Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






ĐẠO PHẬT KHÔNG PHẢI LÀ MỘT TÔN GIÁO MÀ CHỈ LÀ MỘT PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC

(Công trình nghiên cứu của Tâm Nguyện)








LÝ TRUNG ĐẠO:

Chính vì con người thấy các Pháp là thật CÓ, nên mê đắm, ham thích, rồi tranh giành với nhau làm cho cuộc sống bất an. Để gỡ họ ra khỏi cái CHẤP CÓ, Đạo Phật đưa ra nguồn gốc của các Pháp. Nói rằng gốc của nó là KHÔNG. Cuối cùng rồi nó sẽ trở về KHÔNG, để con người bỏ đi cái CHẤP CÓ. Sau khi họ bỏ được cái CHẤP CÓ thì lại quay sang CHẤP KHÔNG thì Đạo Phật hướng dẫn thêm bước nữa là: Các Pháp “KHÔNG PHẢI CÓ, KHÔNG PHẢI KHÔNG”. Thật vậy. Nói rằng CÁC PHÁP LÀ KHÔNG thì rõ ràng là thiếu thực tế, mà cho rằng các Pháp là CÓ cũng không đúng. Vì nói rằng CÓ sao không còn mãi? Nói rằng KHÔNG thì cái gì đang hiện diện? Do đó, cần phải hiểu cho đúng rằng, các pháp thật ra KHÔNG PHẢI CÓ, KHÔNG PHẢI KHÔNG, mà đang TẠM CÓ. Sự hiểu biết này gọi là LÝ TRUNG ĐẠO. Người có sự hiểu biết như vậy sẽ có được cuộc sống an ổn. Sống trong cái CÓ mà như KHÔNG. Ý thức cuộc sống này có giới hạn, nên dùng của đời một cách vừa phải để cho cái Thân được tồn tại mà tu hành. Do thấy các pháp, vật chất chỉ là phù du, nên không tranh giành, nhờ thế, không những bản thân mình được an lành, mà môi trường, hoàn cảnh chung quanh cũng bớt hỗn loạn. Hơn nữa, nhờ không Tạo Nghiệp, nên mai kia có mất đi rồi tái sinh cũng sẽ về nơi tốt đẹp. Đó là kết quả mà Đạo Phật hướng dẫn và bảo đảm cho người tu.



THẾ NÀO LÀ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC?

LÀM THẾ NÀO ĐỂ VỀ ĐÓ?

Đức Thích Ca biết rằng con người vốn Tham Lam, họ chỉ bỏ cái đang ôm giữ khi thấy rằng sẽ được cái khác còn nhiều hơn, tốt đẹp hơn. Người đời vốn vì DANH, vì Lợi, vì bạc, vàng, châu báu mà sẵn sàng giết nhau để tranh đoạt. Anh em tàn sát lẫn nhau. Người này hại người khác. Nước nọ đánh chiếm nước kia cũng để tranh giành đất đai, tài nguyên. Nếu cuộc sống cứ diễn ra như thế thì kiếp sống ngắn ngủi của con người sẽ trở thành đau khổ, bất ổn. Dân tình điêu linh, thống khổ mà những nước gặp họa chiến tranh đều phải chịu đựng. Vợ xa chồng, con xa cha. Chiến tranh cướp đi những người trẻ còn tràn đầy sức sống, đổi lại là nước mắt, là tang tóc trùm phủ gia đình của biết bao nhiêu con người, hệ quả còn kéo dài đến nhiều thế hệ sau đó. Do vậy mà Đức Thích Ca một mặt dùng Giới, dùng Bát Chánh Đạo để giữ gìn con người trong đường Thiện. Lúc nào cũng giữ gìn Thân, Khẩu, Ý cho thanh tịnh, không Khởi những tà tâm. Mặt khác, tả TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC của Phật A Di Đà, trong đó toàn là châu báu. Từ hàng rào, bao lơn, vườn cây, đường đi, ao nước, dây giăng toàn làm bằng những thứ mà mọi người ham thích để rồi phát tâm muốn về đó. Tất nhiên muốn đến đó phải đáp ứng một số điều kiện, sau đó Ngài từ từ đưa vào chánh đạo. Nhưng nhiều người đã không hiểu được điều đó. Vừa mới nghe nói Tây Phương Cực Lạc đã bỏ hết việc đời, chỉ chuyên tâm Tụng Kinh, Niệm Phật để cầu mong được về đó! Dù vậy, nếu họ không tạo ác nghiệp thì cũng sẽ có được cái an lạc, thanh thản trong Tâm.

Gọi là PHẬT A DI ĐÀ, tưởng như có một VỊ PHẬT cao quý, hào quang sáng chói, chủ trì TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC. Nhưng Kinh KiM CANG giải thích:

Xá Lợi Phất, nơi ý ông nghĩ sao? Đức Phật đó vì sao hiệu là A DI ĐÀ? Xá Lợi Phất! Đức Phật đó hào quang sáng chói vô lượng, soi suốt các cõi nước trong mười phương không bị ngăn ngại, vì thế nên hiệu là A DI ĐÀ”. Cõi nước mà 10 phương được soi suốt” có nghĩa là không còn 10 điều ác chiếm ngụ. Do vậy, nếu Tâm của ta đã sạch được 10 điều Ác, được thanh tịnh, an lạc là trong đó đã hình thành Đức A Di Đà và Cõi Tây Phương Cực Lạc.

Lục Tổ Huệ Năng cũng giải thích về vị trí cũng như cách về TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC trong Pháp Bảo Đàn Kinh, như sau: “Thế Tôn lúc ở Thành Xá Vệ, nói Kinh về chỗ tiếp dẫn hóa độ vào cõi Tây Phương. Nếu luận về hình tướng và số dặm thì có mười muôn tám ngàn dặm. Đó là nói về Thập Ác và Tám Điều Tà trong Thân. Trừ Thập Ác là đi tới mười muôn dặm. Dứt Bát Tà là qua khỏi tám ngàn dặm”.

Để đến được Tây Phương Cực Lạc, Lục Tổ dạy: “Thường làm mười điều Thiện thì Thiên Đường liền đến. Dứt lòng tà vạy thì núi Tu Di sập ngay. Bỏ lòng tà vạy thì nước biển khô cạn. Trừ lòng phiền não thì sóng biển lặng êm. Quên lòng độc hại thì rồng dữ ắt tuyệt. Tu được như thế thì các Giác Tánh Như Lai ở trong tâm địa mình phóng đại quang minh. Ngoài soi Sáu Cửa trong sạch, có thể phá được trời Lục Dục Thiên. Lại soi trong Tánh mình làm cho Ba Độc đều dứt, cả thảy tội Địa Ngục đồng tiêu một lần. Trong ngoài sáng thấu, chẳng khác gì cõi Tây Phương. Nếu chẳng tu các hạnh ấy thì thể nào đến cõi Tây Phương được”.

Vậy thì với 7 MÓN BÁU như Vàng bạc, pha lê, ngọc ngà châu báu được trang hoàng ở Tây Phương Cực Lạc phải hiểu như thế nào?

Cõi trời nếu có thì cũng là thanh khí, đâu thể là một thiên hà có bề mặt vững chắc như trái đất các vì sao để chứa đựng các báu vật có hình tướng như ngọc ngà, châu báu? Vì vậy, đó chỉ là hình ảnh mà Đức Thích Ca dùng để tượng trưng cho điều ta ôm giữ trân quý mà thôi.

Phải chăng khi ta quý một thứ gì đó thì ta đeo mang, ôm ấp, không rời? Có những thứ mà con người ôm ấp, đeo mang từ vô lượng kiếp không thể xa rời là: BA NGHIỆP của cái THÂN là THAM, SÂN, SI và BỐN NGHIỆP CỦA KHẨU là NÓI LÁO, NÓI LƯỠI ĐÔI CHIỀU NÓI ĐỂ KHEN MÌNH, NÓI CHÊ NGƯỜI. Bốn việc này cộng với 3 NGHIỆP của cái THÂN thành BẢY. Do ôm giữ nhiều đời không thể bỏ, nên Phật gọi là BÁU. Cho nên, người tin rằng PHẬT A DI ĐÀ, TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC và BẢY MÓN BÁU là thật có, ở một xứ sở xa tít nào đó trên thiên hà thì ta có thể chắc chắn rằng họ đã bê nguyên NGỮ để hiểu. Như vậy sẽ còn cách Đạo Phật rất xa.


CÚNG DƯỜNG PHẬT hay ĐỘ SINH

Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA viết: “Nàng Long Nữ, nhờ CÚNG DƯỜNG CHO PHẬT viên châu có giá trị liên thành mà THÀNH PHẬT”, và nhiều Kinh cũng viết: “Bồ Tát cúng Dường nợ con, kiệu cáng, nhà cửa, dinh thự, đền đài, quốc thành, thê tử, chuỗi trân châu”. Như vậy phải hiểu như thế nào? Tại sao Cúng Phật mà Phật nhận xong lập tức Thành Phật? Có phải Phật nhận hối lộ chăng?

Đây là chỗ hiểu lầm của bá tánh từ bao đời. Do đó, có những người quá Tin Phật nên bị mất tài sản, tiền bạc, nhà cửa một cách oan uổng. Xin được giải thích rõ như sau:

Trước hết, muốn CÚNG DƯỜNG PHẬT, thì phải hiểu thế nào là PHẬT.

Phật không phải là Đức Thích Ca, A Di Đà hay Quán Thế Âm, mà là tánh Giải Thoát hay là kết quả Giải Thoát nơi người tu. Phật Thích Ca là Tánh Giải Thoát hay là danh hiệu của Thái Tử Sĩ Đạt Ta khi Ngài hành xong công việc Giải Thoát cho bản thân. Các vị Phật khác là do Ngài đặt tên, để nói về những công việc mà người tu phải hành trì. Thí dụ Quán Thế Âm có nghĩa là lắng nghe âm thanh của thế gian, tức là theo dõi, lắng nghe những cái Khởi nơi Tâm của chính mình, không để cho nó nghĩ Ác, nói chi là Hành Ác. Mỗi người tu cần làm hạnh Quán Thế Âm để cứu độ cho chúng sinh của mình. Chúng ta nên nhớ rằng Đạo Phật dạy TỰ ĐỘ, không có nói ĐỘ THA. Vì vậy, người tin rằng có Đức Quán Thế Âm Bồ Tát linh hiển để cầu xin Độ cho ta thì đó là THA ĐỘ, là ngược với đường lối Đạo Phật chân chính.

Về CÚNG DƯỜNG thì chúng ta nên nhớ rằng Đức Thích Ca đã nhập Niết Bàn từ mấy ngàn năm qua, có muốn Cúng cho Ngài thì làm sao gặp được để cúng? TƯỢNG PHẬT chỉ là hình ảnh tượng trưng cho PHẬT, đâu có phải là CHÂN PHẬT? Nếu ta CÚNG CHO TƯỢNG thì đâu có thể gọi đó là CÚNG CHO PHẬT? Kinh lại dạy: Mỗi người phải “Cúng Dường Vô Lượng Vô Số Ức Các Đức Phật” ta sẽ cúng như thế nào? Không lẽ phải tạc vô số Tượng để Cúng? Còn nếu Cúng cho một vị Phật hiện đời nào đó, thì nhiều kiếp mới có một vị xuất hiện, không lẽ ta sẽ phải mất vô lượng kiếp để Cúng, trong khi nói rằng “Mê nhất kiếp, Ngộ nhất thời”? “Sông Mê quay đầu là Bờ”? Rồi ta nghĩ sao về việc CÚNG DƯỜNG mà thành Phật? Chẳng lẽ mang tiền bạc, tài vật, nhà cửa hiến cho Phật rồi Thành Phật? Nghĩ như thế khác nào là bôi bác Đạo Phật, cho rằng Phật nhận hối lộ để cho thành Phật? Người nào mang tư tưởng này chính là “Báng Phật, nhạo Pháp” vậy.

Lục Tổ Huệ Năng dạy: “Đạo nào do thí bạc mà thành”?! Nếu ta mang tiền bạc, tài sản, cúng cho Chùa nào hay một vị nào đó, thì cũng là vị đó nhận, đâu phải là Phật nhận mà gọi là Cúng Dường cho Phật? Hơn nữa, ta cũng nên sáng suốt mà xét, Phật đã nhập diệt gần 3.000 năm rồi. Người nhận muốn chuyển cho Phật thì chuyển cách nào? Ai có thể xuyên thời gian, không gian để gặp Phật để trao lại được?

Nghĩa đúng của CÚNG DƯỜNG PHẬT được hiểu như sau:

PHẬT tượng trưng cho GIẢI THOÁT. CÚNG DƯỜNG CHO PHẬT có nghĩa là XẢ CHẤP để được giải thoát. Cúng Viên Châu có giá trị liên thành là XẢ cái VỌNG TÂM chứa đầy THAM, SÂN, SI. Xả nó đi thì được Giải Thoát, gọi là Cúng cho Phật, hay là “Cúng cho Phật thì sẽ thành Phật”.

Vợ con, nhà cửa, dinh thự, đền đài…” nói về những thứ ta yêu quý nhất, ôm ấp, đeo mang, trú ngụ trong đó, không rời xa. Kinh viết rất rõ: “Phật là vô tướng, do vô lượng công đức mà thành”, đâu phải là một nhân vật có thật để có tay mà nhận, có một giang sơn để chứa những phẩm vật do bá tánh dâng cúng? Nếu Phật xúi mọi người Cúng những thứ đó để mình nhận thì chứng tỏ Ngài còn Tham hơn bá tánh, và Lý một đàng mà hành một nẻo. Chính những người “Y KINH GIẢI NGHĨA” đã làm oan cho Ba Đời Phật!

Chính vì vậy mà Mã Tổ Bách Trượng, dù cai quản cả một Thiền Viện đã “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”. Tổ Quy Sơn cũng nói về “Con Trâu dưới núi”, hay Kinh Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên nói về năm tên Phiến Đề La, phải chịu khổ sai để trả nợ cho thí chủ kiếp trước. Kinh VỊ TẰNG HỮU THUYẾT NHÂN DUYÊN viết: “Thà cắt thịt mình dùng để nuôi miệng. Không dùng tâm tà thọ của cúng thí. Khó lắm! Khó lắm! Cẩn thận. Cẩn thận!”.


Thế nào là ĐỘ CHÚNG SINH?

Muốn Thành Phật thì phải ĐỘ SINH. Muốn Độ Chúng Sinh phải biết CHÚNG SINH là gì? Ở đâu? Lục Tổ giải thích:

Chư Thiện Tri Thức! Chúng Sinh trong Tâm mình là: lòng tà mê, lòng giả dối, lòng bất thiện, lòng ganh ghét, lòng ác độc. Các tâm này đều gọi chung là Chúng Sinh”. Bồ Tát không phải là nhân vật có thật, mà chỉ nói về công việc giải thích cho chúng sinh hiểu mà chịu quay về nẻo Chánh, cải Ác, hành Thiện mà thôi.

Đức Thích Ca ngày xưa gọi tư tưởng chưa thanh tịnh là Chúng Sinh. Vì vậy, khi một tư tưởng đã chịu khuất phục, bỏ đi cái ác, được an ổn, thanh tịnh thì gọi là “cứu độ được một Chúng Sinh”, hay là “Độ cho Chúng Sinh đó Thành Phật”. Đó là ý nghĩa của “CÚNG DƯỜNG MỘT VỊ PHẬT”. Mỗi ngày, khi đối pháp, chúng ta Khởi lên biết bao nhiêu là Chúng Sinh. Người tu phải “Độ” cho nó được an ổn. Vì vậy, một đời tu hành người tu sẽ “CÚNG DƯỜNG VÔ LƯỢNG VÔ SỐ ỨC ĐỨC PHẬT” trong nghĩa đó.

Tư tưởng là do chính mỗi người sinh ra. Người tu hành làm công việc Độ Sinh được gọi là Bồ Tát. Do đó, Chúng Sinh là tư tưởng của mỗi người sinh ra nên cũng chính là “Quyến Thuộc” của Bồ Tát. Vì đi đến cõi nào thì chúng cũng theo ta không rời. Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA tả: Bồ Tát “đem theo mấy muôn quyến thuộc”. Hay “Đời vị lai, Bồ Tát sẽ Cúng Dường Ba Trăm Sáu mươi Ức Đức Phật, rốt sau sẽ Thành Phật”. Có nghĩa là khi người tu hành Hạnh Bồ Tát, Độ hết Chúng Sinh thì sẽ được giải Thoát. Câu này cùng nghĩa với lời Nguyện của Địa Tạng Vương Bồ Tát: “Ngày nào còn một chúng sinh chưa được Độ, con thề không ngồi vào nơi Vô Thượng Chánh Giác”. Tất nhiên, còn Chúng Sinh là còn phiền não, thì cái Tâm đâu có thanh tịnh, an lạc được. Mà đã không thanh tịnh, an lạc chứng tỏ là chưa “ĐỘ TẬN CHÚNG SINH” thì chắc chắn không thể gọi là Thành Phật được.

Nhưng nhiều thời rồi, thậm chí đến thời này mà nhiều người còn tưởng Chúng Sinh là những con người ở bên ngoài người tu, nên tưởng rằng đi tu là để “Cứu độ” cho mọi người! Hoặc cho rằng tất cả mọi người là Chúng Sinh của Phật. Sự thật, theo Chánh Pháp diễn giải thì Chúng Sinh chỉ là những tư tưởng của mỗi chúng ta hàng ngày cứ “trùng trùng duyên khởi” theo Các Pháp. Có Ba loại Chúng Sinh nơi mỗi người cần phải “Độ” cho hết, là Chúng Sinh THAM, Chúng Sinh SÂN và Chúng Sinh SI. Từng sát na chúng nảy nở sinh sôi nhiều bằng con người ở một Thế Giới. Có Ba loại Chúng Sinh, nên Phật gọi là TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI. Vì thế, Kinh viết rằng PHẬT CỨU ĐỘ CHO TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI là trong nghĩa đó. Không phải là Thế Giới nào bên ngoài. Bởi nếu là Chúng Sinh ở bên ngoài, thế giới là vũ trụ bên ngoài, và phải DIỆT để độ, mà chúng ta là Chúng Sinh của Phật thì Ngài đã Diệt để Độ từ lâu rồi, và thế giới đã trở thành Niết Bàn lâu rồi, đâu còn dẫy đầy phiền não như hiện giờ?

Kinh Kim Cang viết: “Ta đã diệt độ vô lượng vô số Chúng Sinh, nhưng thật ra không có một Chúng Sinh nào bị diệt độ cả”. Vì Chúng Sinh đó chỉ là tư tưởng của Phật. Nói rằng Diệt Độ, nhưng thật ra Ngài cũng không có DIỆT ĐỂ ĐỘ, chỉ CHUYỂN HÓA chúng mà thôi. Chuyển Hóa cũng là tên gọi khác của Độ Sinh. Khi những tư tưởng xấu xa, đen tối đã bị “Diệt Độ”, trở thành thanh cao, trong sạch thì cái tâm người tu được gọi là đã “Thoát Tục”, tức là những pháp Tham, Sân, Si, Mạn v.v... không còn đeo bám, hành hạ hành giả, thì gọi là hành giả được giải thoát. Do đó, hình ảnh PHẬT NGỒI TRÊN TÒA SEN là để tượng trưng cho sự GIẢI THOÁT khỏi những nỗi KHỔ của người tu, là kết quả của những công việc làm mà mỗi người trên hành trình tu tập cố gắng bắt chước Hạnh của Phật để thực hiện trong đời sống, gọi là “tạc tượng Phật”, không phải là dùng vàng, ngọc, xi măng rồi tạc lấy mà thắp hương để thờ.

Ai có đọc Kinh Kim Cang đều thấy bài Kệ: “Nhược dĩ sắc kiến ngã. Dĩ âm thanh cầu ngã. Thị nhân hành tà đạo. Bất năng kiến Như Lai”. Tức là kẻ nào dùng hình tướng, âm thanh để cầu Ta, thì đó là kẻ hành tà đạo, không thấy được Như Lai. Bởi Như Lai là do công năng tu tập mà thành tựu, không phải do tạc tượng rồi tụng Kinh, niệm Phật cầu xin mà được gặp! Người tạc tượng rồi cầu xin rõ ràng là đang hành tà đạo mà không hay.


32 TƯỚNG TỐT VÀ 80 VẺ ĐẸP CỦA PHẬT

Sau khi hành đủ các Hạnh được hướng dẫn, Giới Định Huệ, Bát Chánh Đạo, người tu đã Thấy Tánh rồi thì phải làm công việc ĐỘ SINH, để đưa hết Chúng Sinh Thành Phật hay là hoàn toàn Giải Thoát. Nhưng đã Thành Phật rồi thì còn phải hành tiếp cho có 32 Tướng Tốt của Phật. Những Tướng này được Kinh ĐẠI PHƯƠNG TIỆN PHẬT BÁO ÂN giải thích như sau: “Mỗi một tướng tốt đều là kết quả của sự tu diệu hạnh của Bồ Tát từ lúc mới phát tâm Bồ Đề kiên cố cho đến khi được thành đạo Vô Thượng Bồ Đề”. Công việc tu diệu hạnh được mô tả bằng 32 Tướng Tốt gồm có:

1) Bàn chân bằng phẳng

2) Bàn chân có nghìn xoáy ốc

3) Ngón chân dài và nhỏ

4) Gót chân đầy đặn

5) Ngón tay có nhiều vân

6) Chân tay mềm mại

7) Bụng tròn trĩnh, đầy đặn như bụng kim sắc lộc vương

8) Mắt cá chân bằng phẳng

9) Tay dài tới đầu gối

10) Năm căn ẩn kín, như tượng mã vương

11) Mình tròn trặn, đầy đặn như cây Ni câu đà.

12) Lông trên mình đều nghiêng lên phía trên

13) Lông đều xoáy theo bên phải

14) Thân mình sắc vàng

15) Thường chiếu sáng cách thân tám thước

16) Lớp da mịn màng, không dính bụi bặm

17) Bảy chỗ đầy đặn, bằng phẳng

18) Nửa mình trên như mình sư tử

19) Cánh tay tròn lẳn

20) Xương ngực bằng phẳng

21) Thân hình vạm vỡ

22) Trong miệng có bốn mươi răng

23) Răng nhỏ khít và rất đều

24) Răng trắng như ngà

25) Hàm vuông như hàm sư tử

26) Khi ăn thấy hương vị thượng hảo

27) Đỉnh trên trán nhô lên thành tướng nhục kế

28) Lưỡi dài và rộng

29) Tiếng như tiếng Phạm Âm

30) Sắc mắt xanh biếc

31) Mắt như mắt ngưu vương

32) Khoảng giữa lông mi có một sợi lông dài và trắng.

Những TƯỚNG này không thể dùng dụng cụ mà đẽo, tạc nơi đá, gỗ, xi măng, mà bằng những HẠNH được thực hiện trong đời sống của mỗi người qua các việc làm cụ thể cho từng TƯỚNG:

Như Lai đã từng trong vô lượng A Tăng Kỳ kiếp dốc lòng tu trì tịnh giới, cho nên nay mới được cái tướng bàn chân bằng phẳng.

Nhờ sự cúng dường cha mẹ và bậc có đức, cho nên được tướng nghìn xoáy ốc dưới bàn chân.

Đối với chúng sinh không mang lòng làm hại, không có ý tưởng cướp đoạt, hễ thấy cha mẹ, những bậc có đức thì ra xa đón chào, sửa đặt tòa ngồi, cung kính lễ bái, dẹp bỏ lòng kiêu mạn, nhờ thế mà nay được tướng ngón tay dài và nhỏ. Có đủ ba hạnh kể trên nên được gót chân đầy đặn.

Nhờ dùng Tứ Nhiếp Pháp giúp đỡ chúng sinh, nên được ngón tay có nhiều vân.

Dùng các thứ dầu thơm tắm gội cho cha mẹ, sư trưởng và các bậc có đức, nhờ thế mà được tướng chân tay mềm mại.

Nhờ công tu tập các pháp lành không biết chán mỏi, nên được tướng bụng tròn trặn, đầy đặn.

Nghe pháp vui vẻ, thích nói lại cho người khác nghe, và ưa làm việc đạo, nhờ thế mà được tướng mắt cá chân bằng phẳng.

Nhờ ba nghiệp thanh tịnh, khám bệnh cho thuốc, phá trừ lòng kiêu mạn, ăn uống có chừng mực, nên được tướng tay dài bằng gối.

Thấy người ta chia rẽ, dùng lời nói cho người ta đoàn tụ với nhau; biết tự tu hổ thẹn, lại dạy người tu, nhờ thế mà được tướng năm căn ẩn kín.

Tự mình tu sạch ba nghiệp lại dạy người khác tu, nếu chúng sinh nào đau ốm thì tìm cách chạy chữa, như thế mà được tướng thân mình tròn lẳn.

Nhờ lòng vui vẻ nghe pháp, lại hay nói lại cho người khác nghe mà được tướng lông trong mình đều hướng lên phía trên.

Suy nghĩ nghĩa lý sâu xa của các pháp, ưa tu các pháp lành, cúng dường cha mẹ, sư trưởng và những bậc có đức, nếu đi dọc đường gặp pháp hoặc tăng phường đều cúng dường. Giữa đường nếu có gạch đá, gai góc hay vật bẩn thỉu thì dọn đi, nhờ thế mà được tướng lông trên mình đều xoáy về bên phải.

Nếu đem thức ăn hoặc đồ châu báu cho người thì không bao giờ sinh lòng sân hận, nhờ thế mà được hai tướng: Một là sắc vàng, hai là thường có ánh sáng lại được tướng da mịn màng, không dính bụi nhơ.

Thường giúp cho người những thứ cần dùng, nhờ thế mà được tướng bẩy chỗ đều đặn.

Tự mình dẹp bỏ tính kiêu mạn, biết điều hòa tính tình, tùy theo sở thích của mọi người, như pháp tu hành để diệt các pháp bất lành, nhờ thế mà được tướng nửa mình trên như mình sư tử, tướng cánh tay tròn lẳn và tướng xương ngực bằng phẳng, tướng ngón tay nhỏ và thân hình đầy đặn.

Nhờ không nói lưỡi hai chiều và làm cho những người tranh dành phải hòa thuận mà được tướng có 40 răng, tướng răng khít không hở kẽ, tướng rằng bằng nhau, đều đặn.

Nhờ tu các nghiệp từ bi, thiện lạc mà được tướng răng trắng như ngà. Thấy người thiếu thốn vui vẻ giúp đỡ, đón đưa, nhờ thế mà được tướng hàm vuông như hàm sư tử.

Coi hết thảy chúng sinh như con một vì thế mà được tướng ăn thức gì cũng thấy mùi vị thượng hảo.

Thường bố thí chúng sinh pháp vị vô thượng, gặp người hay quên thì cho trí nhớ, tự mình giữ Năm Giới lại dạy người cùng giữ, tu tập lòng từ, hay bố thí pháp cho mọi người, nhờ nhân duyên ấy mà được tướng nhục kế, tướng lưỡi dài rộng.

Cứ như thực mà nói pháp cho mọi người vui mừng, nói những lời êm ái, dịu dàng, không đúng thời không nói, do đó mà được tiếng Phạm Âm.

Chứa góp lòng thương, coi hết thảy chúng sinh như cha mẹ, nhờ nhân duyên ấy mà được sắc mắt xanh biếc và tướng mắt như tướng ngưu vương.

Thấy những người có đức thành thật tán thán, do đó mà được tướng bạch hào.

Kinh viết: Đó là 32 tướng, tuy có những nhân duyên khác nhau, nhưng nhân duyên chính là cái nhân “Trì Giới” và “Tinh Tiến”. Tại sao vậy? Vì nếu không chịu trì Giới và siêng tu Tinh Tiến thì đến thân người còn chẳng được làm, nói chi đến 32 tướng?

Lại nữa, phàm đã làm việc thì lòng nhất định không hối hận, nhờ thế mà được tướng bàn chân bằng phẳng.

Và khi làm việc thì dốc lòng làm, do đó mà được tướng nghìn xoáy ốc dưới bàn chân, tướng ngón tay có nhiều vân, tướng bảy chỗ bằng phẳng, tướng da mịn màng, tướng thân bằng phẳng, tướng thân thắng và tròn, tướng lưỡi dài rộng.

Thường tu các pháp thiện và dạy người khác cho nên được tướng ngón tay dài nhỏ, tướng tay chấm gối; tướng thường phát ánh sáng cách xa tám thước và tướng răng khít, không thưa hở.

Nhờ công phu tu sạch ba nghiệp nên được các tướng khác...

Lại nữa, đối với chúng sinh, sinh tâm thuần thiện, nhờ nhân duyên ấy được tướng tay chân mềm mại, da thịt mịn màng, bụi nhơ không bám.

Vì theo thứ lớp và thời tiết mà tu tập các pháp lành, cho nên được tướng thứ hai, thứ ba và thứ tư.

Ưa làm điều lành, lòng không chán nản, nhờ nhân duyên ấy mà được tướng thân sắc vàng, tướng thân thường sáng, tướng răng trắng, tướng khoảng giữa lông mi có sợi lông trắng.

Nếu nghe người ta ca ngợi đức tính của mình thì không sinh lòng kiêu mạn, dấu diếm việc lành không cho người khác biết, nhờ nhân duyên ấy mà được tướng mã tàng.

Phàm tu các việc lành đều hồi hướng cho đạo Bồ Đề, vì thế mà được tướng lông trong mình đều xoay về bên phải, tướng trong miệng có 40 chiếc răng; tướng khi ăn thấy mùi vị thượng hảo.

Nhờ nhân duyên siêng tu tinh tiến nên được tướng hàm vuông như hàm sư tử, tướng nửa mình trên như mình sư tử.

Dốc lòng thương nhớ hết thảy chúng sinh như mẹ thương con, nhờ nhân duyên ấy mà được tướng răng nhỏ và bằng phẳng, tướng mắt xanh biếc như mắt Ngưu Vương.

Nhờ tu tập các pháp lành không biết chán nản cho nên được các tướng khác.

Các Bậc Bồ Tát khi y vào tịnh hạnh mà tu 32 tướng tốt, khi các nghiệp đã được thanh tịnh, tuy có 32 tướng tốt như thế nhưng chưa đầy đủ, chưa được hoàn toàn trong sáng. Bồ Tát còn phải tu theo 13 hạnh để thấu suốt đầy đủ hết thảy các pháp của Phật”. Trong vô lượng tướng, chúng sinh không giống nhau, có Thượng, Trung và Hạ không thể nghĩ bàn. Bởi thế Phật nói, trong 32 tướng, đem công đức tích góp hợp hết thảy chúng sinh mà so sánh thì mới chỉ bằng cái tướng mảy lông của Như Lai. Hết thảy các lỗ chân lông đều có công đức, chứa góp hòa hợp mà thành một vẻ đẹp, rồi tập hợp công đức của 80 vẻ đẹp tăng gấp trăm lần mới thành một tướng. Duy có hai tướng Bạch Hào và Nhục Kế thì phải tập hợp hết thảy các tướng khác, tăng đến nghìn lần mối thành được hai tướng đó. Bởi đem hòa hợp hết thảy công đức, đem hết công đức của 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp tăng lên nghìn vạn ức lần mới thành được cái tướng Lôi Âm của Như Lai mà âm vang xa thẩm đến vô lượng vô biên thế giới của Chư Phật nhiều như vi trần cũng đều nghe thấy. Vì làm lợi ích cho chúng sinh mà Bồ Tát tu hạnh đại từ bi, nhớ ơn đền ơn, tu tập các pháp sâu xa mầu nhiệm khó thể nghĩ bàn và các tướng tốt vi diệu như thế. Trong mỗi tướng có thể làm lợi ích cho vô lượng trăm nghìn vạn ức chúng sinh, khiến cho đều mở lòng Bồ Đề, lần lượt tu tập đầy đủ công đức cho thành được 32 tướng tốt đẹp. Khi có đủ các tướng tốt đẹp rồi, đều khiến đi đến gốc cây Bồ Đề, hàng phục ma quân chứng thành Phật quả, quay bánh xe Chánh Pháp, độ cho chúng sinh qua khỏi bể khổ, ngu si, sinh tử mà lên bờ giác ngộ, giải thoát yên vui để thành tựu công việc lợi ích cho hết thảy chúng sinh”.

Qua đó, ta thấy, các TƯỚNG này toàn là kết quả của những việc tốt, đâu có gì là linh thiêng, huyền bí mà “Mắt phàm không thể nhìn thấy” như những người không đọc hết Kinh sách đã tưởng tượng rồi lấy vàng, ngọc, đá, xi măng tạc ngày càng to để thờ!

Tóm lại: Qua những gì mà người tu Phật được hướng dẫn phải hành trì, cũng như các Quả Vị, Bồ Tát, Phật mà ai chứng đắc được xem như là như những vị Thánh nhân cao cả. Rồi những Cõi Phật thanh tịnh, trang nghiêm, được trang hoàng toàn bằng châu báu, thỏa mắt, vừa tai v.v… không ngoài mục đích để con người ham thích được “Siêu Phàm, nhập Thánh” mà ngưng làm việc ác, hành các hạnh lành, nhờ vậy mà Thân, Tâm được an lạc. 32 Tướng Tốt trích dẫn trên cũng là những việc mà người tốt phải làm, đâu phải là của Phật cao cả, ở cõi trời nào? Niết Bàn cũng chỉ có nghĩa là “Ra khỏi rừng Phiền Não”, nói về sự an lạc sau khi Xả hết những dính mắc, chấp nhất các tướng hữu vi.

Khi người tu đã điều phục được cái Phàm Tâm của mình, không còn Tham, Sân, Si khi đối pháp, cũng không xâm phạm những gì không thuộc về mình. Lúc nào cũng giữ gìn Thân, Khẩu, Ý cho thanh tịnh, thì sẽ đạt được sự an ổn tại cuộc sống hiện tại gọi là “Hữu Dư Y Niết Bàn” mà có Kinh gọi là VIÊN NHƯ Ý BỬU CHÂU, vì mọi thứ đều được như mong muốn, đâu có đợi chết rồi mới đến được Cõi Tịnh Độ của Phật.

Tất nhiên, khi một người một đời sống thuần thiện. Ngay cả ý tưởng Ác cũng không còn, thì không cớ gì phải đọa Địa Ngục sau khi qua đời? Trái lại, khi bỏ cái Thân Phàm, thì phần Thần Thức của mỗi chúng ta sẽ trở về cùng với Hư Không bằng hình thức những Dòng Pháp, hay là những loại Khí. Theo hàng Tiên Đạo luận, thì loại nào cùng tính chất thì sẽ hội tụ với nhau. Như mây sẽ bay lên cao, đất đá sẽ chìm xuống. Thanh Khí sẽ về với Thanh Khí. Trọc Khí thì nặng hơn, sẽ ở cùng giai tầng với nhau là điều hiển nhiên. Đời cũng như Đạo đều có thể hiểu được. Cũng giống như người đời. Những người có cùng sở thích sẽ đến với nhau. Kể cả ra nước ngoài thì họ cũng sẽ tụ tập thành nhóm, sinh hoạt chung với nhau thì mới hợp. Người thanh cao tao nhã khó thể ở chung với những người ô tạp, ăn tục, nói phét. Chư Phật, Chư Thánh thì đã thoát tục, không còn những phàm tánh. Do vậy, nếu ta cùng tu các Hạnh giống như các Ngài. Cùng thanh lọc bằng cùng một công thức, đương nhiên kết quả đạt được sẽ không khác gì nhau. Đó là lý do Phật dạy: “Phật trước Phật sau đều bình đẳng”.

Tổng kết những việc Đạo Phật giải thích cũng như những điều người tu phải làm, kết quả đạt được, ta thấy không hề đưa đến việc tôn sùng, thờ phụng Giáo Chủ, hoặc người tu sẽ thành Thánh nhân, thoát phàm, lên ở một cõi trời thanh cao nào, mà chỉ nhằm mục đích đưa người thực hiện có một cuộc sống tốt đẹp hơn lên. Quá trình tu tập là một hành trình chuyển đối nhận thức, hành vi. Từ một người chỉ biết mọi thứ qua những gì cái Thân thu nhận qua Lục Căn, cho đó là kiếp sống, rồi lúc nào cũng phải bị động trước những sự tấn công của các pháp. Như thế là BỊ SỐNG, bị “Pháp Chuyển”. Cho vui thì được vui. Bắt buồn thì phải buồn. Người tu Phật là người tìm xét về Các Pháp, về cái THÂN, TÂM của mình, để thấy CÁI THÂN chỉ là vật mà mình sở hữu, không phải là MÌNH. Những điều mình từng đánh giá, nhận định, cân đo bằng Mắt Thấy, Tai Nghe là dựa vào cái THÂN, mà cái THÂN thì Giả tạm, Vô Thường, thấy đó rồi thời gian sau lại mất đi, không phải là THẬT MÌNH, rồi theo hướng dẫn của Đạo Phật dấn thân đi tìm cái MÌNH THẬT và sống với nó.

Khi chưa biết đến Đạo Phật thì “Đời là Bể Khổ”, “cái Thân là oán tặc”, vì chính nó và 5 tên giặc Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Ý, làm thành nhóm LỤC TẶC, lúc nào cũng mang ngoại pháp vào làm rối loạn cái Tâm. Nhờ nương Giáo Pháp của Đạo Phật rồi Tư Duy, Soi Quán, cuối cùng tìm lại được cái Thật Mình. Từ đó người tu sẽ chuyển hóa các pháp. Chuyển Mê thành Ngộ. Biến Nghiệp thành Nguyện. Chủ động lấy cuộc sống. Từ đó cái Thân trở thành ân nhân, trở thành chiếc bè để người tu dùng nó mà bơi khỏi biển Sinh Tử. Lục Tặc biến thành Lục Hộ Pháp, vì cũng nhờ có Tai để nghe giảng dạy, Mắt đọc Kinh, Sách để thắm nhuần lời giáo hóa của Chư Vị Giác Ngộ đi trước. Có Thân mới thực hành được các pháp lành. Lúc đó trần gian đã biến thành cõi an vui, gọi là Hữu Dư Y Niết Bàn. Người tu từ đó có thể “Đồng sự nhiếp” hòa vào dòng Nguyện của Chư Vị đi trước, giúp cho những người chưa tỉnh, gọi là “Mồi ngọn Vô tận Đăng”, để mọi người cùng tiếp nhận được ánh sáng mà thoát ra khỏi bóng tối Vô Minh, không còn bị Pháp KHỔ vùi dập.

Tóm lại, PHẬT có nghĩa là GIẢI THOÁT. Tu Phật là một chuỗi công việc mà mỗi người phải tự thân vận động để được hưởng kết quả Giải Thoát. Kết quả này không đưa đến việc tôn thờ, sùng phụng ai, kể cả Giáo Chủ đã sáng tạo ra Đạo. Trái lại, tu hành là để đạt đến địa vị Giải Thoát giống như người đã sáng lập Đạo. Do đó, ta có thể kết luận rằng ĐẠO PHẬT KHÔNG PHẢI LÀ MỘT TÔN GIÁO, dù hình thức cũng giống như tổ chức của một Tôn Giáo. Cũng có Giáo Chủ, Giáo Pháp, Tín Đồ, nhưng xem kỹ thì đó chỉ là Giáo Trình được Đức Thích Ca dùng nhiều phương tiện để Thiện Hóa con người mà thôi.

Trong khi các Tôn Giáo khác thì tín đồ thánh thiện lắm cũng phải đợi sau khi qua đời mới được về quốc độ của Giáo Chủ để được ban thưởng, thì tín đồ của Đạo Phật được gọi là PHẬT TỬ, tức là Con của Phật. “Con Phật thì sẽ được Thành Phật”, và thành tựu ngay tại hiện kiếp, cho ta thấy sự bình đẳng của một Giáo Pháp. Không hứa hẹn kiếp khác. Không phân chia giới tính, giai cấp, sang, hèn, học ít, học nhiều, già hay trẻ. Người tu cũng không làm tốt để kể công với Giáo Chủ, mà thanh lọc được nhiều hay ít thì tự bản thân được nhờ mà thôi. Mỗi người được hướng dẫn để tự giác mà cải tạo bản thân, từ hành vi, lời nói, cho đến cả ý nghĩ.

Qua đó, tôi thấy đây rõ ràng là một phương pháp giáo dục rất cần thiết cho con người, mà nếu nhân rộng ra thì không chỉ gia đình, người chung quanh mà tất cả xã hội đều được nhờ, vì mỗi người không chỉ thanh lọc lấy mình mà còn biết tôn trọng, yêu thương người khác, làm tròn trách nhiệm của một con người. Biết Từ, Bi, Hỉ, Xả và biết đền đáp TỨ ÂN, là những điều mà một con người chân chính phải thực hiện. Kết quả cuối cùng không phải là để thành Thánh, thành Tiên, thành Thần, rồi bay về cõi nào, mà chỉ để trở thành một con người hoàn hảo, sống giữa mọi người, giữa cảnh đời đầy phiền não, mà không còn bị phiền não nhiễu hại, đúng như hình ảnh HOA SEN mà Đạo Phật dùng làm biểu tượng. Một Giáo Pháp nói toàn chuyện cao siêu, lớn lao: Thánh Chúng, Bồ Tát, PHẬT, 32 Tướng Tốt, 80 vẻ đẹp, quyền phép vô biên, ngồi trên Tòa Sen để cứu độ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Tây Phương Cực Lạc, Đông Phương Tịnh Quốc v.v… Nhưng cuối cùng chỉ là để quy về công việc “Nội quang phản chiếu”, “Phản Vọng, quy Chân”, “Chuyển hóa Thân, Tâm” mà mỗi người tu phải TỰ THÀNH PHẬT, TỰ CỨU ĐỘ CHÚNG SINH CỦA MÌNH để tự mình được THOÁT KHỔ, THOÁT PHIỀN NÃO đúng như mục đích ĐỘ KHỔ của Đạo Phật.

Như thế, xét về mặt ảnh hưởng thì Đạo Phật dù ra đời cách đây cả 3.000 năm, nhưng rõ ràng là một phương pháp giáo dục cực kỳ siêu đẳng, sành tâm lý con người nên có thể vừa thuyết phục, vừa hứa hẹn để con người từ bóng tối bước ra ánh sáng. Từ phiền não trở thành an lạc mà vẫn không rời bỏ trách nhiệm của mình đối với cuộc đời. Tiếc thay rất nhiều người đã không đọc hết trình tự của Đạo Phật, mới vừa nghe nói Quả Vị, Cõi Nước Phật đầy dẫy châu báu đã vội bỏ hết việc đời, bỏ hết mọi trách nhiệm của một con người để chuyên tâm Tụng Kinh, Niệm Phật mong về đó! Đó là một sự hiểu lầm từ bao nhiêu thế hệ làm phí bao nhiêu sức trẻ, tài năng, sức đóng góp của con người đối với xã hội, với cuộc đời. Tôi mong rằng những người mến mộ Phật và Đạo Phật thời sau này chịu khó để thì giờ đọc kỹ lời dạy của Phật, để những hiểu lầm được xóa bỏ, trả lại cho Đạo Phật những gì đúng như người sáng lập mong mỏi: Thay vì đầu tròn, áo vuông thì hãy giữ Thân, Tâm cho ngay chính. Thay vì cạo tóc thì hãy cạo sạch Phiền Não. Thay vì bỏ hết mọi việc, không thiết làm ăn, sinh sống, chờ mọi người cung dưỡng cho, để hết thì giờ Tụng Kinh, Niệm Phật, thì hãy tự gây tạo cuộc sống để không mắc nợ Nhân Quả, đồng thời tiếp tay với xã hội để đưa đất nước đi lên. Thay vì tạc tượng bằng vàng, đồng, ngọc, xi măng để tốn tiền của bá tánh một cách vô ích thì quay vào tạc nơi Thân, Tâm của chính bản thân. Thay vì cất Chùa chiền hoành tráng thì tự xây Chùa nơi Tâm của mình. Biến đất Tâm thành Thanh Tịnh Địa để Phật ngự nơi đó. Thay vì Cầu xin Phật, trong khi Phật không có khả năng để ban phúc, giáng họa cho ai, thì tin vào Nhân Quả để sống một cách tốt đẹp hơn. Đó là những gì được ghi lại trong Chính Kinh mà tôi đã để khá nhiều năm, đọc hầu hết những Bộ Chính Kinh để đúc kết, cuối cùng đưa đến kết luận là ĐẠO PHẬT KHÔNG PHẢI LÀ MỘT TÔN GIÁO mà chỉ là một phương pháp để giáo dục con người, để con người được Sống trong Phàm mà Thoát Phàm. Sống trong Phiền Não mà Phiền não không còn nhiễu hại”, được hạnh phúc, an lạc, trong kiếp sống gọi là Hữu Dư Y Niết Bàn vậy.


Tháng 4 năm 2016



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 28.7.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004