Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






VĂN HỌC HẬU HIỆN ÐẠI

(Post-modernism)








Hoàn cảnh xã hội:

Cụm từ “hậu hiện đại” (Post-modernism) xuất hiện vào cuối thập niên 1960, thoạt tiên trong giới kiến trúc, sau đó phát triển sang những ngành văn học, nghệ thuật. Sự ra đời của chủ nghĩa hậu hiện đại phản ánh biến chuyển của xã hội sau đệ nhị thế chiến trở về sau. Tuy một số nhà lý luận đi tìm nguồn gốc của văn học “hậu hiện đại” trong văn chương của Joyce, Stern, thậm chí của Rabelais, nhưng thật ra, sự ra đời của chủ nghĩa “hậu hiện đại” ở vào một thời điểm không bình thường.

Chủ nghĩa hậu hiện đại là một hiện tượng văn hoá, bắt nguồn từ cơ sở xã hội và ý thức thời đại, với những biến chuyển dồn dập, đầy chuyện đảo lộn không ngừng. Sau Ðệ nhị thế chiến, khắp nơi trên thế giới diễn ra nhiều cuộc khủng hoảng: chiến tranh lạnh, đối kháng Ðông Tây, thi đua vũ trang, bóng ma của vũ khí hạt nhân, chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam, tình hình sôi động vùng Trung Ðông, chủ nghĩa quân phiệt, “chiến trường đen” (ma túy). Không khí hoài nghi, hoang mang bao trùm mọi thành phần trong xã hội.

Trong khi đó, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng, mang lại một năng suất sản xuất cao. Xã hội đi vào thời đại “hậu công nghiệp” với nền văn minh của máy tính, thời kỳ bùng nổ của thông tin, quảng cáo... Thế giới dường như thu nhỏ lại, nhưng lại chất chứa tràn đầy hàng hoá tiêu dùng và tất cả đều được thương phẩm hoá. Từ những dữ kiện nầy, tư tưởng và tình cảm con người đã nẩy sinh nhiều biến chuyển sâu sắc.

Ðó là thập niên 1970, khi thái độ “nhập cuộc” của hàng loại văn nghệ sĩ Tây Phương quay lưng lại với chính trị (trong thời kỳ Chiến tranh lạnh), để có thể sáng tác một cách bình dị, thản nhiên, đáp ứng nhu cầu thưởng ngoạn theo cách quen thuộc của quần chúng. Thời kỳ nầy đồng thời cũng là thời kỳ hậu công nghiệp trong kinh tế và xã hội. Phải chăng, kiểu suy nghĩ “hậu hiện đại” nhằm kết thúc một thế kỷ đầy chuyện nhiễu nhương đua nhau “hiện đại hoá”, và cũng là để mở đầu cho thế kỷ XXI, một thế kỷ của sự hoà hợp?

Trong suốt thập niên 1960, danh từ Postmodernism được nhiều giới nghệ sĩ (kiến trúc, hội họa, văn chương, điêu khắc, thi ca...) cũng hư những nhà phê bình nổi tiếng sử dụng để chỉ trích sự cạn kiệt và lỗi thời của chủ nghĩa hiện đại, dồng thời cũng dùng để mô tả những khuynh hướng nghệ thuật đa dạng và phong phú khác muốn vượt qua những phạm vi giới hạn và công thức của chủ nghĩa đó. Một số muốn hoà hợp với những tinh hoa của nền văn ming La Hy, một số khác thì muốn quay trở về với thiên nhiên, nhân tính, phóng khoáng, để chống lại tính chất máy móc, khô khan của chủ nghĩa hiện đại.


Quan điểm chính của chủ nghĩa hậu hiện đại

Về phương diện lý thuyết, chủ nghĩa hậu hiện đại phủ nhận những giả định căn bản của chủ nghĩa hiện đại trước đó, mà 2 yếu tố đã thủ vai trò chủ đạo cho mọi nền tảng triết lý của nó: Tri thức khách quan (Objective Knowledge) và Sự thật Tuyệt đối (Absolute Truth), mà lớp nghệ sĩ trước thường tôn sùng và đặt lê hàng đầu trong mọi suy nghĩ sáng tạo của mình.

Những nhà chủ thuyết hậu hiện đại còn đi xa hơn. Họ nhấn mạnh đến phạm vi chính trị (thực dân và đế quốc, chủ nghĩa bành trướng và chế độc độc tài) ăn sâu vào sinh hoạt tinh thần. Theo Huyssen thì: Sự suy thoái và lỗi thời của chủ nghĩa hiện đại là áp đặt quan điểm (chính trị) của họ lên những nền văn hoá khác, bằng vũ lực, bằng xâm lăng và bằng đô hộ. Chủ nghĩa nầy chỉ phục vụ cho giai cấp quyền thế. Giai cấp quý tộc cầm quyền. Những loạt những nhà chọc trời đã nói lên những gì không ngoài cách tha hoá cuộc sống, bằng quyền lực, tiền bạc, cạnh tranh, độc quyền thị trường. Thành thử, nguyên tắc cơ bản là giải toả mọi áp lực, để đem lại nền nhân bản đích thực cho con người.

Phản ứng của giới nghệ thuật là chống lại sự suy sụp tinh thần của con người trước sự tác động mạnh mẽ của xã hội gây nên. Chủ nghĩa “hậu hiện đại” phát sinh trong trường hơp ấy.

Khác với chủ nghĩa hiện đại xuất hiện trong giai đoạn cuối cùng của thời kỳ hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại xuất hiện gần như đồng thời với thời kỳ hậu hiện đại (postmodernity) và có thể xem như hình ảnh đối xứng với chủ nghĩa hiện đại, theo khía cạnh thời gian.

Nhà phê bình V.I. Inozemsew thuộc trường phái hậu hiện đại của Nga đã viết: “Không thể không nhận ra rằng: Lý thuyết cơ bản của chủ nghĩa Hậu hiện đại vốn dựa vào một cơ sở tinh thần và lý luận rộng lớn hơn bất cứ quan niệm xã hội nào vớn có từ trước đó. Ðó là xu thế của văn hoá thế kỷ XXI. Vì muốn vượt qua chủ trương Hiên đại, cho nên chủ nghĩa nầy muốn thoát ly ảnh hưởng nặng nề của hệ thống đại công nghiệp, để trở về với nhân cách con người” .

Theo Hassan, danh từ “Postmodernism” được Federico do Onis đưa vào văn bản lần đầu tiên vào thập niên 1930, để chỉ sự ảnh hưởng đối kháng với chủ nghĩa hiện đại. Danh từ nầy được sử dụng phổ biến vào thập niên 1960, theo sau sự xuất bản hai cuốn sách phê bình về mỹ thuật kiến trúc: The Death and Life of Great American Cities của Jane Jacobs vào năm 1961 và cuốn Complexity and Contradiction in Archtecture của Robert Venturi vào năm 1966. Trong khi Jacobs phê bình những quá trình hiện đại hoá đô thị đã làm mất đi tính mỹ thuật về kết cấu tổng thể của thành phố, Venturi phê bình lối kiến trúc đơn điệu cộc lốc của các cao ốc mang nặng tính thực dụng của diện tích mặt bằng, mà lại bỏ quên tính đa dạng, sự hài hoà giữa lịch sử cổ điển và văn minh đương đại.

Ðến năm 1971, những khối nhà cao tầng được xây dựng từ những năm 50 tại thành phố St Louis, Missouri bị giật sập, kéo theo sự phá hủy các cao ốc có lối kiến trúc tương tự tại các thành phố khác của Hoa Kỳ, Canada và Âu Châu trong những năm tiếp theo đó. Như thế năm 1972 trở thành cột mốc thời gian cho sự ra đời của chủ nghĩa hậu hiện đại.

Trong suốt thập niên 60, danh từ “Postmodernism” được nhiều giới nghệ sĩ, nhà văn và nhà phê bình như Rauschenberg, Cage, Burroughs, Barthelme, Fielder, Hassan và Sontag sử dụng để chỉ trích sự cạn kiệt của chủ nghiã hiện đại và để mô tả những khuynh hướng nghệ thuật muốn vượt qua những phạm vi giới hạn của chủ nghĩa đó. Khuynh hướng hậu hiện đại từng bước dã tạo nên những ảnh hưởng rộng lớn hơn, lôi cuốn sự bàn luận và chú ý của giới trí thức đại học như Bell, Kristeva, Lyotard, Vattimo, Derrida, Foucault, Harbemas, Baudrillaeđ và Jameson.

Phân chia giai đoạn:

Theo Frederic Jameson, chủ nghĩa hậu hiện đại cũng như chủ nghĩa hiện đại, là những cơ cấu văn hoá, xã hội tương ứng với những giai đọan nhất định của Tây Phương. Jameson đã phân chia văn hoá Tây Phương ra làm 3 giai đoạn phát triển căn bản gắn liền với những hình thái văn hoá đặc thù, để từ đó, các ngành Kiến trúc, điêu khắc, hội họa, về nghệ thuật và văn chương được hình thành một cách tương ứng:

Giai đoạn thứ nhất hay chủ nghĩ tư bản thị trường xẩy ra từ nửa đầu thế kỷ 18 kéo dài cho đến cuối thế kỷ 19 tại Tây Âu. Anh Quốc và Hoa Kỳ cùng các nước chịu ảnh hưởng. Giai đoạn nầy gắn liền với sự phát triển kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản, ví dụ như động cơ nước và về mỹ học là sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực (Realism).

Giai đoạn thứ hai hay chủ nghĩa tư bản độc quyền, bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 cho đến khi Âu Châu hoàn tất chương trình tái thiết thời hậu chiến (vào khoảng thập niên 1950). Giai đoạn nầy tương ứng với sự ra đời của động cơ đốt trong và động cơ điện về kỹ thuật; còn về mỹ học là sự hình thành chủ nghĩa hiện đại (Modernism)

Giai đoạn thứ ba tức thời kỳ d3ương đại chúng ta đang sống, là chủ nghĩa tư bản đa quốc gia mang nặng yếu tố mở rộng thị trường, buôn bán và tiêu thụ sản phẩm. Về kỹ thuật tương ứng với sự ra đời năng lượng hạt nhân và kỹ thuật điện tử. về mỹ học là sự hình thành của chủ nghĩa hậu hiện đại (Postmodernism)

Kiến trúc: Khi đánh giá lại những công trình của chủ nghĩa hiện đại, họ cảm thấy nghệ thuật kiến trúc đi dần vào ngõ cụt, nhàm chán, đâu đâu cũng chỉ thấy một kiểu nhà giập khuôn nhau, đồng nhất và xa lạ với con người, đâu đâư cũng thấy những cao ốc, những “quần thể” đơn điệu và lạnh lẽo, tẻ nhạt. Thành thử, họ nhận thấy ra rằng: cần phải tại một khuynh hướng mới, đa dạng hơn và gần với con người hơn, và quan trọng nhất là phải được hoà hợp với môi trường thiên nhiên bao quanh.

Một số kiến trúc sư Hoa Kỳ và Italia đề ra việc quay trở lại với kiểu kiến trúc “chiết trung”, khai thác và hoà trộn các cách thể hiện của mọi thời đại. Có thể nhận thức rõ nền kiến trúc hậu hiện đại qua những công trình xây dựng điện hình như sau: Tại Barcelone (Italia) Ricardo Bofill đề ra các nguyên tắc trong tác phẩm “Taller de Arquitectura”, và sau đó thể hiện một loạt công trình tại Allicante và Barcelone (1969-1975). Tại Hoa Kỳ, kiến trúc sư Johnson vẽ thiết kế toà nhà “A T & T” (1979) và Venturi thiết kế “Barco Show Rơm” tại Pasadena (California). Sau đó, họ đã tập trung những nhà kiến trúc thuộc trường phái nầy thành nhóm “Transavanrdia” (Siêu Tiền phong)...

Toà cao ốc “A T & T” của Johnson là một toà cao ốc “chọc trời”, nhưng trên cùng lại mang hình dạng một ngôi nhà thờ nhỏ cổ xưa của miền Florence, mặt trước của nó lại theo kiểu tân cổ điển (néo-classique). Hay là toà nhà Piazza d’Italia của Mơre tại thành phố New Orléans (Hoa Kỳ) kết hợp hàng cột kiểu cổ đại Hy Lạp bằng thép mạ crôm, với những đường viền trên các cửa lắp đèn néon. Ðiều căn bản là phương thức hoà hợp nầy cần phải thuận chiều, hợp lý và đầy tính chất nghệ thuật.

Hội họa cũng hướng về tư tưởng hậu hiện đại khá phong phú. Nổi bật nhất là những thành viên của nhóm “Hội Họa Tự Do” tổ chức cuộc triển lãm “Chấm dứt cái đẹp” tại Paris (1981). Trong hội họa, chủ nghĩa nầy quay trở về lối hình họa. Trong văn học, người ta quay lại cách kể chuyện có đầu, có đuôi.

Văn học: Sôi nổi nhất là các nhà phê bình văn học, với John Barth, (Văn học của sự rã rời) J. F. Lyotard, (Ðiều kiện hậu hiện đại) Umberto Eco, Renau Camus, (Tiểu thuyết làm Vua); H. Bertens, Théo D’haen (Chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học). Thoạt đầu là một số nhà phê bình và ký hiệu học Hoa Kỳ (John Barth) Italia (Gianni Vattimo và Umberto Eco) hưởng ứng và được J.F. Lyotard đưa vào cho nó một ý nghĩa triết học trong cuốn “Ðiều kiện hậu hiện đại”. Cụ thể là: Chấm dứt một giai đoạn lịch sử văn học (hiện đại), và đây là giai đoạn mà nhân loại đi tìm một hình thái văn học hoàn mỹ hơn cho cuộc sống.

Những tiểu thuyết của Michel Tournier ở Pháp hay Umbarto Eco ở Italia chính là những tác phẩm văn học tiêu biểu cho khuyh hướng nầy.

Theo họ, chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn hoá nghệ thuật là “Bản khai tử” cho mọi trào lưu tiền phong, là sự phủ nhận quá khứ, các trào lưu đang đi vào ngõ cụt, để xây dựng một xã hội mới hoàn hảo hơn. Cần phải trở lại nghệ thuật bình thường, đem lại khoái cảm cho quần chúng, bẳng cách khôi phục lại một số hình thức quen thuộc với họ từ thời quá khứ. Chủ nghĩa hiện đại đã chết.

Chủ nghiã hậu hiện đại với tính chất là một khuynh hướng của phê bình văn học hiện đại, dựa vào lý luận và thực tiễn của “chủ nghĩa hậu cấu trúc” và “giải cấu trúc”, có mục đích khám phá văn bản nghệ thuật, một tổng thể thế giới quan nhất định. Như vậy, chủ nghĩa hậu hiện đại tổng hợp lý luận của chủ nghĩa hậu cấu trúc, thực tiễn phê bình văn học của chủ nghĩa giải cấu trúc và thực tiễn sáng tác nghệ thuật đương đại.

Những nhà lý luận nổi tiếng của chủ nghĩa hậu hiện đại phải kể đến: J. F. Lyotard ở Pháp, I. Hassan và F. Jameson ở Hoa Kỳ, D.V. Fokkema và T D’haen ở Hà Lan, Ch. Butler và D. Lodge ở Anh...


Những luận điểm chính

Những nhà phê bình và sáng tác của chủ nghĩa Hậu hiện đại kể trên đều thống nhất quan điểm của mình qua những điểm chính sau đây:

Thứ nhất: Nội dung của chủ nghiã Hậu hiện đại, dù ở Tây Phương hay Ðông Phương là: Lý giải bổ sung về thực tại xã hội hiện thời vốn đang trên đà suy thoái; phải đa dạng hoá cuộc sống, tránh sự đơn điệu, cơ giới, thoát ly hẳn cơ cấu công nghiệp đang đè nặng lên lối sống của con người. Chủ nghĩa Hậu hiện đại nhắm vào đám đông của xã hội, chứ không phục vụ cho một thiểu số có quyền thế, có địa vị và muốn chiếm ngự mọi sinh họat của xã hội nầy. Phải thay thế cái “tôi”, để nhắm vào cái “chúng ta”. Câu nói trứ danh của A. Touraine lả “Je n’est pas Moi” được xem là chuẩn xác nhất trong chủ nghĩa Hậu hiện đại.

Thứ hai: Trong cuộc sống của con người hiện nay, các nhà hậu hiện đại chủ trương: Về mặt kinh tế và xã hội, cần phải đi tìm những con đường phi truyền thống, để lý giải vai trò của các hiện tượng kinh tế trong đời sống xã hội hiện nay. Ðiềù nầy có nghĩa: Phải coi sản xuất không chỉ là sản xuất ra của cải và tiện nghi, mà còn sản xuất ra cá nhân đầy tính sáng tạo. Ðiều nầy đòi hỏi: phải đưa vào quá trình nầy tất cả các phương tiện cần thiết của đời sống của mọi tầng lớp con người trong xã hội.

Thứ ba: Không thể không thừa nhận thấy vai trò của các nhà hậu hiện đại trong việc miêu tả xã hội đang hình thành với tư cách là một thiết chế xã hội theo kiểu “hậu thị trường”. Về kinh tế thị trường, vấn đề căn bản là phải khảo sát hành vi tiêu dùng của đại chúng như một hiện tượng xã hội cần thiết.

Tiện nghi xã hội phải phù hợp với cuộc sống thực tại, chứ không phải đẩy mọi người vào con đường tham muốn, ganh đua, để phung phí tiền bạc và ngự trị con người. Nhà lý luận hậu hiện đại Baudrillard đã mô tả nền sản xuất ngày nay là “sản xuất bừa bãi, không có một điểm tựa nào cả” cho nhân sinh quan đích thực của con người trong từng xã hội.

Hậu quả của chủ mưu các nhà sản xuất đại công nghiệp là ràng buộc con người phải đua đòi, giành giật, bon chen, trong khi cuộc sống đòi hỏi những phương thức tổ chức cân bằng trong nghề nghiệp và tiêu thụ.



. Cập nhật theo nguyên bản chuyển từ HoaKỳ ngày 28.7.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004