những trăn trở, ưu tư về nhiều vấn đề thời cuộc.

Vua Lê Đại Hành trọng hiền tài là nguyên khí quốc gia. Có được những con người uyên bác tài giỏi giúp cho những kế sách, ý kiến hay sẽ đưa quốc gia đến chỗ thịnh trị, thái hoà. Vua Lê Đại Hành mới lên chấp chính, thù trong giặc ngoài. Vận mệnh tổ quốc nghiêng ngửa. Lòng dân chao đảo. Nếu không có những Thiền sư tu chứng, nhiều tuệ giác làm cố vấn cho triều đình, đưa ra kế sách hay, động viên tinh thần của vua, của triều đình và của dân chúng, đất nước dễ rơi vào tay ngoại bang. Dân tình sẽ lầm than, thống khổ biết chừng nào.

Thiền sư Pháp Thuận để lại cho chúng ta một bài thơ, và cũng là câu trả lời về vận nước của vua Lê Đại Hành hỏi Sư :

     Quốc Tộ --- Vận nước

     Quốc tộ như đằng lạc (Vận nước như mây quấn)

     Nam thiên lý thái bình (Trời nam mở thái bình)

     Vô vi cư điện các (Vô vi trên điện các)

     Xứ xứ tức đao binh (Xứ xứ hết đao binh) .

     Vận nước như mây quấn

Ta phải giữ gìn đất nước nầy như thế quấn của dây mây. Một sợi mây tuy có dẻo dai nhưng vẫn dễ đứt, dễ gãy nếu ta biết cách bẻ. Nhiều dây mây quấn lại thành bó khó có sức mạnh nào bẻ gãy. Trăm họ hướng về vua với một lòng tôn kính, vua lấy ý nguyện của dân làm ý nguyện của mình, thương dân như thương con ruột của mình, nỗi khổ của dân cũng là nỗi khổ của mình. Tìm cách hoá giải những xung đột nội bộ rằng:

Quốc gia làm trọng, tổ quốc trên hết, quyền lợi của một cá nhân cũng như của một dòng tộc là nhỏ so với sinh mệnh mất còn của một quốc gia. Liên kết nhân tâm lại với nhau như những dây mây riêng lẻ thành một bó mây, thì không có một thế lực nào có thể xô ngã đè bẹp chúng ta. Và như vậy thì đất nước sẽ thái bình, nền độc lập dân tộc sẽ vững bền mãi mãi.
Vô vi trên điện các- xứ xứ hết đao binh
Muốn cho đất nước được yên bình, khắp nơi khắp chốn không có chiến tranh. Vua phải biết cách áp dụng phương pháp, hay là nguyên lý tu dưỡng vô vi nơi triều đình của mình.

Đây là Vô vi trong Phật giáo. Khác với Vô vi trong Đạo Lão.

Đạo Lão, Lão Tử dạy con người nên sống theo tự nhiên, thuận theo tự nhiên, không làm gì đảo lộn tự nhiên. Lão Tử chủ trương người cầm quyền trong nước nếu thực hiện được đạo lý Vô vi thì đất nước sẽ thịnh trị.

Khái niệm Vô vi trong Phật giáo dịch từ chữ asamskrta của tiếng Phạn. Trong Lục Độ Tập Kinh truyện 81 của Phật giáo định nghĩa từ Vô vi : “Cẩn thận không kiêu ngạo, là hạnh của học sĩ, bỏ lòng dơ ân ái, không lấm bụi bặm của sáu tình, không để các ái nhỏ như tóc tơ che dấu trong lòng mình thì các niệm lắng diệt, đó là Vô vi”.
Một chúng dân thực hiện hạnh Vô vi thấy đã khó. Đấng quân vương nào thực hiện được đạo lý Vô vi như lời Thiền sư Pháp Thuận nhắc nhở vua Lê Đại Hành, thì vận nước vững bền. Lời thơ
“Vô vi cư điện các” hơn một ngàn năm qua vẫn còn giá trị, và ngàn năm sau nữa chắc chắn vẫn còn giá trị”.

Thiền Sư Khuông Việt dấn thân vì Tổ quốc trên hết

Thời Bắc thuộc, có hai Thiền sư người nước ngoài đến nước ta theo truyền giáo, lập ra tông phái, dòng Thiền. Thứ nhất là Thiền sư Tì Ni Đa Lưu Chi người Nam Ấn vào nước ta năm 580 ở chùa Pháp Vân. Thứ hai là thiền sư Vô Ngôn Thông, người Trung Quốc đến nước ta năm 820 ở chùa Kiến Sơ.

Thiền sư Khuông Việt tiếp nối dòng thiền Vô Ngôn Thông ở thế hệ thứ tư.

Thiền sư Khuông Việt (933- 1011), tên thật Ngô Chân Lưu, người hương Cát Lợi, huyện Thường Lạc (nay thuộc Sóc Sơn, Hà Nội). Thiền sư Ngô Chân Lưu là vị Tăng Thống Phật Giáo đầu tiên của Phật Giáo Việt Nam. Tên gọi hồi nhỏ của Thiền sư là Ngô Xương Tỷ. Thân phụ ngài là Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập. Thiền sư là cháu nội của Ngô Quyền. Ngô Xương Tỷ “dáng mạo khội ngô tuấn tú, tính tình phóng khoáng, có chí khí cao xa”, theo học Nho, lớn lên quy y Phật, thành môn đệ thế hệ thứ tư dòng thiền Quan Bích “đọc rộng kinh điển Phật giáo, hiểu sâu yếu chí Thiền học”.

Sách Thiền uyển tập anh chép: “Năm bốn mươi tuổi, danh tiếng sư (Ngô Chân Lưu) vang đến triều đình. Vua Đinh Tiên Hoàng vời về kinh đô (Hoa Lư) hỏi chuyện. Sư đối đáp hợp ý, được vua phong chức Tăng thống”.

Tác giả Đinh Văn Viễn (Wesite Đạo Phật Ngày Nay) đặt câu hỏi và trả lời.

Nhiều tư liệu ghi Ngô Chân Lưu là con của vua Ngô Xương Ngập. Tại sao Ngô Chân Lưu không chọn con đường nuôi chí “rửa thù nhà”, giành lại giang sơn- một điều vốn đã từng có (người em họ của Ngô Chân Lưu là Ngô Nhật Khánh là một ví dụ)? Không những thế ông còn toàn tâm, toàn trí phục vụ nhà Đinh.

Tại sao các vua triều Đinh, Tiền Lê lựa chọn Phật giáo, chọn Thiền sư Khuông Việt? Và tại sao Thiền sư Khuông Việt lựa chọn, giúp Đinh Tiên Hoàng rồi sau đó lại ủng hộ việc đưa Lê Hoàn lên ngôi thay nhà Đinh, cuối đời lại bỏ nhà Tiền Lê?

Lý giải điều này có hai vấn đề: về phía các vua Đinh, Tiền Lê dùng Phật giáo để đoàn kết dân tộc, chống lại tư tưởng của nước Tàu xâm lược. Thời đó, các nhà sư là những người có học. Họ thuộc tầng lớp trí thức, có ý thức về quốc gia dân tộc, sống gần gũi với nhân dân.

Lý do chính là sau hàng nghìn năm Bắc thuộc, đất nước vừa giành được độc lập, nhiệm vụ chính có tính sống còn đặt ra đối với nhà Đinh là phải tiếp tục khẳng định được chủ quyền của một quốc gia. Một dân tộc độc lập. Một tinh thần tự chủ, tự cường nên phải Độc lập với nước Tàu về tư tưởng. Nhà Tống lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chính trị. Nước Đại Cồ Việt, Đinh Tiên Hoàng đã lựa chọn Phật giáo làm hệ tư tưởng chủ đạo. Việc Đinh Tiên Hoàng cũng như các vua Tiền Lê chọn Phật giáo, ưu ái, mời các vị cao tăng giúp cho mình, là sự lựa chọn sáng suốt, thể hiện cao độ ý chí Độc lập dân tộc.

Tại sao Đinh Tiên Hoàng rồi cả Lê Đại Hành lại lựa chọn Ngô Chân Lưu, trong khi Ngô Chân Lưu là hậu duệ của nhà Ngô?

Ngô Chân Lưu đặt quyền lợi, lợi ích dân tộc lên trên lợi ích dòng họ. Ông là một vị cao tăng đắc đạo. Ngô Chân Lưu cũng “thông Nho” nhưng không bị tư tưởng “trung quân” của Nho giáo đè nặng. Phò tá bất cứ ông vua nào. Miễn là vị vua ấy là minh quân, đem lại hạnh phúc cho nhân dân.

Hai cha con Đinh Tiên Hoàng bị ám sát, triều đình nhà Đinh rối ren, họa ngoại xâm đang đến gần, đất nước cần vị minh quân, chống ngoại xâm, Khuông Việt cùng Pháp Thuận, Phạm Cự Lương… ủng hộ, đưa Lê Hoàn lên ngôi vua.

Đến cuối đời Thiền sư Khuông Việt cáo quan về dựng chùa ở núi Du Hí. Đây không đơn thuần chỉ vì già yếu, cáo quan, về dựng chùa mà có lẽ trước cảnh triều đình Lê Long Đĩnh suy đồi nên Khuông Việt đã về dạy học, đào tạo những học trò như Đa Bảo để họ tiếp tục con đường Đạo Pháp phục vụ Dân tộc.

Thiền Sư Khuông Việt & Triết lý hành động

Trên 30 năm đại sư Khuông Việt đã phục vụ trong triều đình Đinh Tiên HoàngLê Đại Hành và đã thể hiện được tài năng nhiều mặt của mình.

Theo TT Thích Bảo Nghiêm (Website Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam). Khuông Việt theo học tại chùa Khai Quốc (Hà Nội) đã được Thiền sư Vân Phong dạy những gì. Không ai biết.

Song quan suy xét điểm học thuật của Vân Phong, nằm trong dòng chủ lưu của tư tưởng Thiền, xoay quanh những vấn đề sống/ chết. Ông đã đưa ra những kiến giải mới phù hợp với hệ tư tưởng Thiền của dòng thiền Pháp Vân. Đó là, muốn tránh khỏi sống/ chết thì hãy ở trong sống/ chết mà nắm lấy. Chính trong chỗ sống/ chết người ta mới tìm được sự không sống/ chết.

Đây phản ảnh tư tưởng "Tây Thiên cõi này, cõi này Tây Thiên" và quan điểm "Phật ở khắp mọi nơi" của Cảm Thành. Suy rộng ra, đây cũng là tư tưởng trong kinh Kim Cương mà Thanh Biện đã đề xuất. Đó là "tất cả pháp đều là Phật pháp". Xuất phát từ một học lý như thế, người ta mới có thể dễ dàng ung dung tham dự vào mọi sinh hoạt của cuộc đời. Coi sự hoàn thành việc đời, như một chứng tích cho sự hoàn thành việc Đạo.

Triết lý hành động của Khuông Việt, dựa trên nhận thức luận, coi cuộc đời là nơi mình có thể giải thoát được bằng chính nhận thức của mình. Thế giới giác ngộ cũng như hành động của Phật giáo không nằm bên ngoài cuộc đời, và con người không cần đi tìm bất cứ một thế giới nào khác. Điều này giải thích tại sao Khuông Việt đã ung dung tích cực tham gia vào việc nước, việc dân và có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp bảo vệ độc lập của tổ quốc.

Khi đã rời nhiệm vụ Tăng thống và những chính sự khác, Đại sư đã trở về mở trường ở chùa Thanh Tước núi Du Hý của quận Thường Lạc. Tại đây, "học trò tìm tới đông đảo". Khuông Việt đã không quên ngôi chùa Khai Quốc của thầy mình. Sư cũng thường lui tới giảng dạy tại trường giảng chùa Khai Quốc (chùa Trấn Quốc- Hà Nội ngày nay). Thiền sư Đa Bảo đã theo bước chân của thầy mình, là người có ảnh hưởng đến sự lên ngôi của Lý Công Uẩn.

Thời Đinh Tiên Hoàng. Thiền sư Khuông Việt đóng góp cho dân tộc nhất là lĩnh vực Văn hóa (qua tràng kinh phát hiện tại Hoa Lư vào năm 1963, 1987). Trong thời gian làm Tăng thống, “Khuông Việt ủng hộ, hướng dẫn Đinh Bộ Lĩnh, Nam Việt vương Đinh Liễn và cả gia đình, cũng như triều đình tu theo Phật giáo, lấy Đức trị dân, hướng dẫn chính pháp, theo đạo đức, nhân bản và hộ trì Phật pháp. Nhất là ủng hộ Đinh Liễn khắc các tràng kinh”.

Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị sát hại. Vua Đinh Toàn nhỏ tuổi, họa ngoại xâm đến gần, Khuông Việt đã giúp Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế. Thời Tiền Lê, Khuông Việt càng được tin cẩn, mọi việc quốc gia đại sự, sư đều được tham dự, bàn luận. Thiền uyển tập anh chép: “Dưới triều vua Lê Đại Hành, sư (Ngô Chân Lưu) đặc biệt được vua kính trọng, phàm việc quân quốc triều đình, sư đều được tham dự”.

Vua Lê Đại Hành đánh giặc bằng Tâm linh

Năm 981. Quân Tống tràn sang xâm lược. Lê Đại Hành chỉ đạo Thiền sư Khuông Việt lập đàn cầu đảo ở chùa Vệ Linh (chùa Sóc ở Sóc Sơn, Hà Nội) nhằm động viên sĩ khí quân dân đánh giặc.

Thiền uyển tập anh chép: “Năm Thiên Phúc thứ nhất(981), quân Tống sang xâm lược nước ta. Trước đó, vua đã biết chuyện này, bèn sai sư (Khuông Việt) đến cầu đảo xin thần phù hộ. Quân giặc kinh sợ lui về giữ sông Hữu Ninh. Đến đây, bọn chúng lại thấy gió nổi lên ùn ùn, giao long nhảy tung lên mặt nước, quân giặc sợ hãi tan chạy”.

Bài từ Ngọc Lang Quy của Thiền sư Khuông Việt

Năm 983. Sứ nhà Tống sang giao hảo với Đại Cồ Việt. Trong nhiều năm sau, những cuộc thăm giữa Đại Cồ Việt và Tống diễn ra thường xuyên. Lê Đại Hành đã giao cho các vị sư, trong đó có Khuông Việt trọng trách ngoại giao. Vừa giữ Hòa bình cho đất nước vừa thể hiện tinh thần Độc lập- Tự chủ.

Bài từ Ngọc lang quy của Thiền sư Khuông Việt đã tác động mạnh mẽ tâm lý, khiến Lý Giác vừa trân trọng vừa cảm phục tài năng người dân Đại Cồ Việt.

Tác giả Thích Nhật Từ (Wesite Đạo Phật Ngày Nay) viết:

Tài năng của Quốc sư thường được thể hiện rõ nét về “văn”, nói theo Phật giáo là “trí tài” hơn là “võ tài”, cụ thể qua nghệ thuật cố vấn về phép quản trị và phát triển quốc gia, chính sách ngoại giao với nhà Tống và các tác phẩm bao gồm thi phú.

Là vị Tăng thống đầu tiên ở tuổi 40 thời vua Đinh Tiên Hoàng và người đóng góp lớn cho Văn học, Văn hóa và lịch sử của Đại Cồ Việt (968- 1054). Sống qua bốn triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê và Lý, Thiền Ngô Chân Lưu được phong hiệu Khuông Việt và ông là một nhà Văn hóa lớn.

Qua Thiền uyển tập anh ngữ lục và Đại Việt sử ký toàn thư ta biết đến ít nhất hai tác phẩm nổi tiếng còn lại của Thiền sư Khuông Việt là bài Tống Lý Giác từ, thường gọi là Ngọc lang quy hoặc Vương lang quy trong dị bản về sau. Và bài thơ thị tịch được Thiền sư ứng khẩu, dạy đệ tử nối pháp là Đa Bảo vào năm Thuận Thiên thứ 2 (1011) thuộc triều Lý, trước lúc trút bỏ sắc thân.

Ngọc lang quy tiễn sứ thần nhà Tống

Các nhà nghiên cứu Phật học và Văn hóa khẳng định Ngọc lang quy là bài từ viết bằng chữ Hán cố nhất trong nền Văn học Việt Nam được biết đến hiện nay.

Sứ thần Lý Giác, nhà Tống sang làm việc với Đại Cồ Việt. Lê Đại Hành biết tài văn chương thi phú của Khuông Việt, đã nhờ Thiền sư giả mặc thường phục, đóng vai người chèo đò, nghênh tiếp tại chùa Khúc Giang, để có cơ hội đối đáp văn chương với sứ thần, nhằm dụng ý cho sứ thần biết người Việt Nam giỏi thi phú.

Lúc nghênh tiếp Lý Giác, Thiền sư đã ứng khẩu họa thi, sứ thần cảm phục. Khi tiễn Lý Giác về nước, theo chiếu của vua, Thiền sư Khuông Việt viết ca từ cho điệu khúc Nguyễn lang từ, làm đẹp lòng Lý Giác và gián tiếp thể hiện ý chí giữ Độc lập- Tự chủ của Đại Cồ Việt.

Ngọc Lang Quy

    Tường quang phong hảo cẩm phàm trương

    Thần tiên phục đế hương

    Thiên trùng vạn lý thiệp thương lương

    Cữu thiên quy lộ trường

    [Nhân] tình thảm thiết

    Đối ly trường

    Phan luyến tinh tinh lang

    Nguyện tương thâm ý vị Nam cương

    Phân minh báo ngã hoàng.

Dịch nghĩa:

Trời trong gió đẹp, gấm buồm giương/ Thần tiên về đế hương/ Muôn trùng non nước biển mênh mông/ Trời xa bao dặm đường/ Tình quyến luyến/ Chén đau lòng/ Tiễn người bao vấn vương/ Nguyện cùng thâm ý giữ biên cương/ Tấu trình lên Thượng hoàng.

Ngọc Lang Quy- Kế sách Yếu dùng Trí

Các nhà nghiên cứu khẳng định. Kế sách “yếu dùng trí” để đối lại với “mạnh dùng sức” của Thiền sư Khuông Việt, có hiệu quả. Giả dạng làm người chèo đò để làm sứ thần khâm phục tài năng của người Việt, ngụ ý rằng, một người chèo đò bình thường còn giỏi văn chương đến thế, thì tất cả mọi thần dân của Đại Cồ Việt chắc phải giỏi giang hơn. Mọi người dân trong nước giỏi văn chương, gián tiếp chứng minh cho sự vững mạnh về giáo dục của nước đó. Thông điệp thiền sư Khuông Việt ngụ ý với sứ thần nhà Tống là “Đừng nên đụng đến chủ quyền nước Việt Nam, một nước có truyền thống Văn hóa lâu đời.”

Chứng kiến tài năng đối đáp nhanh nhẹn và thông thái của người chèo đò nước Nam. Lý Giác tỏ ra trân trọng đất nước và con người Việt. Lý Giác đã làm bài thơ thất ngôn, trình bày quan điểm tôn trọng Đại Cồ Việt của mình, trong đó, câu “Ngoài trời còn có trời soi rạng” được Thiền sư Khuông Việt giải thích với vua Lê Đại Hành là “Bài thơ này có ý tôn trọng Bệ hạ không khác đế vương [nhà Tống] của ông ta.”

Bài kệ Thị tịch của Thiền sư Khuông Việt

    Mộc trung nguyên hữu hỏa

    Nguyên hỏa phục hoàn sinh

    Nhược vị mộc vô hỏa

    Toản toại hà do manh?

Dịch nghĩa:

Vốn trong cây có lửa/ Lửa ấy lại bùng lên/ Nếu bảo cây không lửa/ Cọ xát, lấy gì sinh?

Thông điệp Khuông Việt gửi lại muôn đời là Phật tại Tâm. Trong mỗi người vốn có Phật tính. Kiến tánh thành Phật. Không tìm Phật ở bên ngoài. Giống như trong cây vốn có lửa. Mỗi người đều có khả năng thành Phật.

Ngọn lửa trong cây của Khuông Việt Thiền sư, đã được Phật Hoàng Trần Nhân Tông thắp sáng thành Rừng Thiền Yên Tử với Thiền Trúc Lâm Yên Tử của Việt Nam trong bài Cư Trần Lạc Đạo:

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên/ Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền/ Trong nhà có báu thôi tìm kiếm/ Đối cảnh vô Tâm, chớ hỏi Thiền.

Phật giáo thời Ngô- Đinh- Tiền Lê đã khơi dòng mạch chảy Dân tộc và Đạo Pháp của triết lý Phật từ bi, trí tuệ, uy dũng. Dân tộc Việt Nam kết tinh tinh thần Đại hùng, Đại lực của Đạo Phật mà trường tồn nòi giống. Hóa sinh nên những kỳ nữ và anh hùng “lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa” gìn giữ và phát triển nền Văn hóa Việt từ bi, bác ái, bình đẳng của Đạo Phật. Đó là ngọn lửa Thiền truyền muôn đời. Điều này giải thích vì sao hàng ngàn năm Bắc thuộc mà người Việt không bị đồng hóa.


(… Còn tiếp ...)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 28.7.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004